Tóm tắt: Người khuyết tật là một nhóm xã hội dễ bị tổn thương, phải đối diện với nhiều rào cản trong việc tiếp cận các quyền cơ bản do tình tình trạng khuyết tật và tác động của các khuôn mẫu xã hội, văn hóa và bối cảnh kinh tế. Bài viết phân tích kinh nghiệm của Australia trong việc thúc đẩy và bảo vệ quyền của người khuyết tật thông qua hệ thống pháp luật, chính sách, chương trình và cơ chế thực thi dựa trên tiếp cận quyền con người. Trên cơ sở đó, rút ra một số giá trị tham khảo cho Việt Nam trong quá trình hoàn thiện chính sách và pháp luật nhằm thúc đẩy sự hòa nhập và bảo vệ hiệu quả quyền của người khuyết tật. Bài viết khuyến nghị Việt Nam cần chuyển từ tiếp cận từ thiện, y tế hiện nay sang tiếp cận dựa trên quyền và hòa nhập xã hội trong quá trình xây dựng, thực thi chính sách, pháp luật về người khuyết tật.
Từ khóa: Quyền của người khuyết tật; Kinh nghiệm Australia; tiếp cận dựa trên quyền; hoà nhập xã hội.
Abstract: Persons with disabilities are a vulnerable social group, facing many barriers in accessing fundermental rights due to their disability status, the impact of social and cultural  stereotypes, and their economic background. This paper analyzes Australia's experience in promoting and protecting the rights of persons with disabilities through its laws, policies, programs, and enforcement mechanisms, taking into account a human rights based approach. On this basis, Vietnam can draw lessons to improve policies and laws that promote social inclusion and effectively protect the rights of persons with disabilities. The paper recommends that Vietnam shift from the current charitable and medical approach to a rights-based and social inclusion approach in the formulation and implementation of policies and laws concerning persons with disabilities
Keywords: Rights of persons with disabilities; Australian experience; rights-based approach; social inclusion.

 

Người khuyết tật hào hứng tham gia Ngày Người Khuyết tật Việt Nam. Nguồn: thanhnien.vn

Đặt vấn đề

Người khuyết tật là một bộ phận dân số quan trọng trong xã hội với số lượng ngày càng lớn do sự gia tăng của bệnh tật và tuổi thọ ngày càng cao của con người. Theo số liệu của tổ chức Y tế thế giới, (WHO) trên thế giới có khoảng  1,3 tỷ người (tương đương16% dân số) đang sống chung với tình trạng khuyết tật ở các dạng thức và mức độ khác nhau, trong đó khoảng 190 triệu người (3,8% đân số) thuộc dạng gặp khó khăn nghiêm trọng trong sinh hoạt hàng ngày (WHO, 2023). Người khuyết tật là nhóm xã hội dễ bị tổn thương không chỉ do tình trạng khuyết tật của họ mà còn cả những rào cản về địa vị xã hội, văn hoá, kinh tế, bản dạng giới, tôn giáo, chủng tộc... Do vậy, họ cần được hệ thống pháp luật quốc tế và pháp luật của các quốc gia bảo vệ.

Quyền của người khuyết tật đã được ghi nhận  trong  khuôn khổ pháp luật quốc tế trên cơ sở giá trị về phẩm giá và nguyên tắc mang tính cốt lõi, xuyên suốt về bình đẳng, không phân biệt đối xử. Công ước của Liên hợp quốc về quyền của Người khuyết tật (CRPD), được thông qua vào năm 2006, kêu gọi các nhà nước thành viên  cần “cam kết bảo đảm và thúc đẩy việc biến các quyền và tự do cơ bản của con người thành hiện thực đối với mọi người khuyết tật mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào trên cơ sở sự khuyết tật” (United Nations, 2007, Điều 4).

Việt Nam và Australia đều là quốc gia thành viên của Công ước về quyền của người khuyết tật và các công ước cơ bản khác về quyền con người, do đó cùng có nghĩa vụ pháp lý trong việc thúc đẩy và bảo vệ quyền của người khuyết tật, trong phạm vi thẩm quyền pháp lý của quốc gia mình. Australia phê chuẩn Công ước về quyền của người khuyết tật ngày 17/7/2008, có hiệu lực  ngày 16/8/2008. Theo đó, Australia đã xây dựng và triển khai thực hiện nhiều chính sách, pháp luật, chương trình và đã đạt được những thành tựu đáng kể trong việc thúc đẩy sự hòa nhập của người khuyết tật vào cộng đồng và giúp họ có một cuộc sống độc lập, tự chủ hơn. Bài viết này đưa ra một số phân tích về kinh nghiệm của Australia trong việc thúc đẩy và bảo vệ quyền  của người khuyết tật, từ đó rút ra một số giá trị tham khảo cho Việt Nam. Đây là cơ sở quan trọng để Việt Nam hoàn thiện hệ thống chính sách và tạo ra môi trường thuận lợi hơn cho người khuyết tật, giúp họ hòa nhập và phát triển trong xã hội một cách toàn diện.

1.  Pháp luật  quốc tế về quyền của người khuyết tật và nghĩa vụ của các quốc gia

Sự phát triển của hệ thống pháp luật về quyền con người gắn với quá trình pháp điển hoá quyền của các nhóm dễ bị tổn thương, bao gồm người khuyết tật. Đây cũng là quá trình đánh dấu sự thay đổi trong cách tiếp cận về quyền của người khuyết tật từ thụ động sang chủ động, coi người khuyết tật là chủ thể của quyền để xây dựng và thực thi hệ thống pháp luật có tính hoà nhập. 

Mặc dù các vấn đề liên quan đến người khuyết tật đặt ra những thách thức nghiêm trọng đối với việc bảo đảm quyền con người, nhưng các vấn đề này chủ yếu được giải quyết trong khuôn khổ quốc gia. Điều này xuất phát từ quan điểm truyền thống, coi người khuyết tật là đối tượng của lòng thương hại, do đó, chính sách, pháp luật liên quan cũng được xây dựng dựa trên tiếp cận từ thiện và tiếp cận y tế. Cách tiếp cận này thường dẫn đến việc coi những người khuyết tật là đối tượng thu động, phụ thuộc vào gia đình, xã hội, là đối tượng khiếm khuyết cần phải “sửa chữa”, “điều trị” thay vì coi họ những người có quyền, tự do và phẩm giá như những người khác (UN Human rights Office of the High Commisioner, 2025).

Sự ra đời và phát triển khi luật quốc tế về quyền con người từ nửa cuối của thế kỷ XX đã mang lại cách tiếp cận mới về người khuyết tật, Theo đó, luật quốc tế về quyền con người đã dần ghi nhận người khuyết tật là nhóm dễ bị tổn thương về quyền cần được bình đẳng, không bị phân biệt đối xử, được tôn trọng phẩm giá và các quyền phổ quát như là những thành viên của “gia đình nhân loại” (UN Human rights Office of the High Commisioner, 2025). Một số các văn kiện quốc tế về quyền con người đã có những điều khoản riêng về bảo vệ quyền của người khuyết tật. Chẳng hạn, Công ước Quyền trẻ em đưa ra quy định về  trẻ em khuyết tật tại Điều 23 nhằm khẳng định trẻ em khuyết tật có quyền tham gia vào cộng đồng, được tiếp cận giáo dục, y tế, cơ hội giải trí, cho việc làm... (United Nations, 1989, Điều 23).

Theo thời gian, một số văn kiện chuyên biệt về quyền của người khuyết tật  được Liên hợp quốc thông qua. Nhằm hiện thực hoá các thông điệp của Tuyên ngôn về quyền của người khuyết tật được thông qua năm 1975, Liên hợp quốc đã thông qua Chương trình hành động toàn cầu về người khuyết tật năm 1982 với mục tiêu thúc đẩy các biện pháp hiệu quả để phòng ngừa khuyết tật, phục hồi chức năng và tạo điều kiện cho người khuyết tật được có cơ hội tham gia đầy đủ vào đời sống xã hội (UN Department of Economic and Social Affairs, 2025). Bước đi quan trọng nhất trong quá trình pháp điển hóa quyền của người khuyết tật trong luật quốc tế là sự ra đời của Công ước về quyền của người khuyết tật (CRPD) năm 2006. Đây là điều ước quốc tế chuyên biệt đầu tiên về quyền của người khuyết tật có tính ràng buộc pháp lý đối với quốc gia phê chuẩn. Hiện nay, CRPD đã trở thành khuôn khổ pháp lý quốc tế mang tính hướng dẫn để các quốc gia sửa đổi, ban hành pháp luật về quyền của người khuyết tật. Tính đến năm 2025, công ước có 192 thành viên bao gồm 191 quốc gia và  Liên minh Châu Âu. Công ước này được Việt Nam ký năm 2007, phê chuẩn năm 2025; Australia ký năm 2007,  phê chuẩn năm 2008. Ngoài ra, Australia cũng phê chuẩn Nghị định thư tuỳ chọn của công ước này để thừa nhận thẩm quyền tiếp nhận khiếu nại cá nhân của người khuyết tật của Uỷ ban công ước.

Với tư cách thành viên của CRPD, Việt Nam và Australia có nghĩa vụ tôn trọng bảo vệ và thực thi quyền của người khuyết tật. Cụ thể, Điều 4 của CRPD kêu gọi các nhà nước “cam kết bảo đảm và thúc đẩy việc biến các quyền và tự do cơ bản của con người thành hiện thực đối với mọi người khuyết tật mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào trên cơ sở sự khuyết tật” thông qua các biện pháp lập pháp, hành pháp và các biện pháp khác. Uỷ ban CRPD, cùng với các cơ quan thuộc cơ chế dựa trên điều ước khác và cơ chế dựa trên hiến chương là các thiết chế giám sát việc thực hiện các chuẩn mực và cam kết quốc tế về quyền của người khuyết tật.

2. Kinh nghiệm của Australia trong việc thúc đẩy, bảo vệ quyền của người khuyết tật

Theo số liệu từ cuộc Khảo sát về Khuyết tật, Người cao tuổi và Người chăm sóc (SDAC) trong cuộc điều tra dân số năm 2022, công bố tháng 7 năm 2024,  Australia có  5,5 triệu người khuyết tật, chiếm 21,4% dân số. Số người khuyết tật từ 65 tuổi trở lên là có 2,3 triệu, chiếm hơn một nửa tổng số người cao tuổi (52,3%) (Australian Bureau of statistics, 2022). Australia được đánh giá là một trong những quốc gia dẫn đầu trong việc nỗ lực thực hiện CRPD  thông qua quá trình nội luật hoá các quy định của công ước này vào hệ thống pháp luật và thực tiễn trong nước.

a) Khái niệm và cách tiếp cận của Australia về quyền của người khuyết tật

Pháp luật của Australia có định nghĩa về người khuyết tật theo phạm vi khá rộng và được “điều chỉnh” linh hoạt tuỳ thuộc vào từng lĩnh vực, yêu cầu khác nhau. Khái niệm “người khuyết tật” đã được quy định trong một số bộ luật liên bang, trong luật của các bang và vùng lãnh thổ. Các bộ luật này mặc dù ra đời trước khi CRPD nhưng về cơ bản tương thích với cách  tiếp cận về quyền của người khuyết tật của công ước (Committee on the Rights of Persons with Disabilities, 2010). Điểm chung của các bộ luật này là khái niệm người khuyết tật được định nghĩa tương đối toàn diện. Theo đó, người khuyết tật được xác định là những người thuộc các dạng khuyết tật khác nhau bao gồm khuyết tật về thể chất (gây ảnh hưởng đến khả năng vận động hoặc sự khéo léo); khuyết tật trí tuệ ( ảnh hưởng đến khả năng học tập hoặc xử lý thông tin); khuyết tật về tâm lý; khuyết tật giác quan (ảnh hưởng đến khả năng nghe hoặc nhìn); khuyết tật thần kinh (ảnh hưởng đến não và hệ thần kinh trung ương); khuyết tật về khả năng học tập (ảnh hưởng đến khả năng tiếp thu, tổ chức, lưu giữ và hiểu thông tin), khuyết tật về ngoại hình do sự  biến dạng cơ thể; khuyết tật miễn dịch do sự hiện diện của các sinh vật gây bệnh trong cơ thể... (theo Mục 4 của Đạo luật chống phân biệt đối xử về khuyết tật của Australia). Đáng lưu ý là các bộ luật này được áp dụng để bảo vệ không chỉ cho người khuyết tật thực sự mà còn  cả cho những người bị kỳ thị do nhận thức sai lệch của người khác, tức là “khuyết tật giả định” (presumed disability). Đồng thời, các đạo luật chống phân biệt đối xử về khuyết tật cũng quy định rõ về đối tượng khuyết tật là bao gồm cả khuyết tật đang tồn tại, đã từng tồn tại hoặc có thể sẽ xảy ra trong tương lai.

Ngoài ra, nội hàm khái niệm người khuyết tật cũng được điều chỉnh linh hoạt trong các bổi cảnh, lĩnh vực khác nhau. Chẳng hạn, Theo Ủy ban Dịch vụ Công Australia (Australian Public Service Commission - APSC), người khuyết tật là được xác định là người bị hạn chế, giới hạn hoặc khiếm khuyết nào đó  kéo dài, hoặc có khả năng kéo dài, ít nhất sáu tháng và gây cản trở đến các hoạt động hàng ngày (Australian Public Service Commision, 2019). Cách định nghĩa này nhấn mạnh khía cạnh chức năng và thời gian ảnh hưởng, thường dùng trong báo cáo và tuyển dụng công chức. Trong lĩnh vực bảo trợ xã hội, khái niệm người khuyết tật được xác định trên cơ sở xem xét điều kiện để nhận trợ cấp khuyết tật. Theo đó, Luật An sinh xã hội (Social Security Act) năm 1991 xác định người khuyết tật là người bị khiếm khuyết về thể chất, trí tuệ hoặc tâm thần với mức độ suy giảm từ 20 điểm trở lên theo Bảng đánh giá suy giảm chức năng; người đó phải không có khả năng làm việc liên tục, ít nhất 15 giờ mỗi tuần trong ít nhất hai năm tới do tình trạng khuyết tật (Centrelink, 2025). Như vậy, khái niệm người khuyết tật được đề cập trong các quy định của pháp luật của Astralia đều thể hiện cách tiếp cận dựa trên quyền về khuyết tật. Bên cạnh đó, tuỳ thuộc vào các mục tiêu khác nhau (xoá bỏ phân biệt đối xử, thống kê việc làm, trợ cấp xã hội...) mà khái niệm khuyết tật được định nghĩa và tiếp cận theo nội dung và phạm vi khác nhau  như bảo vệ pháp lý, bảo vệ y tế, tính chức năng.

So sánh về cách định nghĩa và cách tiếp cận về vấn đề khuyết tật trong pháp luật của Australia và Việt Nam có thể thấy một số khác biệt sau:

Về khái niệm, Điều 2, Luật Người khuyết tật Việt Nam năm 2010 định nghĩa người khuyết tật  “là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng, làm cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn” (Quốc hội, 2010, Điều 2). Như vậy, về phạm vi, pháp luật Việt Nam mới chỉ công nhận người khuyết tật dựa trên tình trạng suy giảm chức năng rõ rệt về thể chất hoặc tinh thần và chưa bao gồm các trường hợp  khuyết tật giả định (presumed disability). Điều này tạo ra khoảng trống pháp lý trong việc bảo vệ người khuyết tật đối với các hình thức phân biệt đối xử trong giáo dục, việc làm, y tế hoặc đời sống xã hội, đặc biệt trong các trường hợp không thể chứng minh được tình trạng khuyết tật thực tế nhưng hậu quả kỳ thị vẫn tồn tại. Về phân loại khuyết tật, luật của Australia ghi nhận các loại khuyết tật đa dạng hơn bao gồm cả khuyết tật về thể chất, tinh thần, nhiễm bệnh, phụ thuộc thiết bị... trong khi Luật về người khuyết tật chỉ xác định  có 6 dạng chính để phục vụ cho việc quản lý nhà nước và hỗ trợ xã hội: khuyết tật vận động, khuyết tật nghe - nói, khuyết tật nhìn, khuyết tật thần kinh, tâm thần, khuyết tật trí tuệ, khuyết tật khác (Quốc hội, 2010, Điều 2). Theo đó, một số dạng khuyết tật khác hạn như tình trạng khuyết tật phụ thuộc thiết bị dù được xem xét hỗ trợ nhưng không được quy định trong định nghĩa về người khuyết tật.

Về cách tiếp cận, điểm khác biệt nổi bật nhất trong cách tiếp so với Việt Nam là Australia lấy quyền của người người khuyết tật, nguyên tắc không phân biệt đối xử, và nguyên tắc “không có gì về chúng tôi mà không có (sự tham gia) của chúng tôi” (Nothing about us, without us) làm trung tâm (A Royal Commission, 2023). Trong khi đó, các quy định hiện hành của Việt Nam về người khuyết tật chủ yếu hướng đến hỗ trợ xã hội, chăm sóc  y tế và phục hồi chức năng. Đây cũng là điểm chưa tương thích trong quy định về cách tiếp cận của Việt Nam về quyền của người khuyết tật so với nguyên tắc của công ước CRPD coi người khuyết tật là “chủ thể” có quyền. 

b) Hoàn thiện thể chế về quyền của người khuyết tật

Bên cạnh hệ thống pháp luật liên bang với một đạo luật riêng về Luật Chống Phân biệt đối xử do Khuyết tật năm 1992, các bang và vùng lãnh thổ của Australia đều có luật chống phân biệt đối xử riêng và luật về chống phân biệt đối xử với người khuyết tật cũng như quy định về bảo vệ quyền của người khuyết tật trong các bộ luật liên quan như: Đạo luật liên bang về chống phân biệt đối xử với người khuyết tật năm 1992, Luật Chống Phân Biệt Đối Xử (Anti-Discrimination Act) năm 1977 của bang New South Wales; Luật Bình Đẳng Cơ Hội (Equal Opportunity Act) năm 2010 của bang Victoria; Luật Chống Phân Biệt Đối Xử (Anti-Discrimination Act) năm 1991 của bang Queensland; Luật Bình Đẳng Cơ Hội (Equal Opportunity Act) năm 1984 của  bang Western Australia; Luật Bình Đẳng Cơ Hội năm (Equal Opportunity Act) năm  1984 của bang South Australia; Luật Chống Phân Biệt Đối Xử năm (Anti-Discrimination Act) năm 1998 của bang Tasmania; Luật Phân Biệt Đối Xử (Discrimination Act) năm 1991 của  vùng Lãnh thổ Thủ đô Australia; Luật Chống Phân Biệt Đối Xử (Anti-Discrimination Act) năm 1992 của Lãnh thổ Bắc Australia (Northern Territory - NT) (UN Human rights Treaty bodies, 2012). Ngoài ra, các bộ luật chuyên ngành như Luật lao động công bằng( Fair Work Act) năm 2009, Luật về chương trình bảo hiểm khuyết tật quốc gia (National Disability Insurance Scheme Act) năm 2013 cũng có quy định cụ thể về quyền của người khuyết tật.

Ở cấp độ chính sách, chính phủ Australia đã thông qua Chiến lược quốc gia về người khuyết tật (theo các giai đoạn 10 năm: 2010-2020 và 2021-2031) (Australia’s Disability Strategy Advisory Council, 2021) Chiến lược này ghi nhận  thái độ, thực hành và cấu trúc là những rào cản đối với sự hoà nhập của người khuyết tật nên cần được xoá bỏ. Chiến lược quốc gia về người khuyết tật giai đoạn 2021-2031 tập trung thúc đẩy sự hoà nhập cho người khuyết tật, đặc biệt trong 7 lĩnh vực: việc làm và an ninh tài chính; nhà ở và cộng đồng hòa nhập; an toàn, quyền và công lý; hỗ trợ cá nhân và cộng đồng; giáo dục và học tập, sức khỏe và hạnh phúc; thái độ của cộng đồng. Chiến lược này cũng quy định rõ trách nhiệm của các cấp chính quyền từ liên bang, chính quyền các tiểu bang và chính quyền địa phương cũng như cộng đồng, doanh nghiệp  trong việc xoá bỏ phân biệt đối xử, cung cấp tài chính,  dịch vụ hỗ trợ và cơ sở hạ tầng cho người khuyết tật (UN Human rights Council, 2020).

Ở cấp độ chương trình, từ năm 2013 Ausstralia đã và đang triển khai Chương trình bảo hiểm khuyết tật quốc gia (National Disability Insurance Scheme - NDIS) (NDIS, 2025). Đây một sáng kiến có nguồn ngân sách lên tới hàng chục tỷ đô la mỗi năm để tạo ra cải cách sâu rộng của Chính phủ Australia nhằm hỗ trợ người khuyết tật một cách toàn diện, công bằng. Đến nay, NDIS đã trở thành hệ thống bảo trợ khuyết tật lớn nhất của Australia. Không giống mô hình hỗ trợ từ thiện hay trợ cấp truyền thống, điểm khác biệt nổi bật và cũng là thành công của chương trình bảo hiểm khuyêt tật này là việc áp dụng cách tiêp cận dựa trên quyền bằng cách cá nhân hóa - tức là lấy người khuyết tật làm trung tâm, để người khuyêt tật chủ động lựa chọn dịch vụ phù hợp, xây dựng kế hoạch phát triển cá nhân theo nhu cầu và mục tiêu của từng người. Các hỗ trợ trong NDIS bao gồm dịch vụ chăm sóc cá nhân, thiết bị hỗ trợ, giáo dục, đào tạo nghề, hỗ trợ giao thông, công nghệ trợ giúp và nhiều hình thức hỗ trợ khác, tùy theo nhu cầu cụ thể của từng cá nhân. NDIS là sự thể hiện cam kết của Australia trong việc thực thi Công ước của Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật (CRPD), hướng tới một xã hội bao trùm, công bằng và không ai bị bỏ lại phía sau (UN Human rights Council, 2020). Việt Nam chưa có Chiến lược quốc gia về người khuyết tật, tuy nhiên, Thủ tướng Chính phủ đã thông qua Chương trình trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2021-2030 nhằm mục tiêu thực hiện Công ước của Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật và Luật Người khuyết tật. Mặc dù đã đưa ra được các mục tiêu và hoạt động cụ thể về trợ giúp người khuyết tật, Chương trình của Việt Nam này chủ yếu vẫn áp dụng cách tiếp cận từ thiện mang tính “trợ giúp”.

Về mặt cơ chế, việc bảo vệ quyền của người khuyết tật tại Australia được xây dựng dựa trên sự phối hợp giữa các cơ quan chính phủ, cơ quan độc lập  của chính phủ và các thiết chế ngoài nhà nước, đặc biệt là các tổ chức đại diện của người khuyết tật. Thiết chế ở cấp liên bang có vai trò then chốt trong việc bảo vệ quyền người khuyết tật với  chức năng tiếp nhận, điều tra và hòa giải các khiếu nại về phân biệt đối xử do khuyết tật là Uỷ ban Nhân quyền Australia. Đây là cơ quan  tư vấn chính sách, giám sát thực thi và báo cáo tình hình thực hiện Công ước của Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật (CRPD) mà Australia là quốc gia thành viên.

Nhằm bảo vệ người khuyết tật khỏi tình trạng bị lạm dụng, Ủy ban Hoàng gia về bạo lực, lạm dụng, bỏ bê và bóc lột người khuyết tật (Royal Commission into Violence, Abuse, Neglect and Exploitation of People with Disability) đã được thành lập từ năm 2019. Đây là cơ quan trực thuộc chính phủ liên bang Australia nhưng được trao chức năng là cơ quan độc lập có chức năng điều tra các vi phạm, lạm dụng quyền người khuyết đặc biệt là các vi phạm xảy ra trong  môi trường học đường, y tế, cơ sở chăm sóc, nhà ở, nơi làm việc và các cơ sở dịch vụ cộng đồng - cả trong khu vực công và tư. Sự ra đời và hoạt động Ủy ban này là bước ngoặt quan trọng  nỗ lực cải cách một cách toàn diện hệ thống hỗ trợ và bảo vệ quyền của người khuyết tật nhằm thể hiện cam kết của Australia trong việc thực thi CRPD.

Trong khuôn khổ chính phủ liên bang, Bộ Dịch vụ xã hội Australia (Department of Social Services - DSS) cũng có chức năng xây dựng và thực hiện các chính sách liên quan đến người khuyết tật nhằm tạo điều kiện cho người khuyết tật tham gia vào quá trình hoạch định chính sách. Bên cạnh đó, để thực hiện Chương trình bảo hiểm khuyết tật quốc gia, chính phủ Australia đã thành lập Ủy ban Chất lượng và Bảo vệ (NDIS -Quality and Safeguards Commission) (UN Human rights Council, 2020). Uỷ ban là cơ quan giám sát các nhà cung cấp dịch vụ cho người khuyết tật trong khuôn khổ Chương trình bảo hiểm khuyết tật quốc gia. Cơ quan này có thẩm quyền thanh tra, xử phạt và điều chỉnh hoạt động của các đơn vị cung cấp dịch vụ nếu họ không tuân thủ quy chuẩn đạo đức và chất lượng (UN Human rights Council, 2020).

Ngoài ra, trong những thập kỷ gần đây, chính phủ Australia cũng đã triển khai nhiều sáng kiến, chương trình về hỗ trợ và bảo vệ người khuyết tật khác như: Khung việc làm quốc gia dành cho người khuyết tật (National Disability Employment Framework); Kế hoạch của Chính phủ Australia về cải thiện kết quả cho người khuyết tật là người bản địa; thành lập Hội đồng Cố vấn Quốc gia về Người khuyết tật và Người chăm sóc (National Disability and Carers Advisory Council); Mục tiêu dành 7% việc làm trong khu vực công cho người khuyết tật; xây dựng bộ dữ liệu quốc gia về người khuyết tật...” (Committee on the Rights of Persons with Disabilities, 2019).

3. Một số giá trị tham khảo cho Việt Nam

Những kết quả đạt được về hoàn thiện chính sách, pháp luật và cơ chế bảo đảm quyền của người khuyết tật trong thời gian qua của Australia đã được Uỷ ban giám sát việc thực hiện Công ước về quyền của người khuyết tật và các quốc gia ghi nhận và đánh giá cao (Committee on the Rights of Persons with Disabilities, 2019). Có thể kể đến một số kinh nghiệm cụ thể mà Việt Nam và các quốc gia có thể tham khảo để điều chỉnh và nâng cao hệ thống pháp lý, chính sách và thể chế bảo vệ người khuyết tật như sau:

Thứ nhất, coi tiếp cận dựa trên quyền con người là nền tảng và công cụ cho mọi hoạt động xây dựng, thực thi, giám sát chính sách, pháp luật về người khuyết tật. Trên cơ sở coi người khuyết tật là chủ thể của quyền, nhà nước cần tuân thủ các nguyên tắc và chuẩn mực về quyền được ghi nhận trong CRPD để thúc đẩy hòa nhập xã hội cho người khuyết tật. Việt Nam có thể tham khảo kinh nghiệm về tiếp cận dựa trên quyền để những điều chỉnh một số quy định pháp luật hiện hành về người khuyết tật chẳng hạn như mở rộng nội hàm khái niệm người khuyết tật để bao gồm cả các khuyết tật giả định, khuyết tật tiềm năng và đưa cách tiếp cận quyền và tiếp cận hoà nhập vào quá trình xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật thay vì tiếp cận y tế và từ thiện như hiện nay (đây cũng là một trong những khuyến nghị mà Việt Nam nhận được từ Uỷ ban Công ước về quyền của người khuyết tật tại phiên đối thoại thực hiện công ước lần thứ nhất vào tháng 3 năm 2025).

Thứ hai, tăng cường cơ chế giám sát và trách nhiệm giải trình để ngăn ngừa tình trạng lạm dụng, bỏ mặc và bảo vệ tốt hơn quyền của người khuyết tật. Như trên đã đề cập, chính phủ Australia đã rất chú trọng đến việc thành lập các cơ quan chuyên trách về người khuyết tật. Đây được coi như là bước đột phá để ngăn ngừa, phát hiện các vi phạm, thúc đẩy tính minh bạch và tăng cường tiếng nói của người khuyết tật trong  quá trình hoạch định thực thi chính sách, pháp luật về người khuyết tật. Việt Nam đã có các cơ quan có chức năng quản lý nhà nước, điều phối hoạt động về người khuyết tật như Cục trợ giúp xã hội (thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trước đây và từ tháng 3/2025 thuộc Bộ Y tế), Uỷ ban quốc gia về người khuyết tật và các tổ chức xã hội như hội người khuyết tật. Tuy nhiên, hoạt động của các cơ quan này cho thấy, còn thiếu một thiết chế chuyên trách, đủ mạnh để theo dõi việc thực thi quyền của người khuyết tật cũng như tạo điều kiện cho sự hoà nhập thực chất của người khuyết tật vào mọi mặt của đời sống xã hội. Việc đặt chức năng quản lý nhà nước về người khuyết tật thuộc Bộ Y tế cũng có thể dẫn đến thách thức trong việc áp dụng cách tiếp cận dựa trên quyền và mô hình xã hội trong các hoạt động thúc đẩy và bảo vệ quyền của người khuyết tật.

Thứ ba, Australia đã thành công trong việc triển khai chương trình bảo hiểm quốc gia cho người khuyết tật. Đây là chương trình tạo điều kiện để  người khuyết tật chủ động lựa chọn dịch vụ hỗ trợ phù hợp với tình trạng khuyết tật và nhu cầu của cá nhân thay vì việc đưa ra các chương trình trợ cấp mang tính đại trà. Việt Nam có thể tham khảo để thiết kế các  mô hình và hệ thống hỗ trợ tương tự, gắn với bảo hiểm xã hội hoặc chương trình an sinh xã hội khác cho người khuyết tật.

Thứ tư, thực hiện chính sách hòa nhập lao động cho người khuyết tật  cả trong khu vực công và khu vực tư  thông qua các chương trình tài trợ, đào tạo và điều chỉnh môi trường làm việc và thiết lập chỉ tiêu tuyển dụng... Để thúc đẩy sự hoà nhập của người khuyết tật, Chính phủ Australia đã có cam kết bảo đảm tỷ lệ 7% người khuyết tật được làm việc trong khối các cơ quan của nhà nước (Committee on the Rights of Persons with Disabilities, 2019). Đây là những kinh nghiệm mà Việt Nam có thể tham khảo nhằm tạo điều kiện hơn nữa cơ hội tiếp cận việc làm cho người khuyết tật, đặc biệt là trong khu vực công.

Kết luận

Thúc đẩy và bảo vệ quyền của người khuyết tật là cam kết và nghĩa vụ của mỗi quốc gia. Thực tiễn tại Australia cho thấy rằng, để đạt được sự hòa nhập cho người khuyết tật, cần một hệ thống chính sách toàn diện, lấy người khuyết tật làm trung tâm và một cơ chế pháp lý, giám sát hiệu quả. Việc thực hiện thay đổi tư duy tiếp cận, coi người khuyết tật không chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách, mà còn là chủ thể có quyền, có tiếng nói và vai trò quyết định trong việc xây dựng một xã hội bao trùm và không rào cản đóng vai trò hết sức quan trọng. Để làm được điều này, việc tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế, sẽ giúp Việt Nam tiến gần hơn tới mục tiêu phát triển bao trùm, công bằng và bền vững cho tất cả  mọi người, đặc biệt là các cho các nhóm dễ bị tổn thương như người khuyết tật./.

PGS.TS. Nguyễn Thị Thanh Hải

Nguyên Phó Viện trưởng Viện Quyền con nguười, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Bài viết được đăng trên Tạp chí Pháp luật về quyền con người số 52 (02/2026)

---

Tài liệu tham khảo

A Royal Commission. (2025). Final Report - Volume 4, Realising the human rights of people with disability, từ https://disability.royalcommission.gov.au. Truy cập ngày 10/5/2025.

Australia’s Disability Strategy Advisory Council. (2021).  Australia’s Disability Strategy 2021-2031, 2024 Update:Building a more inclusive Australia, từ https://www.disabilitygateway.gov.au. Truy cập ngày 10/5/2025,

Australian Bureau of statistics. (2022). Key statistics, từ https://www.abs.gov.au. Truy cập ngày 01/5/2025.

Australian Public Service Commision. (2025). Definition of disability, từ https://www.apsc.gov.au. Truy cập ngày 10/5/2025

Centrelink. (2025). Who can get Disability Support Pension?, từ https://web.archive.org. Truy cập ngày 01/5/2025.

Committee on the Rights of Persons with Disabilities. (2010). Initial reports submitted by States parties under article 35 of the Convention: Australia, từ https://tbinternet.ohchr.org. Truy cập ngày 10/5/2025.

Committee on the Rights of Persons with Disabilities. (2019). Concluding observations on the combined second and third periodic reports of Australia, 2019, từ https://docs.un.org/. Truy cập ngày 10/5/2025.

NDIS. (2025).  National Disability Insurance Agency, từ https://www.ndis.gov.au. Truy cập ngày 10/5/2025

Quốc hội Việt Nam. (2010). Luật về người khuyết tật.

UN Department of Economic and Social Affairs. (2025). World Programme of Action Concerning Disabled Persons, từ  https://www.un.org. Truy cập ngày 01/5/2025.

UN Human rights Council. (2020). National report submitted in accordance with paragraph 5 of the annex to Human Rights Council resolution 16/21* Australia, 2020, từ https://docs.un.org. Truy cập ngày 10/5/2025.

UN Human rights Office of the High Commisioner. (2025). About the human rights of persons with disabilities, từ https://www.ohchr.org/en/disabilities/about-human-rights-persons-disabilities. Truy cập ngày 12/5/2025.

UN Human rights Office of the High Commisioner. (2025). International Human Rights Law, từ https://www.ohchr.org/en/instruments-and-mechanisms/international-human-rights-law. Truy cập ngày 12/5/2025.

UN Human rights Treaty bodies. (2012).  Initial reports submitted by States parties under article 35 of the Convention, Australia, Annex B, 2012, từ  https://tbinternet.ohchr.org. Truy cập ngày 10/5/2025.

United Nations. (1989). Công ước Quyền trẻ em.

United Nations. (2007). Công ước về quyền của người khuyết tật.

WHO. (2025). Disability, từ https://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/disability-and-health. Truy cập ngày 31/3/2025.