Tóm tắt: Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, các khu chế xuất tại thành phố Hồ Chí Minh đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, tạo việc làm và thu hút đầu tư. Thực tiễn cho thấy, vẫn còn những doanh nghiệp chưa tuân thủ nghiêm các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường. Bài viết nhgiên cứu và đề xuất một số giải pháp nâng cao trách nhiệm pháp lý của các doanh nghiệp trong bảo đảm quyền con người được sống trong môi trường trong lành tại các khu chế xuất ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.
Từ khóa: Trách nhiệm; doanh nghiệp; quyền con người; môi trường; khu chế xuất; thành phố Hồ Chí Minh.
Abstract: In the context of industrialization and modernization, export processing zones in Ho Chi Minh City play a crucial role in socio-economic development, job creation, and investment attraction. In practice, some businesses still do not strictly comply with environmental protection laws. This article examines and proposes solutions to strengthen the legal responsibilities of businesses in ensuring the human right to a clean and healthy environment in export processing zones in Ho Chi Minh City today.
Keywords: Responsibility; businesses; human rights; environment; export processing zones; Ho Chi Minh City.

Ảnh minh họa. Nguồn: tphcm.chinhphu.vn
Đặt vấn đề
Trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội mạnh mẽ, các khu chế xuất tại thành phố Hồ Chí Minh đã và đang đóng vai trò quan trọng trong thu hút đầu tư, giải quyết việc làm và thúc đẩy tăng trưởng công nghiệp. Tuy nhiên, quá trình hoạt động sản xuất tại các khu chế xuất cũng đặt ra nhiều thách thức đối với vấn đề môi trường và quyền con người, đặc biệt là quyền được sống trong môi trường trong lành - một trong những quyền cơ bản được pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam thừa nhận, bảo vệ. Trên thực tế, vẫn còn tình trạng một số doanh nghiệp chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm pháp lý trong bảo vệ môi trường, gây ô nhiễm không khí, nguồn nước và ảnh hưởng đến sức khỏe, đời sống người lao động cũng như cộng đồng dân cư xung quanh. Trước yêu cầu phát triển bền vững và thực thi các cam kết quốc tế về quyền con người, việc nâng cao trách nhiệm pháp lý của các doanh nghiệp trong bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành là vấn đề cấp thiết, cần được nhận diện và có giải pháp phù hợp.
1. Yêu cầu cấp thiết nâng cao trách nhiệm pháp lý của các doanh nghiệp trong bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành tại các khu chế xuất ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Theo khoản 2 Điều 2 Nghị định số 35/2022/NĐ-CP ngày 28/5/2022 của Chính phủ “Quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế” thì: “Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, cung ứng dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu; được ngăn cách với khu vực bên ngoài theo quy định áp dụng đối với khu phi thuế quan quy định tại pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu” (Chính phủ, 2022, tr.2).
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước, hiện nay, có 03 khu chế xuất (bao gồm Khu chế xuất Tân Thuận, Khu chế xuất Linh Trung I và Khu chế xuất Linh Trung II). Các khu chế xuất đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố. Khu chế xuất thu hút nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tạo việc làm cho hàng trăm nghìn lao động. Đồng thời, khu chế xuất góp phần nâng cao năng lực sản xuất, chuyển giao công nghệ và mở rộng thị trường xuất khẩu. Ngoài ra, hoạt động của khu chế xuất thúc đẩy phát triển cơ sở hạ tầng, dịch vụ hỗ trợ và tăng nguồn thu ngân sách. Nhờ đó, khu chế xuất trở thành động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng bền vững của thành phố.
Trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội hiện đại, quyền con người không chỉ là một giá trị đạo đức mà còn là một quyền cơ bản được Hiến pháp và pháp luật Việt Nam bảo đảm. Khoản 1, Điều 14 Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Trong đó, quyền con người được sống trong môi trường trong lành là một trong những quyền cơ bản và được ghi rõ tại Điều 43 Hiến pháp năm 2013: “Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường”. Quyền được sống trong môi trường trong lành được hiểu là quyền của mỗi cá nhân được sống, làm việc và phát triển trong một môi trường tự nhiên có không khí trong sạch, nguồn nước an toàn, hệ sinh thái cân bằng, cảnh quan thiên nhiên được bảo vệ, không bị ô nhiễm hay đe dọa bởi các yếu tố gây hại từ hoạt động của con người hoặc thiên nhiên. Về bản chất, quyền được sống trong môi trường trong lành không chỉ mang ý nghĩa bảo đảm điều kiện sinh tồn vật chất, mà còn gắn với quyền được hưởng thụ các giá trị tinh thần, văn hóa, góp phần hình thành chất lượng cuộc sống toàn diện. Quyền này gắn chặt với các quyền con người khác như quyền được sống, quyền được chăm sóc sức khỏe, quyền được hưởng an sinh xã hội. Nếu môi trường bị ô nhiễm, suy thoái thì không gian sống của con người bị đe dọa, kéo theo nhiều hệ lụy về kinh tế, xã hội, sức khỏe... Nhận thức được tầm quan trọng của quyền con người được sống trong môi trường trong lành đối với sự phát triển bền vững của đất nước, Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng khẳng định: “Lấy bảo vệ môi trường sống và sức khỏe nhân dân làm mục tiêu hàng đầu; kiên quyết loại bỏ những dự án gây ô nhiễm môi trường, bảo đảm chất lượng môi trường sống, bảo vệ đa dạng sinh học và hệ sinh thái; xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thân thiện với môi trường” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập 2, tr.330-331).
Trong bối cảnh hiện nay, việc nâng cao trách nhiệm pháp lý của cách doanh nghiệp trong bảo đảm quyền con người nói chung, quyền con người được sống trong môi trường trong lành nói riêng tại các khu chế xuất ở thành phố Hồ Chí Minh không chỉ là nhu cầu cấp thiết của thực tiễn, mà còn là yêu cầu bắt buộc trong tiến trình phát triển bền vững của đất nước nói chung, của thành phố Hồ Chí Minh nói riêng.
Thứ nhất, xuất phát từ thực trạng ô nhiễm môi trường tại các khu chế xuất và ảnh hưởng tiêu cực tới quyền sống trong môi trường trong lành của người dân.
Trong những năm vừa qua, tại một số doanh nhiệp tại các khu chế xuất ở thành phố Hồ Chí Minh vẫn còn ghi nhận tình trạng doanh nghiệp xả thải chưa qua xử lý hoặc xử lý không đạt chuẩn ra môi trường. Nước thải chưa được giám sát chặt chẽ, khí thải độc hại phát sinh từ các dây chuyền sản xuất, rác thải công nghiệp không được phân loại đúng quy định đang tác động trực tiếp đến sức khỏe của cộng đồng cư dân sống xung quanh. Điều này không chỉ gây ô nhiễm mà còn xâm phạm nghiêm trọng đến quyền sống, quyền được hít thở không khí sạch, sử dụng nước sạch và hưởng một cuộc sống an toàn. Do đó, nâng cao trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp là điều cấp thiết nhằm ngăn chặn, răn đe và buộc doanh nghiệp phải tuân thủ các chuẩn mực bảo vệ môi trường.
Thứ hai, xuất phát từ yêu cầu đảm bảo sự công bằng trong tiếp cận và thụ hưởng quyền con người giữa các nhóm dân cư, đặc biệt là công nhân và người lao động nghèo tại khu chế xuất.
Công nhân làm việc và sinh sống gần các khu chế xuất là nhóm dễ bị tổn thương nhất trước tình trạng ô nhiễm môi trường do doanh nghiệp gây ra. Họ phải làm việc trong điều kiện nhiều tiếng ồn, khí thải, hóa chất độc hại; đồng thời sinh sống tại những khu nhà trọ, gần các khu công nghiệp nên ít có khả năng tránh tác động tiêu cực. Trong khi đó, các nhóm dân cư có điều kiện kinh tế tốt hơn có thể lựa chọn nơi ở xa nguồn ô nhiễm hoặc sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tốt hơn. Sự chênh lệch này tạo nên bất bình đẳng trong việc tiếp cận và thụ hưởng quyền con người, đi ngược lại nguyên tắc bình đẳng vốn được pháp luật và xã hội đề cao. Nâng cao trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp chính là nhằm khắc phục tình trạng bất bình đẳng đó. Khi doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm rõ ràng về các tác động môi trường, họ sẽ buộc phải điều chỉnh quy trình sản xuất, hạn chế chất thải, tạo điều kiện làm việc an toàn hơn cho người lao động. Bên cạnh đó, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp còn thể hiện ở việc tham gia cải thiện điều kiện sống cho công nhân, góp phần thu hẹp khoảng cách trong thụ hưởng quyền con người giữa các tầng lớp. Do vậy, yêu cầu này không chỉ có ý nghĩa bảo vệ sức khỏe cộng đồng, mà còn gắn với mục tiêu công bằng xã hội - một trong những nguyên tắc cơ bản của phát triển bền vững.
Thứ ba, xuất phát từ yêu cầu hội nhập quốc tế và cam kết của Việt Nam trong bảo vệ quyền con người và phát triển bền vững.
Việt Nam là thành viên của nhiều công ước quốc tế về quyền con người, về môi trường và phát triển bền vững, đồng thời đã cam kết thực hiện các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs) của Liên hợp quốc. Trong đó, quyền con người được sống trong môi trường trong lành gắn liền với mục tiêu về sức khỏe, bình đẳng, công bằng và bảo vệ hệ sinh thái. Các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (CPTPP, EVFTA...) mà Việt Nam tham gia cũng đặt ra những tiêu chuẩn khắt khe về lao động, môi trường, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Nếu không nâng cao trách nhiệm pháp lý và thực hiện đúng cam kết, doanh nghiệp Việt Nam có thể đối mặt với nguy cơ bị chế tài, mất uy tín, giảm sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Ngược lại, việc nâng cao trách nhiệm pháp lý trong bảo vệ môi trường sẽ giúp doanh nghiệp thể hiện hình ảnh hiện đại, nhân văn, góp phần nâng cao uy tín quốc gia trong hội nhập quốc tế. Điều này không chỉ bảo đảm tuân thủ các chuẩn mực toàn cầu, mà còn tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển lâu dài, bền vững của nền kinh tế Việt Nam.
Tóm lại, việc nâng cao trách nhiệm pháp lý của các doanh nghiệp trong bảo đảm quyền con người được sống trong môi trường trong lành tại các khu chế xuất ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay là yêu cầu khách quan. Điều này xuất phát từ thực tiễn ô nhiễm môi trường tại các khu chế xuất, từ đòi hỏi công bằng xã hội và từ cam kết hội nhập quốc tế của Việt Nam. Chỉ khi doanh nghiệp thực hiện đúng và đầy đủ trách nhiệm pháp lý, kết hợp với sự giám sát chặt chẽ của Nhà nước và cộng đồng, quyền con người trong lĩnh vực môi trường mới được bảo đảm, góp phần xây dựng một xã hội phát triển bền vững, công bằng và văn minh.
2. Thực trạng về trách nhiệm pháp lý của các doanh nghiệp trong bảo đảm quyền con người được sống trong môi trường trong lành tại các khu chế xuất ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
a) Những kết quả đạt được
Trong những năm gần đây, thành phố Hồ Chí Minh đã ghi nhận những chuyển biến tích cực về trách nhiệm pháp lý của các doanh nghiệp tại các khu chế xuất trong việc bảo đảm quyền con người được sống trong môi trường trong lành. Những tiến bộ này không chỉ khẳng định vai trò ngày càng quan trọng của doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người, mà còn mở ra triển vọng phát triển bền vững cho các khu chế xuất tại thành phố Hồ Chí Minh trong tương lai.
Thứ nhất, các doanh nghiệp trong khu chế xuất đã từng bước hoàn thiện hệ thống quy định nội bộ gắn với yêu cầu pháp lý về bảo vệ môi trường. Nhiều doanh nghiệp đã ban hành quy chế nội bộ, tiêu chuẩn vận hành sản xuất bảo đảm kiểm soát chặt chẽ các yếu tố phát sinh chất thải, khí thải, tiếng ồn... theo đúng Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và các quy định liên quan. Đặc biệt, thông qua việc xây dựng bộ quy tắc đạo đức kinh doanh gắn với quyền con người, một số doanh nghiệp FDI đã chủ động lồng ghép nội dung bảo đảm môi trường sống trong lành như một phần trách nhiệm pháp lý và đạo đức. Sự chuyển biến này góp phần làm rõ cam kết tôn trọng quyền con người trong thực tiễn sản xuất tại các khu chế xuất vốn có nguy cơ cao về ô nhiễm môi trường.
Thứ hai, các doanh nghiệp có phát sinh khí thải, bụi, mùi hôi từ lò hơi, lò đốt... đều lắp đặt hệ thống xử lý. Chất thải rắn sinh hoạt, chất thải công nghiệp thông thường phát sinh chủ yếu là thực phẩm thừa, bao bì carton, giấy vụn... được thu gom, xử lý đúng quy định. Đến nay, cơ bản các khu chế xuất, khu công nghiệp trên địa bàn đã lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải tự động” (Minh Hải, 2025). Những bước đi này không chỉ thể hiện trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp mà còn phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về quyền con người và phát triển bền vững.
Thứ ba, “ý thức chấp hành các quy định về bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp ngày càng được nâng cao” (Nguyễn Quỳnh, 2022). Nhiều doanh nghiệp đã làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ môi trường cho cán bộ, công nhân viên; đồng thời chủ động hợp tác với cơ quan chức năng trong các đợt thanh tra, kiểm tra môi trường. Việc tuân thủ các nghĩa vụ báo cáo đánh giá tác động môi trường, kế hoạch bảo vệ môi trường và công khai thông tin môi trường đã trở thành một phần trong quản trị doanh nghiệp. Điều này cho thấy sự trưởng thành trong cách tiếp cận trách nhiệm pháp lý, không chỉ dừng ở việc tránh vi phạm mà hướng đến việc bảo vệ quyền sống trong môi trường trong lành của người dân và người lao động.
b) Một số tồn tại, hạn chế
Thực tiễn tại các khu chế xuất ở thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, bên cạnh những kết quả đã đạt được, vẫn còn có những hạn chế trong việc thực thi trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp đối với quyền con người, đặc biệt là quyền được sống trong môi trường trong lành. Những hạn chế này thể hiện rõ qua một số khía cạnh sau:
Thứ nhất, một số doanh nghiệp chưa tuân thủ đầy đủ các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường, đặc biệt là trong xử lý chất thải và khí thải. Dù hệ thống pháp luật đã quy định rõ trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc áp dụng công nghệ xử lý đạt chuẩn, nhưng vẫn còn tình trạng xả thải vượt quy chuẩn kỹ thuật, sử dụng dây chuyền sản xuất lạc hậu gây ô nhiễm không khí, nước và đất. Theo Ban Quản lý các Khu chế xuất và công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh, “vẫn còn tình trạng doanh nghiệp không thực hiện pháp lý môi trường theo quy định. Một số công ty hạ tầng chưa quan tâm đến kiểm tra, giám sát nước thải với doanh nghiệp thứ cấp, chưa có kế hoạch giám sát nước thải định kỳ hằng năm” (Nguyễn Quỳnh, 2022).
Thứ hai, việc thực hiện trách nhiệm xã hội và minh bạch thông tin môi trường của một số doanh nghiệp còn hạn chế. Không ít doanh nghiệp chỉ chú trọng đến lợi nhuận, chưa đầu tư thỏa đáng cho các hoạt động bảo vệ môi trường, cũng như chưa chủ động công bố công khai số liệu quan trắc khí thải, nước thải hay báo cáo đánh giá tác động môi trường. Điều này không chỉ làm giảm tính minh bạch mà còn hạn chế quyền tiếp cận thông tin của cộng đồng, gây khó khăn cho người dân và cơ quan quản lý trong việc giám sát, phản biện.
Thứ ba, năng lực và nguồn lực dành cho công tác bảo vệ môi trường của nhiều doanh nghiệp tại các khu chế xuất vẫn chưa đáp ứng yêu cầu. Theo Ban Quản lý các Khu chế xuất và công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh, “nhân sự phụ trách bảo vệ môi trường tại một số khu chế xuất, khu công nghiệp chưa đảm bảo kiểm soát được vấn đề phát sinh đột xuất” (Sỹ Đông, 2025). Một số doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, thiếu vốn đầu tư vào công nghệ sản xuất sạch, hệ thống xử lý chất thải hiện đại. Cùng với đó, việc tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, công nhân về trách nhiệm pháp lý và nghĩa vụ bảo vệ môi trường chưa được chú trọng đúng mức. Điều này dẫn đến hiệu quả triển khai các biện pháp giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường còn thấp, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền con người được sống trong môi trường trong lành.
3. Một số giải pháp nâng cao trách nhiệm pháp lý của các doanh nghiệp trong bảo đảm quyền con người được sống trong môi trường trong lành tại các khu chế xuất ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
a) Hoàn thiện và thực thi nghiêm các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường trong khu chế xuất
Trước áp lực gia tăng từ hoạt động sản xuất công nghiệp tại các khu chế xuất ở thành phố Hồ Chí Minh, việc hoàn thiện và thực thi nghiêm các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm quyền con người được sống trong môi trường trong lành. Trước hết, cần rà soát, sửa đổi và bổ sung kịp thời các quy định pháp luật liên quan để phù hợp với thực tiễn hoạt động tại các khu chế xuất. Hệ thống pháp luật cần quy định rõ ràng hơn về tiêu chuẩn khí thải, nước thải, tiếng ồn; nghĩa vụ quan trắc định kỳ; trách nhiệm xử lý chất thải nguy hại của doanh nghiệp... Đồng thời, cần bổ sung các quy định về công khai thông tin môi trường để người dân, tổ chức xã hội và cơ quan báo chí có thể giám sát, qua đó tạo sức ép buộc doanh nghiệp tuân thủ.
Bên cạnh đó, công tác tổ chức thực thi pháp luật phải được triển khai đồng bộ, chặt chẽ và không có ngoại lệ. Các cơ quan chức năng cần tăng cường thanh tra, kiểm tra đột xuất đối với doanh nghiệp trong khu chế xuất, đặc biệt là những ngành có nguy cơ gây ô nhiễm cao. Khi phát hiện vi phạm, cần xử lý nghiêm minh, áp dụng mức phạt đủ sức răn đe, bao gồm cả đình chỉ hoạt động, thu hồi giấy phép hoặc buộc bồi thường thiệt hại cho cộng đồng. Việc ứng dụng công nghệ trong giám sát môi trường như hệ thống quan trắc tự động, camera giám sát xả thải kết nối trực tuyến với cơ quan quản lý sẽ giúp phát hiện nhanh và ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm.
Ngoài ra, để các quy định pháp luật đi vào cuộc sống, cần tăng cường phối hợp giữa Ban Quản lý các Khu chế xuất và công nghiệp, Sở Nông nghiệp và Môi trường, cơ quan công an cùng chính quyền địa phương. Sự phối hợp này không chỉ giúp xử lý hiệu quả vi phạm mà còn hỗ trợ doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn về kỹ thuật xử lý chất thải, tiếp cận nguồn vốn cải tiến công nghệ thân thiện với môi trường. Đồng thời, cần có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp áp dụng hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn quốc tế, gắn trách nhiệm bảo vệ môi trường với lợi ích kinh tế thông qua các ưu đãi về thuế, tín dụng xanh và quảng bá thương hiệu.
b) Yêu cầu doanh nghiệp xây dựng và triển khai hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn quốc tế
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, việc bảo đảm quyền con người được sống trong môi trường trong lành tại các khu chế xuất ở thành phố Hồ Chí Minh đòi hỏi doanh nghiệp không chỉ tuân thủ các quy định pháp luật trong nước mà còn phải đáp ứng các chuẩn mực quốc tế về bảo vệ môi trường. Một trong những giải pháp quan trọng là yêu cầu doanh nghiệp xây dựng và triển khai hệ thống quản lý môi trường (Environmental Management System - EMS) theo các tiêu chuẩn quốc tế như ISO 14001. Đây là công cụ giúp doanh nghiệp quản lý toàn diện các yếu tố môi trường phát sinh trong quá trình sản xuất, từ đó giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường và cộng đồng xung quanh.
Việc áp dụng tiêu chuẩn quốc tế về quản lý môi trường sẽ tạo nền tảng để doanh nghiệp vận hành theo quy trình khoa học, có hệ thống, đảm bảo kiểm soát tốt các nguồn thải, tiết kiệm tài nguyên và năng lượng. Thông qua đó, doanh nghiệp không chỉ đáp ứng yêu cầu pháp lý của Việt Nam mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu khắt khe từ các thị trường xuất khẩu, đặc biệt là những thị trường chú trọng yếu tố phát triển bền vững. Điều này mang lại lợi ích kép: vừa nâng cao uy tín và thương hiệu doanh nghiệp, vừa góp phần hiện thực hóa quyền con người được sống trong môi trường trong lành.
Để hệ thống quản lý môi trường thực sự hiệu quả, doanh nghiệp cần triển khai đồng bộ các nội dung: đánh giá tác động môi trường định kỳ; áp dụng các công nghệ sản xuất sạch hơn; thiết lập cơ chế giám sát, đo lường và báo cáo minh bạch các chỉ số môi trường; tổ chức đào tạo nâng cao nhận thức và kỹ năng cho cán bộ, công nhân viên về bảo vệ môi trường. Cùng với đó, doanh nghiệp cần phối hợp chặt chẽ với cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức xã hội và cộng đồng dân cư trong việc phòng ngừa, ứng phó và khắc phục sự cố môi trường, bảo đảm mọi hoạt động sản xuất đều hướng tới nguyên tắc phát triển bền vững.
c) Tăng cường trách nhiệm xã hội và minh bạch thông tin môi trường
Để bảo đảm quyền con người được sống trong môi trường trong lành tại các khu chế xuất ở thành phố Hồ Chí Minh, việc tăng cường trách nhiệm xã hội và minh bạch thông tin môi trường của doanh nghiệp là yêu cầu cấp thiết.
Trước hết, cần “phát huy ý thức tuân thủ pháp luật, thực hiện tốt trách nhiệm xã hội về môi trường của các doanh nghiệp. Nâng cao nhận thức, hiểu biết về kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, kinh tế các-bon thấp; khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện các tiêu chuẩn, cam kết tự nguyện về môi trường” (Thủ tướng Chính phủ, 2022, tr.13). Việc này đòi hỏi doanh nghiệp phải xây dựng chiến lược phát triển bền vững, tích hợp yếu tố bảo vệ môi trường vào mục tiêu dài hạn, tránh tình trạng “chạy theo” lợi nhuận trước mắt mà bỏ qua các tác động tiêu cực đến môi trường và đời sống người dân.
Cùng với đó, doanh nghiệp cần chủ động công bố công khai các thông tin liên quan đến tác động môi trường của hoạt động sản xuất như lượng khí thải, nước thải, chất thải rắn, các biện pháp xử lý và kết quả quan trắc định kỳ.
Ngoài ra, để trách nhiệm xã hội và minh bạch thông tin môi trường trở thành một chuẩn mực bắt buộc, cần thúc đẩy cơ chế giám sát và phản hồi xã hội. Các doanh nghiệp nên thiết lập kênh tiếp nhận ý kiến, phản ánh từ người lao động, cư dân xung quanh và các tổ chức bảo vệ môi trường; đồng thời phối hợp chặt chẽ với cơ quan quản lý để xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh. Việc định kỳ tổ chức đối thoại giữa doanh nghiệp, chính quyền và cộng đồng dân cư sẽ giúp tăng tính tương tác, đồng thuận, qua đó hình thành văn hóa doanh nghiệp gắn liền với phát triển bền vững.
d) Đầu tư đổi mới công nghệ sản xuất sạch và xử lý chất thải hiện đại
Trong bối cảnh các khu chế xuất ở thành phố Hồ Chí Minh ngày càng gia tăng áp lực về môi trường, việc đầu tư đổi mới công nghệ sản xuất sạch và xây dựng hệ thống xử lý chất thải hiện đại trở thành một yêu cầu tất yếu, gắn liền với trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp. Đây không chỉ là giải pháp góp phần hạn chế những tác động tiêu cực của hoạt động sản xuất đến môi trường và sức khỏe cộng đồng, mà còn là minh chứng rõ ràng cho việc các doanh nghiệp thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ pháp luật, bảo đảm quyền con người được sống trong môi trường trong lành.
Trước hết, các doanh nghiệp cần chú trọng đổi mới công nghệ sản xuất theo hướng thân thiện với môi trường, tiết kiệm nguyên liệu và năng lượng. Công nghệ cũ, lạc hậu chính là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến lượng chất thải lớn, khí thải chưa qua xử lý hoặc xử lý không triệt để, gây ô nhiễm môi trường không khí, nước, đất. Doanh nghiệp cần mạnh dạn loại bỏ các dây chuyền, thiết bị lạc hậu tiêu tốn nhiều năng lượng, phát thải cao; đồng thời “áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ hiện đại và quy trình sản xuất ít chất thải, công nghệ sạch, ít gây ô nhiễm môi trường” (Huyền Diệu, 2022).
Hai là, cần đầu tư xây dựng và vận hành các hệ thống xử lý chất thải hiện đại, đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của pháp luật về bảo vệ môi trường. Trong các khu chế xuất, lượng chất thải rắn, lỏng và khí thải phát sinh hằng ngày là rất lớn, nếu không được xử lý đúng quy trình sẽ dẫn đến nguy cơ gây ô nhiễm nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người dân và công nhân. Do đó, doanh nghiệp phải coi việc lắp đặt, vận hành thường xuyên và bảo dưỡng định kỳ hệ thống xử lý chất thải là trách nhiệm pháp lý bắt buộc, không thể đối phó hay làm qua loa. Cùng với đó, doanh nghiệp cần chủ động áp dụng các phương pháp xử lý tiên tiến như tái chế, tái sử dụng, xử lý bằng công nghệ sinh học hoặc công nghệ tuần hoàn khép kín. Đây chính là bước đi quan trọng để vừa giảm áp lực môi trường, vừa góp phần hình thành nền kinh tế tuần hoàn theo định hướng phát triển bền vững của đất nước.
Ba là, doanh nghiệp phải kết hợp đổi mới công nghệ với công khai minh bạch trong quản lý môi trường, coi đây là thước đo cho sự tuân thủ pháp luật và trách nhiệm xã hội. Thực tế cho thấy, nhiều vi phạm môi trường xuất phát từ việc doanh nghiệp cố tình che giấu thông tin, vận hành hệ thống xử lý chất thải không đúng quy định, hoặc xả thải lén lút ra môi trường. Điều này không chỉ xâm hại nghiêm trọng đến quyền được sống trong môi trường trong lành của cộng đồng, mà còn làm mất uy tín và thương hiệu của chính doanh nghiệp. Vì vậy, việc công khai các báo cáo đánh giá tác động môi trường, kết quả quan trắc chất thải, cũng như tiếp nhận giám sát của cơ quan chức năng và cộng đồng dân cư chính là cách thiết thực để doanh nghiệp khẳng định sự minh bạch và trách nhiệm pháp lý của mình.
e) Tăng cường hợp tác giữa doanh nghiệp, cơ quan quản lý và cộng đồng
Việc tăng cường hợp tác giữa doanh nghiệp, cơ quan quản lý và cộng đồng là giải pháp có ý nghĩa thiết thực góp phần nâng cao trách nhiệm pháp lý của cách doanh nghiệp trong bảo đảm quyền con người được sống trong môi trường trong lành tại các khu chế xuất ở thành phố Hồ Chí Minh. Sự phối hợp này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường mà còn góp phần hình thành một cơ chế giám sát đa chiều, bảo đảm tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của các chủ thể liên quan. Doanh nghiệp cần chủ động phối hợp chặt chẽ với các cơ quan quản lý nhà nước trong việc thực hiện các quy định, tiêu chuẩn môi trường; thường xuyên cung cấp thông tin về tình hình xả thải, xử lý chất thải, kết quả quan trắc môi trường và các biện pháp khắc phục ô nhiễm (nếu có). Cơ quan quản lý, bên cạnh việc kiểm tra, giám sát, cần đồng hành, hướng dẫn doanh nghiệp áp dụng công nghệ xử lý tiên tiến, tuân thủ quy trình sản xuất sạch, đồng thời kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực hiện quy định pháp luật.
Cộng đồng dân cư, các tổ chức xã hội và truyền thông địa phương cũng cần được tham gia sâu hơn vào quá trình bảo vệ môi trường tại khu chế xuất. Doanh nghiệp nên mở rộng các kênh đối thoại, tiếp nhận ý kiến phản ánh của người dân về vấn đề môi trường, tạo điều kiện để cộng đồng tham gia các hoạt động giám sát độc lập và góp ý đối với các giải pháp khắc phục ô nhiễm. Sự hợp tác ba bên này sẽ tạo thành một mạng lưới liên kết chặt chẽ, vừa bảo đảm sự kiểm soát từ phía cơ quan chức năng, vừa thúc đẩy tính chủ động của doanh nghiệp và phát huy vai trò giám sát của xã hội.
Kết luận
Nâng cao trách nhiệm pháp lý của các doanh nghiệp trong bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành tại các khu chế xuất ở thành phố Hồ Chí Minh là yêu cầu tất yếu, vừa mang ý nghĩa pháp lý, vừa là trách nhiệm xã hội. Trong bối cảnh áp lực phát triển kinh tế song hành với thách thức môi trường, việc tuân thủ nghiêm các quy định pháp luật, áp dụng công nghệ sản xuất sạch, minh bạch thông tin môi trường, chủ động hợp tác với cơ quan quản lý và cộng đồng sẽ góp phần giảm thiểu ô nhiễm, bảo vệ sức khỏe người dân và hệ sinh thái. Đồng thời, chính quyền cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm vi phạm, khuyến khích các mô hình kinh doanh xanh. Khi doanh nghiệp đặt lợi ích lâu dài và bền vững lên hàng đầu, quyền được sống trong môi trường trong lành của người dân sẽ được đảm bảo, góp phần xây dựng một thành phố Hồ Chí Minh phát triển năng động, văn minh, thân thiện với môi trường và hội nhập sâu rộng với kinh tế toàn cầu./.
ThS. Nguyễn Thị Xuân Kiêm
Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng
Bài viết được đăng trên Tạp chí Pháp luật về quyền con người số 52 (02/2026)
---
Tài liệu tham khảo
Chính phủ. (2022). Nghị định số 35/2022/NĐ-CP ngày 28/5/2022 của Chính phủ “Quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế”.
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Hà Nội. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Huyền Diệu. (2022). Giải pháp bảo vệ môi trường khu công nghiệp, khu chế xuất. Truy cập ngày 15/02/2025, từ https://kinhtemoitruong.vn/giai-phap-bao-ve-moi-truong-khu-cong-nghiep-khu-che-xuat-74322.html.
Minh Hải. (2025). TPHCM: Ô nhiễm khí thải, mùi hôi trong các khu công nghiệp, khu chế xuất vẫn tồn tại. Truy cập ngày 15/02/2025, từ https://www.sggp.org.vn/tphcm-o-nhiem-khi-thai-mui-hoi-trong-cac-khu-cong-nghiep-khu-che-xuat-van-ton-tai-post781504.html.
Nguyễn Quỳnh. (2022). TP.HCM bảo vệ môi trường tại các KCN-KCX: Đề xuất, triển khai nhiều giải pháp. Truy cập ngày 15/02/2025, từ https://tapchixaydung.vn/tphcm-bao-ve-moi-truong-tai-cac-kcn-kcx-de-xuat-trien-khai-nhieu-giai-phap-20201224000011221.html.
Quốc hội. (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013. Hà Nội. Nxb. Tư pháp.
Sỹ Đông. (2025). TP.HCM tiềm ẩn nguy cơ rò rỉ nước thải ở khu công nghiệp lâu năm. Truy cập ngày 06/02/2025, từ https://thanhnien.vn/tphcm-tiem-an-nguy-co-ro-ri-nuoc-thai-o-khu-cong-nghiep-lau-nam-185250205184644391.htm.
Thủ tướng Chính phủ. (2022), Quyết định số 450/QĐ-TTg ngày 13/4/2022 của Thủ tướng Chính phủ “Phê duyệt Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050”.