Tóm tắt: Bài viết tiếp cận vấn đề bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua cơ chế đối thoại trên lĩnh vực quyền con người. Theo đó, tác giả tập trung nhận diện những biểu hiện mới mang tính tinh vi của các thế lực thù địch, đặc biệt là lợi dụng việc tổ chức đối thoại công khai và sử dụng mạng xã hội để xuyên tạc về quyền con người ở Việt Nam. Trên cơ sở hệ thống quan điểm chỉ đạo và sự định hướng quyết liệt của Đảng ta trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII và lần thứ XIV, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm củng cố niềm tin chiến lược của Nhân dân, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới.
Từ khóa: Đối thoại; Quyền con người; Bảo vệ nền tảng tư tưởng; Văn kiện Đại hội XIII; Văn kiện Đại hội XIV; Chuyển đổi số.
Abstract: This article addresses the issue of protecting the ideological foundation of the Communist Party of Vietnam through dialogue mechanisms in the field of human rights. Accordingly, the author focuses on identifying new and sophisticated manifestations of hostile forces, especially their exploitation of public dialogue and the use of social media to distort the image of human rights in Vietnam. Based on the guiding principles and decisive direction of the Party as outlined in the documents of the 13th and 14th National Congresses, the article proposes several solutions to strengthen the people's strategic trust and firmly protect the Party's ideological foundation in the new era.
Keywords: Dialogue; Human rights; Protecting the ideological foundation; 13th National Congress documents; 14th National Congress documents; Digital transformation.

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Đỗ Hùng Việt thay mặt đoàn Việt Nam trình bày báo cáo quốc gia
tại phiên đối thoại về Báo cáo quốc gia của Việt Nam theo cơ chế rà soát định kỳ phổ quát
của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc
1. Đối thoại trên lĩnh vực quyền con người
Trong cách hiểu truyền thống, đối thoại thường được xem như một cuộc trao đổi bình đẳng nhằm tăng cường hiểu biết. Tuy nhiên, trong khoa học chính trị hiện đại, đối thoại trên lĩnh vực quyền con người tại Việt Nam là một không gian rộng, nơi Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chủ động sử dụng quyền lực mềm và các quy định của pháp luật để giải tỏa các xung đột nhận thức, đồng thời thu hẹp các khoảng cách khác biệt về văn hóa, lịch sử giữa Việt Nam với các tiêu chuẩn quốc tế. Đối thoại về quyền con người là sự trao đổi, thương lượng một cách bình đẳng giữa những người tham gia đối thoại trên cơ sở pháp lý nhất định để hướng vào một chủ đề cụ thể, nhằm nhận thức sâu thêm về nhau và đạt tới một chân lý cao hơn cho cả hai bên, hoặc tiến đến giải quyết được một vấn đề nhất định liên quan đến danh dự, nhân phẩm hay quyền lợi cụ thể của các bên đối thoại. Trong điều kiện xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mục tiêu và bản chất của đối thoại trên lĩnh vực quyền con người trước tiên và chủ yếu là nhằm thực hiện, phát huy nền dân chủ xã hội chủ nghĩa trong toàn thể nhân dân; từ đó cảm hóa, làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động. Mục tiêu căn cơ của đối thoại không phải là mang lại “chiến thắng” đơn phương, mà là hướng tới giải pháp “cùng thắng”, giúp các bên đạt tới nhận thức chung mà không cần viện dẫn đến các công cụ pháp lý xung đột khác.
Hệ thống quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các thời kỳ là nền tảng chính trị vững chắc cho hoạt động đối thoại, có thể kể đến như: Chỉ thị số 12-CT/TW ngày 12-7-1992 của Ban Bí thư khóa VII yêu cầu phân biệt rõ từng loại đối tượng để xác lập mối quan hệ phù hợp giữa đối thoại với đấu tranh, cởi mở với người thiếu thông tin nhưng phải vạch trần luận điệu của lực lượng thù địch; Chỉ thị số 44-CT/TW ngày 20-7-2010 của Ban Bí thư khóa X khẳng định thông qua đối thoại để làm các nước hiểu đúng thành tựu quyền con người của Việt Nam, thu hẹp bất đồng và tranh thủ sự ủng hộ quốc tế; Văn kiện Đại hội X (2006) nêu rõ lập trường sẵn sàng đối thoại với các nước, các tổ chức quốc tế, đồng thời kiên quyết làm thất bại âm mưu can thiệp công việc nội bộ; Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 9-10-2014 của Bộ Chính trị khóa XI xác định định hướng đối thoại thẳng thắn với những người có quan điểm khác trên tinh thần khoa học, dân chủ, thuyết phục; Văn kiện Đại hội XII (2016) và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII chỉ đạo các cấp ủy, chính quyền phải thường xuyên đối thoại, lắng nghe nhân dân và tổ chức diễn đàn trao đổi về các vấn đề còn có nhận thức khác nhau; Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị khóa XII: Vẫn là văn kiện xương sống, định hình nguyên tắc: Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch phải gắn liền với việc khẳng định, phát huy các giá trị tiến bộ, nhân văn của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thành tựu thực tiễn của đất nước. Việc thúc đẩy đối thoại chính là phương thức vừa xây vừa chống một cách chủ động. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng (2021) đã chỉ rõ: Tập trung vào cơ chế giám sát và quyền của người dân: “Tập trung giải quyết kịp thời, có hiệu quả những bức xúc, kiến nghị chính đáng của nhân dân và các khiếu nại, tố cáo của công dân” (Tập I, tr.193). Đặc biệt nhấn mạnh việc bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm và yêu cầu người đứng đầu phải “tăng cường tiếp xúc, đối thoại, lắng nghe, tiếp thu, giải quyết những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị chính đáng của nhân dân” (Tập I, tr.192).
Gần đây nhất, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng (2026) với định hướng “Kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”. Đại hội XIV đánh dấu bước phát triển đột phá về tư duy quản trị quốc gia, thẳng thắn nhìn nhận và yêu cầu kiên quyết khắc phục triệt để tình trạng "dân chủ hình thức" trong bộ máy nhà nước. Theo đó, Văn kiện Đại hội XIV chỉ rõ: Trong kỷ nguyên số và chuyển đổi số toàn diện, năng lực đối thoại, giải trình của cơ quan hành chính trước người dân được nâng tầm thành thước đo cốt lõi của “lòng tin chiến lược”. Đảng yêu cầu đa dạng hóa các kênh đối thoại, ứng dụng công nghệ dữ liệu lớn và AI để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân theo thời gian thực; không để xảy ra tình trạng chủ quan để các thế lực thù địch có thể chen chân vào xuyên tạc nền tảng tư tưởng. Đảng ta nhấn mạnh “Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải thực sự xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; lấy việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hạnh phúc và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu”(Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, Tập 2, tr. 382).
Về cơ sở pháp lý của đối thoại trên lĩnh vực quyền con người ở Việt Nam rất phong phú, có cả cơ sở pháp lý quốc gia và quốc tế bảo đảm cho hoạt động đối thoại bao gồm: Bộ luật Quốc tế về quyền con người và các công ước i mà Việt Nam là thành viênquy định rõ quyền con người có thể bị hạn chế bằng pháp luật vì lý do an ninh quốc gia, trật tự công cộng, đạo đức xã hội hoặc quyền của người khác. Đối với pháp luật trong nước, Điều 28 Hiến pháp năm 2013 quy định quyền của công dân trong việc tham gia quản lý nhà nước, thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước; đồng thời bắt buộc Nhà nước phải công khai, minh bạch trong tiếp nhận, phản hồi ý kiến. Các văn bản luật chuyên ngành quy định cụ thể cơ chế đối thoại như: Chương 5 Bộ luật Lao động năm 2019 về đối thoại tại nơi làm việc; Luật Khiếu nại năm 2011 (Điều 30, 53) về quy trình đối thoại giải quyết khiếu nại; Luật Tố tụng hành chính năm 2015 (Điều 158, 159) về đối đáp khi tranh luận; Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013; Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2020; và Luật Báo chí năm 2016 về quyền tự do ngôn luận trên báo chí.Luật thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022. Trước đó, Chỉ thị số 41/2004/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ xác định nguyên tắc sẵn sàng đối thoại về quyền con người trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau là văn bản rất quan trọng để bảo đảm cho đối thoại.
2. Phương thức và thực tiễn hoạt động đối thoại về quyền con người tại Việt Nam trong thời gian qua
Hiện nay, đối thoại được triển khai linh hoạt thông qua hai phương thức chính gồm: Thứ nhất là đối thoại trong nước: được thực hiện với các tổ chức, cá nhân trong nước dưới hình thức “dân bàn”, đối thoại giữa chính quyền với người lao động và doanh nghiệp, tiếp công dân của người đứng đầu, hòa giải ở cơ sở, hòa giải tại Tòa án và các diễn đàn khoa học góp ý hoàn thiện thể chế. Các phương thức này giúp giải quyết các hạn chế, vướng mắc thực tế trong tôn trọng, bảo vệ quyền con người, công dân. Thứ hai là đối thoại quốc tế: được tiến hành ở các diễn đàn song phương và đa phương với các tổ chức thuộc hệ thống Liên hợp quốc (cơ chế UPR, các thủ tục đặc biệt), các tổ chức quốc tế (ILO, WTO), các tổ chức khu vực (ASEAN, EU) và các quốc gia (Mỹ, Thụy Sĩ, Na Uy, Australia, Đan Mạch...). Việc vận hành các phương thức bảo đảm theo nguyên tắc bảo đảm chủ quyền quốc gia, bình đẳng, nhằm thu hẹp bất đồng văn hóa, pháp lý và phản bác những luận điệu sai trái về quyền con người ở Việt Nam.
Trong nhiều năm qua, hoạt động đối thoại trong nước đã thúc đẩy mạnh mẽ tinh thần làm chủ của nhân dân qua cơ chế thực hiện dân chủ ở cơ sở, giải quyết thấu đáo nhiều vướng mắc về đất đai, đền bù giải phóng mặt bằng và ký kết các thỏa ước lao động tập thể. Trên hoạt động hành chính và tư pháp, Luật Hòa giảiở cơ sở năm 2013 (sửa đổi bổ sung 2024), Luật thực hiện dân chủ ởcơ sở 2022, Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2020 đã hỗ trợ các bên tự nguyện thỏa thuận, bảo vệ hiệu quả công lý và quyền con người, quyền công dân. Ở các cơ chế quốc tế, Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc các chu kỳ UPR (gần nhất là thông qua Báo cáo quốc gia UPR chu kỳ IV ngày 10/5/2024 tại Geneva) và tái đắc cử thành viên Hội đồng Quyền con người Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2026–2028 vào tháng 10/2025, khẳng định tư thế chủ động, tự tin của quốc gia. Tuy nhiên, qua hoạt động thực tiễn cũng bộc lộ những hạn chế nhất định trong đối thoại: Tính chuyên nghiệp trong đối thoại chưa cao, thiếu chuyên gia sâu và sự phối hợp giữa các bộ, ngành có lúc thiếu chặt chẽ. Một bộ phận cán bộ cơ sở vẫn mang tâm lý thờ ơ, vô cảm, né tránh đối thoại hoặc đối thoại chiếu lệ, trong khi Văn kiện Đại hội XIII (Tập I, tr. 92) đã cảnh báo tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn còn phức tạp, làm giảm sức thuyết phục của chính quyền khi đối diện với nhân dân.
3. Nhận diện và phản bác âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng đối thoại để chống phá
Từ thực tiễn một số vụ việc gây ảnh hưởng về an ninh trật tự trong thời gian qua (như các vụ khiếu kiện đất đai kéo dài tại một số địa phương, hoặc việc lợi dụng không gian mạng trong các phiên tòa xét xử các đối tượng vi phạm pháp luật), phương thức lợi dụng đối thoại của chúng vận hành theo một quy trình khép kín và rất tinh vi thông qua 5 bước đó là: (1).Bắt đầu từ một sự việc thông thường trong quan hệ hành chính; (2) Cuộc đối thoại; (3). Chúng cài cắm đối tượng (kích động, lén lút ghi hình cắt xén hoặc Livestream phi bối cảnh; (4). Khuếch đại (thông qua Zalo, TikTok, Facebook, YouTube) và ( 5) quốc tế hóa thông tin.
Như vậy, thông qua các bước trên cho thấy ở bước 1: Cài cắm và kích động khi chính quyền tổ chức các buổi tiếp dân hoặc đối thoại giải quyết quyền lợi (ví dụ: đối thoại về giá đền bù giải phóng mặt bằng đường cao tốc, khu công nghiệp), các đối tượng cơ hội hoặc bị giật dây sẽ không tập trung vào bản chất pháp lý của vụ việc. Chúng cố tình đưa ra những yêu sách phi lý, vượt quá quy định của pháp luật, đồng thời sử dụng lời lẽ lăng mạ, thách thức nhằm mục đích để cán bộ mất bình tĩnh, có những phát ngôn hoặc hành vi sơ hở.
Đến bước 2: Ghi hình cắt xén phi bối cảnh, đồng bọn bên dưới sẽ dùng điện thoại thông minh góc quay kín hoặc livestream trực tiếp. Khi biên tập lại, chúng sử dụng kỹ thuật để bỏ gần như hoàn toàn thời lượng cuộc đối thoại về nội dung cán bộ giải thích, đưa ra các phương án hỗ trợ sinh kế hợp pháp cho người dân. Đồng thời, chúng chỉ giữ lại một thời lượng ngắn ghi lại cảnh người dân phản đối,, la hét, bức xúc hoặc cảnh lực lượng chức năng làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh. Tại bước 3: chúng khuếch đại bằng cách tạo dòng dư luận độc hại: Các video này được giật tít đánh tâm lý hoặc sự phẫn nộ của xã hội kiểu rất oan ức như: “Chính quyền đàn áp dân nghèo tại buổi đối thoại”, “Sự thật kinh hoàng đằng sau cuộc tiếp dân”. Chúng sử dụng nhiều tài khoản ảo và phân phối dựa trên tương tác tiêu cực của Facebook, TikTok, các clip này có rất nhiều lượt xem trước khi cơ quan chức năng kịp có thông tin phản hồi chính thống.
Khi đạt được ở bước 3, chúng chuyển hóa rất nhanh sang bước 4 thành một dạng “chứng cứ” ngoại giao nhân quyền: Các tổ chức phản động lưu vong như BPSOS (Ủy ban Cứu người vượt biển) hay các trang mạng của các thế lực thù địch sẽ thu thập các clip cắt ghép này, dịch thuật sai lệch nhằm mục đích chống phá ngay trước thềm các phiên đối thoại nhân quyền song phương giữa Việt Nam với một số quốc gia (Mỹ, EU).
Thực tế, có tình trạng xa dân, quan liêu của một bộ phận cán bộ tạo ra kẽ hở để các thế lực thù địch lợi dụng, biến quyền con người thành mũi nhọn tấn công trong chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Chúng ra sức tuyên truyền luận điệu cực đoan “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, tuyệt đối hóa quyền cá nhân tách rời nghĩa vụ công dân nhằm hạ thấp uy tín của Đảng, đòi đa nguyên đa đảng và xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp.
Thiết nghĩ ràng, để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, công tác nhận diện phải được thực hiện một cách khoa học, đối chiếu trực diện giữa xu hướng đối thoại chân chính và hành vi lợi dụng chống phá thông qua bảng tiêu chí hệ thống sau:
|
Tiêu chí đối chiếu |
Thúc đẩy đối thoại chân chính, dân chủ |
Lợi dụng đối thoại để chống phá, can thiệp |
|
Mục tiêu hướng tới |
Giải quyết vướng mắc của dân; tìm tiếng nói chung; củng cố niềm tin chiến lược vào chế độ; các bên cùng thắng. |
Giật gân, tạo scandal truyền thông; bôi nhọ uy tín chính quyền; ép cơ quan chức năng vào thế yếu chính trị. |
|
Thái độ ứng xử |
Lắng nghe chân thành, cầu thị, tôn trọng luật pháp; giải thích thấu tình đạt lý |
Kích động, lăng mạ, tạo tâm lý đám đông cực đoan; sử dụng biểu ngữ, di ảnh gây áp lực trái pháp luật. |
|
Phương thức tiến hành |
Tiến hành công khai, minh bạch; cung cấp thông tin chính thống; cam kết trách nhiệm hậu đối thoại. |
Ghi hình lén lút; cắt ghép video thành clip ngắn sai lệch bản chất để tung lên mạng xã hội. |
Khi mọi người dân dựa vào những căn cứ cụ thể đều có thể nhận diện được, việc phản bác cần chuyển dịch từ thế “phòng thủ thụ động” sang “chủ động tấn công” bằng cách đưa các nội dung nhạy cảm ra thảo luận công khai theo quy định của pháp luật, biến đối thoại trực diện thành công cụ, phương tiện đập tan luận điệu xuyên tạc đen tối của chúng.
4. Giải pháp thúc đẩy đối thoại gắn với bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên lĩnh vực quyền con người
Thứ nhất, nâng cao đạo đức công vụ và năng lực đối thoại kỹ thuật số cho đội ngũ cán bộ cơ sở đến các cấp
Từ yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất, năng lực, uy tín; khắc phục tình trạng né tránh trách nhiệm; tăng cường nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân và đẩy mạnh chuyển đổi số, có thể thấy trong bối cảnh hiện nay, đội ngũ cán bộ, công chức cần nâng cao năng lực đối thoại với Nhân dân. Cán bộ cơ sở là bộ mặt của Đảng và Nhà nước hơn bao giờ hết khi tổ chức chính quyền địa phương hai cấp; người dân đánh giá chế độ thông qua thái độ của người cán bộ tiếp dân hằng ngày. Vì vậy, cần thực hiện nghiêm định hướng của Văn kiện Đại hội XIV: “Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”(Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, Tập 2, tr. 266). Kiên quyết loại bỏ khỏi bộ máy những cán bộ, công chức có biểu hiện thờ ơ, vô cảm, né tránh đối thoại với Nhân dân để tránh tình trạng “Một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức năng lực, phẩm chất, uy tín còn hạn chế; tình trạng đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, sợ sai, sợ trách nhiệm còn diễn ra ở một số nơi.” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, Tập 2, khoảng tr. 178–180). Bên cạnh đó, phải đào tạo bài bản cho cán bộ kỹ năng làm chủ công nghệ và truyền thông hiện đại; giúp họ giữ bình tĩnh trước sự kích động, biết cách thuyết phục nhân dân và chủ động ghi hình, lưu giữ bằng chứng khách quan của cuộc đối thoại để sẵn sàng đối chứng khi thông tin bị cắt ghép độc hại trên mạng xã hội. Cán bộ, công chức phải chủ động tham gia đấu tranh trên không gian mạng nhằm củng cố niềm tin xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Thứ hai, cần thiết lập và ứng dụng công nghệ ngay tại không gian đối thoại
Một mặt để chủ động cho hoạt động đối thoại diễn ra một cách công khai, minh bạch, mặt khác không tạo khe hở cho các đối tượng xuyên tạc thì biên bản đối thoại phải được số hóa, có chữ ký xác nhận của các bên ngay tại chỗ. Đây chính là căn cứ rất quan trọng để khi đối phương tung clip cắt ghép lên mạng, cơ quan chức năng lập tức phát hành toàn bộ video gốc không cắt sửa lên các kênh truyền thông chính thống để nhân dân dễ nhận diện, đối chứng, làm vô hiệu hóa được luận điệu xuyên tạc, bảo vệ uy tín của tổ chức Đảng và chính quyền. Mọi cuộc đối thoại lớn hoặc đợt giải quyết vướng mắc cho dân cần được biên tập thành các video ngắn, đồ họa thông tin sinh động, phát sóng rộng rãi trên các nền tảng số (Zalo, TikTok, Facebook, YouTube). Việc chủ động đưa ra thông tin chính thống, thể hiện rõ được cầu thị của chính quyền và vạch trần những hành vi âm mưu sẽ giúp người dân tự nhận diện đúng - sai, từ đó gieo mầm sự đồng thuận trong dư luận. Mặt khác, khi tiến hành hoạt động đối thoại, tất cả các cuộc đối thoại từ cấp xã trở lên liên quan đến các vấn đề nhạy cảm (đất đai, tôn giáo, chính sách xã hội) phải được cơ quan nhà nước chủ động ghi âm, ghi hình toàn bộ bằng thiết bị chuyên dụng một cách công khai.
Thứ ba, hoàn thiện cơ chế pháp lý phòng ngừa và xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng đối thoại
Dân chủ trở thành thuộc tính, bản chất của nhà nước ta. Dân chủ phải đi đôi với kỷ cương, đối thoại phải diễn ra trong khuôn khổ pháp luật theo đúng tinh thần Văn kiện Đại hội XIII (Tập I, tr. 118) về tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội. Cần ban hành quy định pháp lý cụ thể, nghiêm cấm hành vi tự ý ghi âm, ghi hình và cắt ghép sai sự thật các cuộc đối thoại công khai nhằm mục đích kích động, bôi nhọ tổ chức, cá nhân trên mạng xã hội. Đối với các đối tượng cố tình lợi dụng danh nghĩa đối thoại nhân quyền để nhận tài trợ từ các tổ chức phản động nước ngoài, lôi kéo khiếu kiện đông người gây mất an ninh trật tự, cần phải kiên quyết xử lý công khai thelysquy định của Bộ luật Hình sự.
KẾT LUẬN
Làm sao để trong lòng mỗi người dân Việt Nam tồn tại một cảm xúc vừa tự hào, vừa thấy rõ trách nhiệm lớn lao trước kỷ nguyên mới của đất nước? Có nhiều cách bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng nhưng không phải bằng cách tách biệt với thế giới, hay bằng cách né tránh, bỏ qua những ý kiến trái chiều. Trong kỷ nguyên mới của đất nước, chúng ta bảo vệ Đảng bằng chính sự tự tin về những thành quả đối thoại trên lĩnh vực quyền con người, bằng bản lĩnh đối thoại, bằng việc dám nhìn thẳng vào những thiếu sót để tốt hơn. Đối thoại trên lĩnh vực về quyền con người ở Việt Nam trong thời gian qua đã thực sự trở thành không gian của sự thiện chí,quyết tâm, nơi lòng dân và ý Đảng giao thoa. Vì vậy, không một thế lực hay công nghệ tinh vi nào có thể lay chuyển được niềm tin chiến lược của Nhân dân với Đảng. Chỉ khi có Đảng và chúng ta cùng nhau chung tay bảo vệ vững chắc thể chế chính trị mới có thể đưa đất nước Việt Nam vững trãi bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
TS. Nguyễn Thị Thủy
Học viện Chính trị khu vực II
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Chính trị. (2018). Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập I). Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập II). Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I & Tập II). Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật.
5. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. (2021). Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người. Nhà xuất bản Lý luận Chính trị.
6. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. (2013). Hiến pháp năm 2013. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật.