Biến đổi khí hậu (BĐKH) là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ XXI, trực tiếp đe dọa và làm suy giảm việc thụ hưởng các quyền con người cơ bản. Tại Việt Nam - một trong những quốc gia dễ bị tổn thương nhất thế giới trước tác động của BĐKH - việc bảo vệ quyền con người trong ứng phó với BĐKH đã được Đảng, Nhà nước ghi nhận qua Hiến pháp năm 2013 (Điều 43, Điều 63), Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 (Chương VII) cùng các chiến lược, kế hoạch quốc gia. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, khung pháp lý quốc tế và quốc gia, đánh giá thực trạng, chỉ ra những hạn chế, bài viết đề xuất giải pháp nhằm bảo đảm hiệu quả quyền con người trong bối cảnh thích ứng với BĐKH.

Ảnh minh họa. Nguồn: moit.gov.vn
1. Mở đầu
Biến đổi khí hậu không còn là vấn đề môi trường thuần túy mà đã trở thành một trong những thách thức nhân quyền lớn nhất của nhân loại trong thế kỷ XXI. Theo Nhân quyền Liên hợp quốc (LHQ), BĐKH gây ra “tác động tiêu cực trực tiếp đến việc thụ hưởng quyền con người”, bao gồm quyền sống, quyền sức khỏe, quyền lương thực, quyền nước sạch, quyền nhà ở và quyền được sống trong môi trường trong lành (Human Rights Council, 2024). Những tác động này không chỉ làm suy giảm khả năng thực thi các quyền cơ bản đã được công nhận trong Tuyên ngôn phổ quát về quyền quyền con người năm 1948, hai Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966 (ICCPR) cùng Công ước Quốc tế về Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa năm 1966 (ICESCR), mà còn đe dọa trực tiếp nguyên tắc “không để ai bị bỏ lại phía sau” của Chương trình Nghị sự 2030 về Phát triển Bền vững. Trong bối cảnh toàn cầu năm 2026, khi COP31 đã kết thúc và các cam kết Net-zero tiếp tục được đẩy mạnh, BĐKH vẫn là nhân tố làm gia tăng bất bình đẳng, buộc hàng trăm triệu người phải di cư, mất sinh kế và đối mặt với các hình thức phân biệt đối xử mới, đặc biệt là đối với các nhóm dễ bị tổn thương như phụ nữ, trẻ em, người dân tộc thiểu số, người nghèo và cư dân ven biển (OHCHR, 2026).
Tại Việt Nam - một trong những quốc gia dễ bị tổn thương nhất thế giới trước BĐKH - vấn đề này càng mang tính cấp bách và đa chiều. Với bờ biển dài hơn 3.260 km, hai đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long chiếm hơn 20% diện tích lãnh thổ nhưng tập trung gần 50% dân số và phần lớn sản xuất nông nghiệp, Việt Nam đang phải đối mặt với chuỗi tác động liên hoàn: nước biển dâng, xâm nhập mặn, sạt lở bờ sông bờ biển, thiên tai cực đoan và mất đa dạng sinh học. Theo Báo cáo Cập nhật của Ngân hàng Thế giới năm 2025, nếu không có các biện pháp thích ứng mạnh mẽ, BĐKH có thể làm giảm GDP Việt Nam tới 9,1% vào năm 2030 và 12,5% vào năm 2050 so với kịch bản cơ sở, tương đương với việc “xóa sạch” gần một thập kỷ tăng trưởng và đẩy thêm từ 100.000 đến 1,1 triệu người vào tình trạng nghèo đói (World Bank, 2025). Thực tiễn năm 2025 đã minh chứng rõ nét cho những dự báo này: thiên tai khí tượng thủy văn diễn biến cực kỳ bất thường với số lượng bão kỷ lục, lũ lớn diện rộng và hạn hán kéo dài, gây thiệt hại kinh tế vượt 85.000 tỷ đồng chỉ trong một năm, cùng hàng trăm người chết và mất tích (Cục Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu, 2025). Chương trình Phát triển LHQ (UNDP) cũng chỉ ra rằng Việt Nam hiện chỉ bù đắp được khoảng 30% tổng thiệt hại do thiên tai và BĐKH, để lại khoảng trống tài chính khổng lồ cho công tác tái thiết và phục hồi (UNDP, 2026). Hàng triệu người dân, đặc biệt tại Đồng bằng sông Cửu Long và ven biển miền Trung, đang đối mặt với nguy cơ mất sinh kế nông nghiệp, di cư khí hậu nội địa (dự báo khoảng 3,1 triệu người đến năm 2050) và suy giảm nghiêm trọng quyền được tiếp cận nước sạch, lương thực, nhà ở ổn định cùng môi trường sống an toàn (World Bank, 2022).
Trong bối cảnh đó, việc bảo vệ quyền con người trong ứng phó với BĐKH không chỉ là nghĩa vụ quốc tế mà còn là yêu cầu hiến định và chính trị then chốt của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Hiến pháp năm 2013 đã lần đầu tiên ghi nhận rõ ràng quyền con người về môi trường tại Điều 43: “Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường” (Quốc hội, 2013). Điều này được cụ thể hóa tại Điều 63, khẳng định trách nhiệm của Nhà nước trong việc “quản lý, sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học; chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu”. Quan điểm “lấy con người làm trung tâm” tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ qua các văn kiện Đảng: Nghị quyết Đại hội XIII (2021) nhấn mạnh “chủ động thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu, lấy bảo vệ môi trường sống và sức khỏe nhân dân làm mục tiêu hàng đầu” (Đảng Cộng sản, 2021); Nghị quyết Đại hội XIV (2026) tiếp tục coi bảo vệ môi trường, thích ứng BĐKH và chuyển đổi xanh là “trụ cột chiến lược trong phát triển bền vững”, gắn chặt với xây dựng con người Việt Nam toàn diện và kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn (Đảng Cộng sản, 2026). Các nghị quyết của Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII và XIV đã tạo nền tảng chính trị vững chắc để lồng ghép quyền con người vào mọi chiến lược quốc gia về BĐKH, từ Chiến lược quốc gia về BĐKH đến năm 2050 (Quyết định số 896/QĐ-TTg năm 2022) đến Kế hoạch quốc gia thích ứng với BĐKH giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (đã được cập nhật năm 2024) (Thủ tướng Chính phủ, 2022).
Trên bình diện quốc tế, Việt Nam không chỉ là một trong những quốc gia dễ bị tổn thương nhất mà còn là thành viên tích cực, trách nhiệm trong việc thúc đẩy mối liên hệ giữa quyền con người và BĐKH. Từ năm 2008 đến nay, Việt Nam liên tục đồng chủ trì (cùng Bangladesh và Philippines) các nghị quyết hàng năm của Hội đồng Nhân quyền LHQ về “Quyền con người và biến đổi khí hậu”, trong đó nghị quyết năm 2024 tập trung vào “chuyển đổi công bằng” (just transition) và các nghị quyết tiếp theo năm 2025 nhấn mạnh tài chính khí hậu (Human Rights Council, 2025a). Cam kết Net-zero vào năm 2050 tại COP26 (2021) đã được cụ thể hóa trong nhiều văn bản pháp luật và chính sách quốc gia, đồng thời Việt Nam đã được bầu vào Hội đồng nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2026 - 2028, khẳng định vai trò tiên phong trong việc bảo vệ quyền con người trước thách thức khí hậu (Bộ Ngoại giao, 2025).
2. Cơ sở lý luận về bảo vệ quyền con người trong ứng phó với biến đổi khí hậu
a) Tác động của biến đổi khí hậu đến quyền con người
Biến đổi khí hậu không chỉ làm gia tăng tần suất và cường độ của các thiên tai cực đoan mà còn dẫn đến những vi phạm hệ thống, đa chiều đối với hàng loạt quyền con người cơ bản, từ đó đòi hỏi một cách tiếp cận pháp lý nhân quyền toàn diện, lấy con người làm trung tâm trong mọi chiến lược ứng phó. Theo khung phân tích của UNDP và Hội đồng Nhân quyền LHQ, BĐKH gây ra “tác động tiêu cực trực tiếp đến việc thụ hưởng quyền con người”, với các quyền bị ảnh hưởng sâu sắc nhất bao gồm quyền sống và quyền an toàn tính mạng (Điều 6 ICCPR), quyền sức khỏe (Điều 12 ICESCR), quyền lương thực và an ninh lương thực (Điều 11 ICESCR), quyền nước sạch và vệ sinh (Bình luận chung số 15 của Ủy ban Kinh tế - Xã hội - Văn hóa LHQ), quyền nhà ở thích hợp, cũng như quyền được sống trong môi trường trong lành - một quyền được công nhận gián tiếp qua các công ước quốc tế cốt lõi và trực tiếp trong hiến pháp của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam (Human Rights Council, 2024). Những tác động này không dừng lại ở mức độ cá nhân mà lan tỏa thành các chuỗi vi phạm liên kết, làm gia tăng bất bình đẳng, đẩy các nhóm dễ bị tổn thương - phụ nữ, trẻ em, người dân tộc thiểu số, người nghèo, người khuyết tật và cư dân ven biển - vào tình trạng dễ tổn thương hơn bao giờ hết.
Báo cáo Đánh giá Thứ 7 (AR7) của Ủy ban Liên chính phủ về BĐKH (IPCC) tiếp tục khẳng định rằng, với mức ấm lên toàn cầu hiện tại đã vượt 1,2°C so với thời kỳ tiền công nghiệp, các tác động đến quyền con người đang trở nên không thể đảo ngược ở nhiều khu vực, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển ven biển như Việt Nam. BĐKH không chỉ đe dọa quyền sống qua các sự kiện thời tiết cực đoan mà còn xói mòn quyền sức khỏe thông qua ô nhiễm không khí, lan truyền bệnh truyền nhiễm và suy giảm dinh dưỡng; làm suy yếu an ninh lương thực bằng cách làm giảm năng suất nông nghiệp, xâm nhập mặn và mất đất canh tác; đồng thời vi phạm quyền nước sạch khi nguồn nước ngọt bị nhiễm mặn và ô nhiễm nghiêm trọng. Quyền nhà ở thích hợp bị đe dọa bởi sạt lở bờ sông, bờ biển và di cư khí hậu cưỡng bức, trong khi quyền được sống trong môi trường trong lành đang trở thành nền tảng pháp lý then chốt để đánh giá toàn bộ trách nhiệm nhà nước trong ứng phó BĐKH (Quốc hội, 2013).
Những tác động này không phải là “tai ương tự nhiên” mà là hậu quả có thể dự báo trước của hành vi con người, đòi hỏi Nhà nước phải thực thi các nghĩa vụ: tôn trọng (respect), bảo vệ (protect) và thực hiện (fulfill) các quyền bị ảnh hưởng.
b) Khung pháp lý quốc tế
Khung pháp lý quốc tế về bảo vệ quyền con người trong ứng phó BĐKH đã phát triển mạnh mẽ từ những năm 2000, hình thành một hệ thống chuẩn mực gắn kết chặt chẽ giữa pháp luật môi trường và pháp luật nhân quyền. Công ước Khung LHQ về BĐKH (UNFCCC 1992) và Thỏa thuận Paris 2015 (Việt Nam phê chuẩn năm 2016) là những mốc son quan trọng. Đặc biệt, tiền đề của Thỏa thuận Paris khẳng định rõ ràng: “các bên phải tôn trọng, thúc đẩy và xem xét nghĩa vụ và cam kết liên quan đến quyền con người, quyền được hưởng sức khỏe, quyền của các dân tộc bản địa, cộng đồng địa phương, người di cư, trẻ em, người khuyết tật và những người trong tình trạng dễ bị tổn thương, cũng như quyền phát triển, bình đẳng giới, trao quyền cho phụ nữ và công bằng giữa các thế hệ” (Liên Hợp Quốc, 2015). Đây không chỉ là nguyên tắc hướng dẫn mà còn là nghĩa vụ pháp lý ràng buộc các bên khi xây dựng và thực thi các đóng góp quốc gia (NDCs) và kế hoạch thích ứng.
Đến nay, Hội đồng Nhân quyền LHQ đã thông qua hàng loạt nghị quyết về “Quyền con người và biến đổi khí hậu”, trong đó Việt Nam là một trong những nước đồng chủ trì, đồng soạn thảo tích cực nhất. Các nghị quyết năm 2021, 2022 và đặc biệt Nghị quyết 56/8 (2024) tập trung vào “chuyển đổi công bằng” (just transition), nhấn mạnh quyền của các nhóm dễ bị tổn thương và yêu cầu các biện pháp thích ứng phải đảm bảo không để ai bị bỏ lại phía sau. Đến năm 2025, Nghị quyết 59/25 tiếp tục làm sâu sắc thêm khía cạnh tài chính khí hậu, kêu gọi các nước phát triển dẫn dắt việc cung cấp tài chính công bằng, minh bạch để hỗ trợ năng lực thích ứng của các cộng đồng dễ bị tổn thương nhất (Human Rights Council, 2025b). Những nghị quyết này đã nâng tầm mối liên hệ giữa BĐKH và quyền con người lên thành một vấn đề ưu tiên thường trực của Hội đồng Nhân quyền LHQ.
Bên cạnh đó, các bình luận chung của Ủy ban Nhân quyền LHQ và Ủy ban Kinh tế - Xã hội - Văn hóa (CESCR) đã làm rõ nghĩa vụ của các nhà nước một cách cụ thể và ràng buộc. Tiêu biểu là Bình luận chung số 27 (2025) của CESCR về “quyền kinh tế, xã hội và văn hóa và khía cạnh môi trường của phát triển bền vững”, khẳng định rằng “một môi trường trong sạch, lành mạnh và bền vững là điều kiện tiên quyết để hưởng thụ các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa”, đồng thời yêu cầu nhà nước phải tích hợp đánh giá tác động nhân quyền vào mọi chính sách khí hậu, bảo đảm nguyên tắc không phân biệt đối xử và tham gia của cộng đồng (Committee on Economic, Social and Cultural Rights, 2025). Các bình luận chung khác như Bình luận chung số 15 về quyền nước và Bình luận chung số 36 của Ủy ban Nhân quyền về quyền sống cũng đã được diễn giải để bao quát rõ ràng các nghĩa vụ giảm phát thải, thích ứng và bồi thường thiệt hại do BĐKH.
c) Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam
Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về bảo vệ quyền con người trong ứng phó BĐKH là sự kết tinh giữa chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các chuẩn mực quốc tế, với nguyên tắc cốt lõi “lấy con người làm trung tâm”. Nghị quyết 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã khẳng định rõ: “chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường” là một trong những nhiệm vụ chiến lược quốc gia, phải được thực hiện “với tinh thần trách nhiệm cao nhất trước Nhân dân và đất nước”, lấy bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân làm mục tiêu hàng đầu (Ban Chấp hành Trung ương, 2013). Quan điểm này tiếp tục được kế thừa, bổ sung và phát triển qua các kỳ Đại hội Đảng.
Đại hội XII (2016) và XIII (2021) đã cụ thể hóa việc lồng ghép ứng phó BĐKH vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, nhấn mạnh bảo vệ môi trường sống và sức khỏe nhân dân. Đến Đại hội XIV (2026), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV tiếp tục khẳng định bảo vệ môi trường và thích ứng BĐKH là “trụ cột chiến lược”, “phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm”, gắn chặt với chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn và đảm bảo công bằng xã hội, quyền con người trong bối cảnh mới (Đảng Cộng sản, 2026).
Trên bình diện nhà nước, Chiến lược quốc gia về BĐKH đến năm 2050 (Quyết định số 896/QĐ-TTg ngày 26/7/2022) và Kế hoạch quốc gia thích ứng với BĐKH giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (đã được cập nhật năm 2024) đều nhấn mạnh việc “bảo đảm an toàn tính mạng, sinh kế bền vững và quyền của các nhóm dễ bị tổn thương” là mục tiêu xuyên suốt. Các văn bản này không chỉ thể chế hóa quan điểm của Đảng mà còn cụ thể hóa nghĩa vụ hiến định của Nhà nước tại Điều 43 và Điều 63 Hiến pháp năm 2013, tạo nền tảng pháp lý vững chắc để bảo vệ quyền con người trước thách thức khí hậu toàn cầu (Thủ tướng Chính phủ, 2022).
3. Thực trạng bảo vệ quyền con người trong ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Đến năm 2026, sau hơn 5 năm thực thi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và cập nhật các kế hoạch quốc gia, Việt Nam đã xây dựng được một hệ thống pháp luật khá đồng bộ, thể hiện rõ trách nhiệm của Nhà nước (tôn trọng, bảo vệ và thực hiện) đối với các quyền con người bị BĐKH đe dọa trực tiếp.
a) Hệ thống văn bản pháp luật
Nền tảng hiến định của việc bảo vệ quyền con người trong ứng phó BĐKH được ghi nhận rõ ràng trong Hiến pháp năm 2013, đặc biệt tại Điều 43 (“Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường”) và Điều 63 (trách nhiệm của Nhà nước trong quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động phòng chống thiên tai và ứng phó BĐKH) (Quốc hội, 2013). Đây là cơ sở pháp lý cao nhất để lồng ghép quyền môi trường vào hệ thống quyền con người, đồng thời khẳng định nghĩa vụ tích cực của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền sống, quyền sức khỏe, quyền lương thực và quyền nhà ở trước tác động của BĐKH.
Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14 (có hiệu lực từ 01/01/2022) là văn bản pháp luật cốt lõi, với Chương VII (Điều 90 đến Điều 96) quy định cụ thể về ứng phó BĐKH, bao gồm thích ứng (Điều 90), giảm nhẹ phát thải khí nhà kính (Điều 91), bảo vệ tầng ô-dôn (Điều 92), lồng ghép nội dung ứng phó BĐKH vào chiến lược, quy hoạch (Điều 93), xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia (Điều 94), báo cáo quốc gia (Điều 95) và thực hiện cam kết quốc tế (Điều 96) (Quốc hội, 2020). Đặc biệt, Điều 4 của Luật đã nêu rõ nguyên tắc cốt lõi: “bảo vệ môi trường gắn kết hài hòa với an sinh xã hội, quyền trẻ em, bình đẳng giới, bảo đảm quyền mọi người được sống trong môi trường trong lành”, thể hiện rõ cách tiếp cận nhân quyền trong pháp luật môi trường. Việt Nam là một trong những nước đang phát triển đầu tiên luật hóa nghĩa vụ giảm phát thải khí nhà kính thành yêu cầu bắt buộc đối với mọi tổ chức, cá nhân.
Hệ thống luật chuyên ngành tiếp tục được hoàn thiện và lồng ghép chặt chẽ nội dung thích ứng BĐKH cùng bảo vệ quyền lợi cộng đồng. Luật Đất đai năm 2024 (số 31/2024/QH15, hiệu lực từ 01/8/2024) quy định việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải tính đến kịch bản BĐKH, ưu tiên bảo vệ đất nông nghiệp ven biển và đất của đồng bào dân tộc thiểu số trước rủi ro sạt lở, xâm nhập mặn (Quốc hội, 2023b & 2024). Luật Tài nguyên nước năm 2023 (số 28/2023/QH15, hiệu lực từ 01/7/2024) nhấn mạnh việc quản lý, phân phối nguồn nước phải dựa trên kịch bản nguồn nước và dự báo BĐKH, bảo đảm quyền tiếp cận nước sạch cho người dân, đặc biệt ở vùng đồng bằng sông Cửu Long và miền Trung (Quốc hội, 2023). Luật Lâm nghiệp năm 2017 (sửa đổi, bổ sung) cũng tích hợp các giải pháp bảo vệ rừng ngập mặn - “lá chắn” tự nhiên bảo vệ quyền sống và sinh kế của cư dân ven biển.
Về văn bản dưới luật, Chiến lược quốc gia về BĐKH đến năm 2050 (Quyết định số 896/QĐ-TTg ngày 26/7/2022) và Kế hoạch quốc gia thích ứng với BĐKH giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (được cập nhật bởi Quyết định 1422/QĐ-TTg ngày 19/11/2024) là hai văn kiện then chốt, đã được gửi chính thức tới UNFCCC vào năm 2025 (Thủ tướng Chính phủ, 2024 & Thủ tướng Chính phủ, 2022). Các Thông tư hướng dẫn như Thông tư 01/2022/TT-BTNMT (quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường về ứng phó BĐKH) đã cụ thể hóa cơ chế lồng ghép, giám sát và báo cáo, tạo hành lang pháp lý đồng bộ từ trung ương đến địa phương (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2022).
b) Thực tiễn thực thi
Thực tiễn triển khai cho thấy Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, khẳng định trách nhiệm bảo vệ quyền con người trước BĐKH. Hệ thống cảnh báo sớm thiên tai được hiện đại hóa, góp phần giảm tỷ lệ tử vong do thiên tai xuống mức thấp kỷ lục. Đến năm 2025, hơn 70.000 hộ dân đã được di dời khẩn cấp khỏi vùng nguy cơ cao (sạt lở, ngập lụt, xâm nhập mặn), bảo vệ trực tiếp quyền sống và quyền nhà ở của hàng trăm nghìn người (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2025). Chương trình chuyển đổi sinh kế đạt quy mô lớn với hơn 200.000 ha lúa được chuyển sang mô hình thích ứng (tôm - lúa, lúa - cá, nông nghiệp công nghệ cao), kết hợp bảo hiểm rủi ro nông nghiệp, giúp ổn định an ninh lương thực cho nông dân - nhóm dễ bị tổn thương nhất (UNDP, 2025).
Về giảm nhẹ, Việt Nam là một trong những nước đang phát triển tiên phong luật hóa nghĩa vụ giảm phát thải khí nhà kính. Quan hệ Đối tác Chuyển dịch Năng lượng Công bằng (JETP) với gói hỗ trợ 15,5 tỷ USD từ các đối tác quốc tế đã được triển khai mạnh mẽ từ năm 2023, góp phần bảo vệ quyền lao động và sinh kế của cộng đồng vùng than (World Bank, 2025). Quỹ Khí hậu Xanh và các dự án hợp tác quốc tế khác đã hỗ trợ xây dựng hàng trăm mô hình “làng thông minh thích ứng khí hậu”, ưu tiên bảo hiểm y tế miễn phí cho người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số, đồng thời thúc đẩy bình đẳng giới trong lập kế hoạch thích ứng địa phương (UNDP, 2025).
Đặc biệt, việc bảo vệ nhóm dễ bị tổn thương được chú trọng: phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, người cao tuổi và dân tộc thiểu số được ưu tiên trong các chương trình hỗ trợ di cư có kế hoạch, tiếp cận tín dụng xanh và giáo dục nâng cao nhận thức. Những kết quả này không chỉ góp phần thực hiện Cam kết Net-zero 2050 mà còn khẳng định vai trò trách nhiệm của Việt Nam tại Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc, nơi nước ta tiếp tục đồng chủ trì các nghị quyết về quyền con người và BĐKH (Human Rights Council, 2025).
c) Hạn chế và thách thức
Mặc dù có nhiều tiến bộ, hệ thống pháp luật và thực tiễn vẫn tồn tại những hạn chế đáng kể. Thứ nhất, chưa có quy định trực tiếp, cụ thể về “quyền thích ứng với biến đổi khí hậu” như một quyền con người độc lập, cũng như thiếu cơ chế rõ ràng về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước đối với người dân bị ảnh hưởng trực tiếp. Thứ hai, thực thi pháp luật chưa đồng đều giữa các địa phương: một số tỉnh ven biển và đồng bằng sông Cửu Long đã triển khai tốt, nhưng nhiều khu vực miền núi và vùng sâu vẫn còn khoảng cách về nguồn lực và năng lực (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2025). Thứ ba, tham gia của cộng đồng, đặc biệt là các nhóm dễ bị tổn thương, còn hạn chế do thiếu cơ chế tham vấn bắt buộc và minh bạch trong lập kế hoạch thích ứng địa phương. Di cư do BĐKH (dự báo khoảng 3 triệu người đến năm 2050) vẫn chưa có khung pháp lý riêng, dẫn đến nguy cơ vi phạm quyền di cư an toàn, quyền nhà ở và quyền lao động của người di cư khí hậu (UNDP, 2025). Thứ tư, năng lực giám sát, đánh giá tác động nhân quyền (human rights impact assessment) trong chính sách BĐKH còn yếu, thiếu các chỉ số đo lường cụ thể về mức độ thụ hưởng quyền con người. Thứ năm, cơ chế khiếu nại và truy cứu trách nhiệm tư pháp đối với vi phạm quyền con người do BĐKH gây ra vẫn chưa được quy định rõ ràng, dẫn đến tình trạng người dân khó tiếp cận công lý khi quyền sống, quyền sức khỏe hoặc quyền môi trường bị xâm phạm do chậm trễ trong ứng phó. Những hạn chế này không chỉ làm giảm hiệu quả bảo vệ quyền con người mà còn ảnh hưởng đến tính bền vững của các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia (Human Rights Council, 2025).
Tóm lại, thực trạng bảo vệ quyền con người trong ứng phó BĐKH tại Việt Nam phản ánh sự nỗ lực đáng kể của Đảng, Nhà nước trong việc xây dựng khung pháp lý và triển khai thực tiễn, nhưng vẫn đòi hỏi những bước đi quyết liệt hơn để thu hẹp khoảng cách giữa pháp luật và đời sống, hướng tới một mô hình ứng phó BĐKH thực sự nhân quyền và công bằng.
4. Giải pháp
Việc hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền con người trong ứng phó với BĐKH tại Việt Nam không chỉ là yêu cầu kỹ thuật pháp lý mà còn là trách nhiệm hiến định và chính trị then chốt, nhằm thực hiện nhất quán nguyên tắc “lấy con người làm trung tâm, làm chủ thể và là mục tiêu của phát triển” được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam (UNDP, 2026). Các giải pháp phải được xây dựng trên cơ sở nghĩa vụ của Nhà nước (tôn trọng - bảo vệ - thực hiện), kết hợp hài hòa giữa chuẩn mực quốc tế và điều kiện cụ thể của Việt Nam trong bối cảnh năm 2026 - khi nước ta đang thực thi Kế hoạch quốc gia thích ứng với BĐKH cập nhật, cam kết Net-zero 2050 và giữ vai trò tích cực tại HĐNQ LHQ nhiệm kỳ 2026 - 2028. Các nhóm giải pháp sau đây cần được triển khai đồng bộ, khả thi và có tính khả thi cao, nhằm thu hẹp khoảng cách giữa pháp luật và thực tiễn, bảo đảm không để ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình chuyển đổi xanh và thích ứng khí hậu.
a) Hoàn thiện hệ thống pháp luật
Trước hết, cần ưu tiên hoàn thiện khung pháp luật chuyên ngành theo hướng nhân quyền hóa mạnh mẽ hơn. Cụ thể, Quốc hội nên nghiên cứu, xây dựng và ban hành Luật Ứng phó với BĐKH riêng biệt (hoặc sửa đổi, bổ sung sâu rộng Luật Bảo vệ môi trường năm 2020) nhằm công nhận rõ ràng “quyền thích ứng với biến đổi khí hậu” như một nội dung cụ thể, độc lập của quyền được sống trong môi trường trong lành theo Điều 43 Hiến pháp năm 2013. Quyền này phải được hiểu là quyền con người được Nhà nước bảo đảm thông qua các biện pháp thích ứng chủ động, giảm thiểu rủi ro và bồi thường thiệt hại một cách công bằng, minh bạch. Đồng thời, phải bắt buộc lồng ghép đánh giá tác động nhân quyền (human rights impact assessment - HRIA) vào mọi chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và dự án ứng phó BĐKH từ cấp trung ương đến địa phương, theo đúng tinh thần các nghị quyết Hội đồng Nhân quyền LHQ mà Việt Nam đồng chủ trì (Human Rights Council, 2024).
Một nội dung quan trọng khác là xây dựng khung pháp lý riêng về bảo vệ người di cư khí hậu theo mô hình hợp tác tiểu vùng sông Mekong, phối hợp chặt chẽ với các nước trong khu vực. Khung pháp lý này cần quy định rõ quyền di cư an toàn, quyền tiếp cận nhà ở, việc làm, dịch vụ y tế và giáo dục cho người dân bị buộc phải di cư do mực nước biển dâng, xâm nhập mặn hoặc thiên tai cực đoan, đồng thời tích hợp các tiêu chuẩn quốc tế về không phân biệt đối xử và bình đẳng giới. Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng này sẽ tạo cơ sở pháp lý vững chắc để chuyển hóa các cam kết quốc tế (Thỏa thuận Paris, NAP cập nhật 2025) thành hành động cụ thể, đồng thời nâng cao trách nhiệm pháp lý của Nhà nước và doanh nghiệp trong việc bảo vệ quyền con người (UNDP, 2026).
b) Nâng cao năng lực thực thi và giám sát
Nhóm giải pháp này tập trung vào nâng cao năng lực thực thi và giám sát, khắc phục tình trạng “pháp luật trên giấy”. Cần xây dựng cơ chế giám sát độc lập, đa tầng, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, cộng đồng và các tổ chức phi chính phủ trong việc giám sát thực thi các chính sách ứng phó BĐKH. Cơ chế này phải bao gồm báo cáo định kỳ về tình hình thụ hưởng quyền con người trong bối cảnh khí hậu, với sự tham gia của đại diện các nhóm dễ bị tổn thương.
Đồng thời, cần tăng cường trách nhiệm pháp lý đa chiều (hành chính, dân sự, hình sự) đối với cơ quan nhà nước và doanh nghiệp vi phạm nghĩa vụ bảo vệ quyền con người trước BĐKH, chẳng hạn như chậm trễ trong di dời dân cư khỏi vùng rủi ro cao hoặc không thực hiện đánh giá môi trường chiến lược. Bên cạnh đó, phải đẩy mạnh giáo dục, nâng cao nhận thức về quyền con người trong ứng phó BĐKH cho cán bộ các cấp và cộng đồng dân cư thông qua chương trình đào tạo bắt buộc, tích hợp nội dung này vào chương trình giáo dục quốc dân và các chiến dịch truyền thông đại chúng. Những biện pháp này sẽ góp phần tạo chuyển biến căn bản từ “quản lý nhà nước” sang “quản trị nhân quyền” trong lĩnh vực khí hậu (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2025).
c) Tăng cường hợp tác quốc tế và huy động nguồn lực
Nhóm giải pháp này nhấn mạnh việc tận dụng tối đa các cơ chế hợp tác quốc tế. Việt Nam cần tiếp tục khai thác vị thế đồng chủ trì các nghị quyết của Hội đồng Nhân quyền LHQ về “Quyền con người và biến đổi khí hậu” (đặc biệt các nghị quyết năm 2024-2025 về chuyển đổi công bằng và tài chính khí hậu) để tranh thủ hỗ trợ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và nguồn lực tài chính từ các nước phát triển và các quỹ quốc tế. Đặc biệt, phải tham gia sâu hơn, chủ động hơn vào các cơ chế toàn cầu, trong đó có Quỹ Phản ứng với Tổn thất và Thiệt hại (FRLD) đã chính thức hoạt động từ năm 2025, nhằm huy động nguồn lực bù đắp thiệt hại không thể tránh khỏi cho các cộng đồng dễ bị tổn thương nhất (FRLD, 2025).
Việc huy động nguồn lực phải gắn với nguyên tắc công bằng khí hậu và trách nhiệm chung nhưng khác biệt, đảm bảo mọi khoản hỗ trợ đều phục vụ trực tiếp cho việc bảo vệ quyền con người, đặc biệt là quyền sống, quyền sức khỏe và quyền sinh kế bền vững. Đồng thời, cần thúc đẩy hợp tác song phương và đa phương trong khuôn khổ ASEAN và tiểu vùng Mekong để chia sẻ kinh nghiệm, xây dựng các mô hình thích ứng liên quốc gia.
d) Thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng và bảo vệ nhóm dễ bị tổn thương
Đây là giải pháp then chốt là thúc đẩy sự tham gia thực chất của cộng đồng và bảo vệ nhóm dễ bị tổn thương. Phải xây dựng cơ chế tham vấn bắt buộc, công khai, minh bạch, ưu tiên tiếng nói của phụ nữ, trẻ em, người dân tộc thiểu số, người khuyết tật và người nghèo trong quá trình lập, phê duyệt và giám sát kế hoạch thích ứng địa phương. Đồng thời, cần phát triển rộng rãi các mô hình “cộng đồng thích ứng quyền con người”, kết hợp giữa kiến thức truyền thống, công nghệ hiện đại và cách tiếp cận dựa trên quyền con người, như đã được khuyến nghị trong NAP cập nhật và các dự án hợp tác với UNDP (UNDP, 2025).
Những mô hình này không chỉ nâng cao khả năng phục hồi mà còn trao quyền cho cộng đồng tham gia trực tiếp vào việc ra quyết định, từ đó bảo đảm tính công bằng, bao trùm và bền vững của quá trình ứng phó BĐKH.
5. Kết luận
Bảo vệ quyền con người trong ứng phó với BĐKH là yêu cầu cấp thiết, vừa là nghĩa vụ quốc tế theo các công ước và nghị quyết của LHQ, vừa là trách nhiệm hiến định được quy định rõ tại Điều 43 và Điều 63 Hiến pháp năm 2013 của Nhà nước Việt Nam. Với khung pháp luật ngày càng hoàn thiện, quan điểm “lấy con người làm trung tâm” được khẳng định xuyên suốt từ Nghị quyết 24-NQ/TW (2013) đến Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng (2026), cùng những thành tựu thực tiễn đáng kể trong thích ứng và giảm nhẹ, Việt Nam đã và đang góp phần quan trọng vào nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế trong việc bảo vệ quyền con người trước thách thức khí hậu toàn cầu (Ban Chấp hành Trung ương, 2013).
Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao năng lực thực thi, tăng cường giám sát độc lập, đẩy mạnh hợp tác quốc tế và thúc đẩy sự tham gia thực chất của toàn xã hội, đặc biệt là các nhóm dễ bị tổn thương. Việc thực hiện hiệu quả các giải pháp nêu trên không chỉ góp phần bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người cơ bản mà còn khẳng định vị thế, trách nhiệm và hình ảnh của Việt Nam - một quốc gia đang phát triển có trách nhiệm, tiên phong trong lĩnh vực quyền con người và ứng phó BĐKH trên trường quốc tế. Chỉ khi quyền con người thực sự được đặt ở vị trí trung tâm của mọi chiến lược ứng phó BĐKH, chúng ta mới có thể xây dựng một Việt Nam xanh, bền vững, công bằng và thịnh vượng, thực hiện thành công mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030 và tầm nhìn phát triển đất nước đến năm 2045./.
ThS Lưu Quang Vĩnh
Tạp chí Năng lượng sạch Việt Nam
---
Tài liệu tham khảo
Ban Chấp hành Trung ương. (2013). Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.
Bộ Ngoại giao. (2025). Viet Nam commits to promoting and protecting human rights (February 2025).
Bộ Tài nguyên và Môi trường. (2022). Thông tư số 01/2022/TT-BTNMT ngày 07/01/2022 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường về ứng phó với biến đổi khí hậu.
Bộ Tài nguyên và Môi trường. (2025). Báo cáo quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu năm 2025 (gửi UNFCCC).
Committee on Economic, Social and Cultural Rights. (2025). General Comment No. 27 (2025) on economic, social and cultural rights and the environmental dimension of sustainable development (E/C.12/GC/27).
Cục Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu. (2025). Báo cáo tình hình thiên tai năm 2025.
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII.
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV.
Fund for Responding to Loss and Damage (FRLD). (2025). Báo cáo hoạt động năm 2025 và các tài liệu liên quan.
Human Rights Council. (2024). Resolution 56/8 on human rights and climate change (A/HRC/RES/56/8, July 10, 2024).
Human Rights Council. (2025). Resolution 59/25 on human rights and climate change (A/HRC/RES/59/25, July 2025).
Human Rights Council. (2025). Resolutions on human rights and climate change (2008–2025).
Liên Hợp Quốc. (2015). Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu (Preamble, para. 11).
Office of the United Nations High Commissioner for Human Rights (OHCHR). (2026). Human rights and climate change. https://www.ohchr.org/en/climate-change
Quốc hội. (2013). Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Quốc hội. (2020). Luật Bảo vệ môi trường.
Quốc hội. (2023). Luật Tài nguyên nước.
Quốc hội. (2024). Luật Đất đai.
Thủ tướng Chính phủ. (2022). Quyết định số 896/QĐ-TTg ngày 26/7/2022 phê duyệt Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu đến năm 2050 và Kế hoạch quốc gia thích ứng với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Thủ tướng Chính phủ. (2024). Quyết định số 1422/QĐ-TTg ngày 19/11/2024 phê duyệt Kế hoạch quốc gia thích ứng với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050.
United Nations Development Programme (UNDP). (2025). Viet Nam country climate and development report (updated 2025).
United Nations Development Programme (UNDP). (2026). Strengthening Viet Nam’s readiness to address loss and damage (March 2026).
United Nations Development Programme (UNDP). (2026). Tăng cường sự sẵn sàng của Việt Nam trong ứng phó với tổn thất và thiệt hại do biến đổi khí hậu (April 2026).
World Bank. (2022). Country climate and development report for Viet Nam.
World Bank. (2025). Viet Nam 2045: Growing greener – Pathways to a resilient and sustainable future.