TS. Nguyễn Thị Quý

Vụ giáo dục Phổ thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo

Nguyễn Khánh Linh

Sinh viên K22 Truyền thông Đa phương tiện - Trường Đại học Hà Nội

Tóm tắt: Vấn đề truyền thông cho nhóm dễ bị tổn thương là một nội dung quan trọng của nhiều nước trên thế giới, đặc biệt trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của truyền thông số. Bài viết phân tích hai khía cạnh chính: khái niệm, cơ sở pháp lý và thực tiễn truyền thông của nhóm dễ bị tổn thương và những chuyển biến trong cách tổ chức National Geographic khắc hoạ hình ảnh châu Phi trong quá khứ và hiện tại. Từ đó, bài viết đề xuất một số giá trị tham khảo cho truyền thông Việt Nam đối với nhóm dễ bị tổn thương nhằm đảm bảo quyền con người của họ.

Từ khoá: National Geographic; nhóm dễ bị tổn thương; quyền con người; truyền thông; Việt Nam.

Abstract: Media representation of the marginalised community is an important concern for many countries, especially in the fast-growing digital age. This article analyses two main facets: the definition, legal basis and reality of media representation of the marginalised; and a case study of the changes in National Geographic’s approach to depicting Africa in the past and in the present. Based on the analysis, the article identifies several reference values that may contribute to improving Vietnamese media representation of the marginalised to protect their human rights.

Keywords: Human rights; International experience; Marginalised groups; Media representation; Vietnam.

Ảnh minh họa. Nguồn: lyluanchinhtri.vn

Đặt vấn đề

Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, cách phản ánh các nhóm dễ bị tổn thương có thể góp phần xóa bỏ hoặc củng cố định kiến xã hội. Do vậy, việc thúc đẩy truyền thông khách quan và có đạo đức là góp phần đảm bảo quyền con người cho những nhóm đối tượng này. National Geographic là một trường hợp có giá trị tham khảo khi nghiên cứu về mối liên hệ giữa truyền thông và quyền con người. Với vị thế là một tổ chức truyền thông - giáo dục mang tầm cỡ toàn cầu, National Geographic có ảnh hưởng lớn trong việc định hình cách số đông nhìn nhận về các nền văn hoá khác nhau trên thế giới. Trên cơ sở đó, bài viết làm rõ khái niệm và cơ sở pháp lý về bảo đảm quyền của nhóm dễ bị tổn thương; so sánh cách National Geographic khắc họa châu Phi trong quá khứ và hiện tại; từ đó đề xuất một số giá trị tham khảo cho truyền thông Việt Nam nhằm thúc đẩy cách tiếp cận dựa trên quyền con người.

1. Khái niệm về “Nhóm dễ bị tổn thương” và chuẩn mực quốc tế

Thuật ngữ “Nhóm người dễ bị tổn thương” (vulnerable groups) mới bắt đầu được sử dụng trong những văn kiện pháp lý liên quan đến quyền con người vào cuối những năm 80 của thế kỷ XX (Forbes-Mewett, 2019, tr. 7). Dù đi dưới nhiều tên gọi khác nhau như nhóm yếu thế (weaker groups), nhóm thiệt thòi (disadvantaged groups), nhóm bị lề hoá (marginalised groups), nhóm thiểu số (minority groups).., khái niệm này chỉ chung nhóm người “có vị thế về chính trị, xã hội hoặc kinh tế thấp hơn, từ đó khiến họ có nguy cơ cao hơn bị bỏ quên hay bị vi phạm các quyền con người, và bởi vậy, họ cần được chú ý bảo vệ đặc biệt so với những nhóm, cộng đồng người khác” (Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010, tr. 23). Những đặc điểm về giới tính, độ tuổi, tình trạng khuyết tật, dân tộc, ngôn ngữ, chủng tộc, tình trạng kinh tế, xu hướng tính dục, nơi cư trú hoặc lối sống có thể làm tăng nguy cơ bị gạt ra bên lề của một số cá nhân (Schifer & Schatz, 2008, tr. 6). Theo báo cáo Phát triển con người năm 2016 của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), dù chỉ số phát triển con người trung bình (HDI) toàn cầu đã được cải thiện đáng kể trong giai đoạn 1990-2015, trong ba người thì khoảng một người vẫn sống trong điều kiện phát triển con người thấp (tr. 53). Đáng chú ý, phụ nữ được coi là đối tượng dễ bị tổn thương nhất toàn cầu với nhiều rào cản về cơ hội việc làm, thu nhập, giáo dục, và tham gia chính trị.

Tại Việt Nam, văn bản luật duy nhất quy định về khái niệm người dễ bị tổn thương là Luật Phòng, chống thiên tai năm 2013. Tại khoản 4 Điều 3, Luật ghi: “Đối tượng dễ bị tổn thương là nhóm người có đặc điểm và hoàn cảnh khiến họ có khả năng phải chịu những tác động bất lợi hơn từ thiên tai so với những nhóm người khác trong cộng đồng. Đối tượng dễ bị tổn thương bao gồm trẻ em, người cao tuổi, phụ nữ đang mang thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người khuyết tật, người bị bệnh hiểm nghèo và người nghèo…” Khái niệm này được đánh giá là “khá hẹp” so với chuẩn mực quốc tế khi chỉ giới hạn trong những nạn nhân dễ gặp bất lợi về thiên tai (Lê Thị Diễm Hằng, 2022, tr. 15). Phạm vi nhóm người này có thể được hiểu rộng hơn, bởi “mỗi chúng ta, vào lúc này hay lúc khác, trong hoàn cảnh này hay hoàn cảnh khác, đều có thể thuộc về một hoặc vài nhóm dễ bị tổn thương” (Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011, tr. 18).

Trên bình diện quốc tế, dù chưa có một văn bản hay công ước thống nhất về định nghĩa của nhóm người dễ bị tổn thương, việc bảo vệ các nhóm này là nội dung xuyên suốt của hệ thống pháp luật quốc tế về quyền con người. Quyền và lợi ích của họ được nêu cao trong nhiều văn kiện quốc tế quan trọng về quyền con người như Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945; Tuyên ngôn Thế giới về Quyền con người (UDHR) năm 1948; Tuyên bố Viên và Chương trình hành động năm 1993; Tuyên bố thiên niên kỷ của Liên hợp quốc năm 2000, … Liên hợp quốc đã thông qua những công ước để bảo vệ quyền lợi của những nhóm xã hội dễ bị tổn thương khác nhau, ví dụ như Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ năm 1979; Công ước về quyền trẻ em năm 1989; Công ước về quyền của người khuyết tật năm 2006, v.v.. (Tường Duy Kiên, 2024, tr. 41). Một trong những quyền đặc biệt được nhấn mạnh với nhóm người dễ bị tổn thương là quyền không bị phân biệt đối xử. Tuy nhiên, việc thừa nhận quyền này không có nghĩa là “cào bằng” các quyền cho mọi chủ thể, mà đối với nhóm người này, do hoàn cảnh cá nhân và xuất phát điểm thấp hơn nên cần có những quyền đặc thù để đạt được sự bình đẳng thực chất về quyền con người (Lê Thị Diễm Hằng, 2022, tr. 16). Điều này được xem như là cách tiếp cận công lý chiều dọc (vertical justice) khi quyền và nghĩa vụ của các nhóm chủ thể không có khả năng ngang nhau phải khác nhau và tương ứng với khả năng của họ (Lê Lan Chi, 2019, tr. 33).

2. Truyền thông về “Nhóm dễ bị tổn thương”

Truyền thông có vai trò quan trọng trong việc hình thành nhận thức và định hướng dư luận. Đối với nhóm dễ bị tổn thương, cách truyền thông sử dụng hình ảnh và ngôn ngữ có thể có tác động mạnh đến nhận thức xã hội về nhóm đối tượng này, thách thức hay gia tăng định kiến tuỳ vào góc độ khắc hoạ của người đưa tin (Jariah, 2025, tr. 95). Trong thời đại công nghệ số, sự phát triển của các nền tảng mạng xã hội đem đến cả cơ hội khi nhóm dễ bị tổn thương có công cụ để tự lên tiếng và xây dựng hình ảnh của mình. Tuy nhiên, môi trường số không hoàn toàn trung lập. Nghiên cứu bởi Sayed và Hotait (2024) chỉ ra rằng thuật toán trên các nền tảng mạng xã hội có xu hướng ưu tiên thông tin phù hợp với thị hiếu số đông, vì vậy giảm khả năng tiếp cận của những nội dung mang tính thách thức các góc nhìn phổ cập.

Nghiên cứu của Arguedas và cộng sự (2023) chỉ ra những điểm giống nhau cơ sở trong những bất cập truyền thông mà nhóm người dễ bị thiệt thòi gặp phải. Do vị thế hạn chế trong bộ máy chính trị, kinh tế, và xã hội; tin tức về họ thường mang tính chất định kiến và phiến diện, được xây dựng dựa trên tương tác người xem hơn là sự thật khách quan. Kahneman (Kahneman, 2011, tr. 159) nhận xét, truyền thông không chỉ định hình điều công chúng quan tâm mà bản thân truyền thông cũng được xây dựng từ những mối quan tâm của công chúng. Sự bóp méo sự thật này có thể không có nhiều ảnh hưởng tới những đối tượng bình thường, nhưng chúng có ảnh hưởng lớn tới nhóm đối tượng đã ở trong tình trạng bất lợi. Hậu quả bao gồm: suy giảm niềm tin vào các cơ sở truyền thông, duy trì các định kiến xã hội, và gia tăng khoảng cách giữa các nhóm trong xã hội (Arguedas et al., 2023, tr. 4).

Từ góc độ quyền con người, yêu cầu về truyền thông có trách nhiệm gắn liền với nguyên tắc mọi người bình đẳng trước pháp luật và không bị phân biệt đối xử, được ghi nhận tại Điều 16 Hiến pháp (Quốc hội, 2013). Việc đưa tin định kiến, hạ thấp phẩm giá có thể làm phương hại đến việc thụ hưởng bình đẳng các quyền và làm suy yếu sự bảo vệ xã hội dành cho những người vốn đang ở vị thế dễ bị tổn thương. Những cách tiếp cận như nhấn quá mức vào sự khốn khó và hình ảnh nạn nhân bất lực, hoặc đổ lỗi cho nạn nhân có thể vô tình làm sâu sắc thêm định kiến và tình trạng thiệt thòi của các nhóm đối tượng. Theo đó, tiếp cận dựa trên quyền con người trong báo chí đòi hỏi người làm truyền thông nhìn nhận nhân vật là chủ thể có phẩm giá, quyền riêng tư, quyền được tham gia, và quyền được phản ánh công bằng. Chương trình tập huấn “Kỹ năng đưa tin về nhóm dễ bị tổn thương” tại Hội Nhà báo Việt Nam (2024) đã định hướng bốn nguyên tắc chính trong hoạt động báo chí: (1) Tiếp cận dựa trên quyền con người; (2) Tôn trọng sự đa dạng, loại bỏ định kiến, kỳ thị; (3) Đa chiều và khách quan trong đưa tin; (4) Tuân thủ nguyên tắc đạo đức.

Các khuyến nghị từ nghiên cứu của Arguedas và cộng sự (2023) nhấn mạnh việc người làm truyền thông cần nhận thức rằng không một cá nhân nào có thể đại diện cho toàn bộ cộng đồng, vì vậy việc tôn trọng sự khác biệt của từng cá nhân là cốt lõi của thực hành truyền thông có trách nhiệm.

3. Cách National Geographic truyền thông về châu Phi

a) Trong quá khứ

National Geographic Society được thành lập năm 1888 bởi 33 học giả và nhà khoa học với mong muốn thành lập một tổ chức khoa học Mỹ có danh tiếng tương tự với Hội Địa lý Hoàng gia Anh (Poole, 2004). Tạp chí, cho đến thời điểm hiện tại, đã trở thành một tổ chức có ảnh hưởng lớn trong việc xây dựng hình ảnh truyền thông, du lịch, khoa học của các nền văn hóa trên thế giới. Sản phẩm của họ vượt ra khỏi phạm vi truyền thông đơn thuần và được sử dụng làm tài liệu giáo dục tại trường học và cơ sở công cộng (Thompson, 2000; Lutz & Collins, 1993).

Một số nghiên cứu phê bình chỉ ra rằng: Trong giai đoạn đầu, do được vận hành bởi những người đàn ông da trắng quyền lực, diễn ngôn của National Geographic mang tính thượng đẳng của người da trắng (white supremacy) trong cách tiếp cận con người và văn hoá ngoài phương Tây (Welsch, 2015). Đối với châu Phi, xu hướng quá khứ thường khắc hoạ hình ảnh của một lục địa nghèo, bất ổn, và cần sự cứu trợ, mặc cho những phát triển tích cực của xã hội châu Phi; mô-típ của “tin tức có khả năng bán được” (news that sell) phổ biến trong truyền thông phương Tây lúc bấy giờ. Điều này đã lan truyền và làm sâu sắc hơn định kiến chủng tộc trong các ấn phẩm truyền thông và hệ tư tưởng cộng đồng (Dixon & Linz, 2000, tr. 548). Như Dowden (2009, tr, 4) nhận xét, hình ảnh thường trực trong suy nghĩ số đông khi nhắc đến châu Phi là “một đứa trẻ ốm yếu và những người đàn ông mang súng.” Thêm vào đó, châu lục thường bị gộp chung dưới một nhãn gọi là “người châu Phi” (African) (Tsikata, 2014) dù bao gồm 54 quốc gia và các nền văn hoá đa dạng.

Vấn đề không chỉ nằm ở nội dung truyền thông, mà còn ở sự mất cân bằng về quyền sản xuất và phân phối thông tin. Theo Asante (2013, tr. 64), gần 80% các tin tức quốc tế về châu Phi được sản xuất bởi các tổ chức nằm ngoài châu lục, học giả cho rằng châu Phi không tự đặt mình vào vị trí nạn nhân, mà thường bị “nạn nhân hoá” bởi sự yếu thế về năng lực truyền thông và quyền kiểm soát thông tin.

Theo phân tích của Todd (2010) về cách National Geographic xây dựng hình ảnh châu Phi qua phương diện cảnh quan và con người, bà nhận định tạp chí có khuynh hướng lãng mạn hoá châu Phi. Nhìn chung, lục địa được mô tả như “một sa mạc mênh mông, một công viên chủ đề hoang dã, và một phần của phong cảnh toàn cầu” (a vast desert plain, a wilderness theme park, and a part of global scenery) (tr. 14), với du khách phương Tây ở vị trí trung tâm, là chuyên gia và “người hùng” của châu Phi (protagonists, experts, and heroes of Africa’s environment) (tr. 21).

Việc National Geographic gắn châu lục với những cụm từ như “nơi cuối cùng trên Trái Đất” (last place on Earth) hay “vùng đất huyền thoại” (a storied landscape) đã lãng mạn hoá và tách biệt châu Phi ra khỏi đời sống thường nhật. Đi kèm là những bài viết về các hành trình khám phá châu Phi được thiết kế với tiện nghi phương Tây. Bên cạnh quảng bá du lịch, tạp chí sản xuất ra những bài viết về khu ổ chuột, trường học thiếu thốn, hạn chế công nghệ, và bệnh tật. Điều này ngầm ý biện minh cho giá trị “cứu trợ” của du lịch đối với châu Phi, che khuất đi những ảnh hưởng tiêu cực về khai thác tài nguyên và lợi ích khác. Sự đa dạng và phức tạp của xã hội châu Phi bị đơn giản hoá bởi truyền thông với mục đích chủ yếu là tạo ra lợi nhuận, từ đó làm sai lệch cách công chúng nhìn nhận về con người và văn hoá nơi đây.

b) Trong hiện tại

Video I Tried Being a Porter on Africa’s Tallest Mountain | Superskilled with Eva zu Beck, đăng trên kênh YouTube chính thức của National Geographic ngày 02/01/2025, cho thấy một số thay đổi đáng chú ý trong cách tổ chức này tiếp cận và tái hiện châu Phi. Trong video, người dẫn Eva zu Beck đến núi Kilimanjaro, Tanzania, để tham gia trải nghiệm công việc của một nhóm nữ lao động khuân vác ở độ cao (female high-altitude porters) trong một tuần.

Thứ nhất, khác với khuôn mẫu đề cao du lịch và trải nghiệm của du khách phương Tây, video chuyển trọng tâm sang người lao động địa phương. Núi Kilimanjaro vừa là điểm du lịch, vừa là nơi tạo sinh kế cho những người bản địa. Các nữ lao động khuân vác được khắc họa là những người có chuyên môn, sức bền, và trách nhiệm với gia đình. Đây là sự chuyển dịch từ góc nhìn “nạn nhân” sang cách tiếp cận đề cao năng lực chủ thể. Nhóm nữ lao động khuân vác chịu những bất lợi kép: là phụ nữ da màu, là lao động địa phương trong ngành du lịch mạo hiểm và chiếm ưu thế bởi nam giới. Tuy nhiên, cách khai thác của video tập trung nhấn mạnh vào sức mạnh và kỹ năng của họ. Điều này được thể hiện qua lời thoại của người dẫn: “Tôi muốn tìm hiểu vì sao họ có thể mạnh mẽ như vậy. Họ có bí quyết luyện tập nào không? Và cần những gì để làm công việc khuân vác ở độ cao?” (I want to find out how they get so strong. Do they have any training secrets? And what does it take to work as a high-altitude porter? (00:00:23–00:00:32).

Bảng 1. Một số lời thoại thể hiện cách video khắc họa hình ảnh nữ lao động khuân vác Kilimanjaro với sức mạnh và sự bền bỉ.

(Nguồn: Tác giả tổng hợp và dịch từ video “I Tried Being a Porter on Africa’s Tallest Mountain Superskilled with Eva zu Beck,” National Geographic, 2025.)

Lời thoại gốc

Bản dịch tiếng Việt

Mốc thời gian

“I’m so excited to learn from these strong women.”

“Tôi rất háo hức được học hỏi từ những người phụ nữ mạnh mẽ này.”

00:03:02–00:03:07

“The porters of Kilimanjaro are the true unsung heroes of the mountain.”

“Những người khuân vác ở Kilimanjaro là các anh hùng thầm lặng thực sự của ngọn núi này.”

00:03:33–00:03:36

“These guys have had to develop serious impressive strength in order to work here.”

“Để có thể làm việc ở đây, họ đã phải rèn luyện một sức mạnh thể chất đáng nể.”

00:05:20–00:05:23

“It’s amazing. They’re so, so strong. Not only strong, they’re also faster than us.”

“Thật đáng khâm phục. Họ vô cùng khoẻ; không chỉ vậy, họ còn di chuyển nhanh hơn chúng tôi.”

00:05:55–00:06:02

“I had so much respect for her strength and resilience.”

“Tôi thực sự khâm phục sức mạnh và nghị lực bền bỉ của cô ấy.”

00:13:38–00:13:41

“You need to be really strong for this. You are really strong.”

“Công việc này đòi hỏi thể lực rất tốt, và chị thực sự là một người rất khoẻ mạnh.”

00:19:02–00:19:05

“Yes, this is hard, but if there’s something that these amazing women have taught me, it’s that we can do hard things.”

“Đúng là công việc này rất vất vả; nhưng điều những người phụ nữ tuyệt vời này cho tôi thấy là chúng ta có thể vượt qua những thử thách khó khăn.”

00:31:37–00:31:49

Thứ hai, video cá thể hoá các nhân vật thay vì đồng nhất họ thành một tập thể chung qua việc gọi những nữ khuân vác bằng tên của họ: Sophia, Grace, Rose và để họ tự kể câu chuyện của mình. Phụ đề video được chèn dưới cuộc hội thoại, phản ánh nguyên văn lời nói của họ kể cả những ngắc ngứ hay lỗi sai ngữ pháp (khi họ sử dụng tiếng Anh).

Thứ ba, những nữ khuân vác được đặt trong tư cách là người lao động đang làm việc để nuôi sống bản thân và gia đình, giống như những người lao động khác trên thế giới. Cách khắc hoạ này giảm khoảng cách giữa người xem và những nữ khuân vác, thách thức lối nhìn định kiến về “một phương Tây phát triển” và “một châu Phi kém phát triển”.

Cùng lúc đó, video không hoàn toàn né tránh các vấn đề hiện hữu tại châu Phi. Các nữ khuân vác thuộc diện lao động nghèo và phải cạnh tranh trong một công việc mà nam giới được ưu tiên hơn, lao động khuân vác ở núi Kilimanjaro chủ yếu là đàn ông từ 18 đến 40 tuổi (Climb Mount Kilimanjaro, 2014). Tuy vậy, giới hạn của video nằm ở xu hướng lãng mạn hoá công việc khuân vác, khi cơ sở vật chất tiện nghi trong video có thể tạo ra lầm tưởng đây là điều kiện làm việc của số đông những lao động khuân vác. Dù sự ra đời của những tổ chức như Kilimanjaro Porters Assistance Project (KPAP) đã góp phần bảo đảm quyền và sự an toàn của cộng đồng này, thực tế các nghiên cứu chỉ ra những người lao động phải đối mặt với nhiều điều kiện làm việc bấp bênh, như thiếu trang phục và thiết bị phù hợp, hạn chế về dinh dưỡng, nơi ở, chăm sóc y tế, khả năng thích nghi độ cao và nguy cơ phải mang vác quá tải (Melubo, 2015, tr. 288).

Thời lượng video trong khoảng 32 phút khó có thể trình bày đầy đủ về hoàn cảnh sống và điều kiện lao động của từng nhân vật. Xét trong phạm vi tái hiện lại một tuần trải nghiệm làm khuân vác của người dẫn, video đã đạt hiệu quả nhất định. Tuy nhiên, cách kể chuyện thiên về tôn vinh và truyền cảm hứng hơn là cung cấp một bức tranh toàn diện về quyền, điều kiện lao động, và các rào cản mà các nữ lao động khuân vác phải đối mặt.

Xét theo các nguyên tắc đưa tin về nhóm dễ bị tổn thương do Hội Nhà báo Việt Nam (2024) và các khuyến nghị của Arguedas và cộng sự (2023), video nhìn chung đáp ứng ba yêu cầu: (1) Tiếp cận dựa trên quyền con người; (2) Tôn trọng sự đa dạng, loại bỏ định kiến, kỳ thị; và (4) Tuân thủ nguyên tắc đạo đức. Video khắc họa các nữ khuân vác như những người lao động có năng lực, tôn trọng và tạo không gian cho họ được có tiếng nói riêng. Tuy nhiên, video chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu thứ ba về tính đa chiều và khách quan trong đưa tin. Việc tập trung khai thác khía cạnh về sức mạnh, nghị lực và tinh thần vượt khó của nhân vật trong khi chưa phản ánh tương xứng các điều kiện lao động bấp bênh khác tạo ra sự khắc hoạ truyền thông mang tính lãng mạn hoá.

Phân tích dưới góc độ đảm bảo về quyền con người, đặc biệt là đối tượng phụ nữ, cách tiếp cận truyền thông này đã đáp ứng sự tôn trọng quyền con người của nhóm dễ bị tổn thương của Liên hợp quốc, đồng thời có thể được liên hệ với Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) (Liên hợp quốc, 1979). Điều 11 CEDAW yêu cầu các quốc gia thành viên xóa bỏ phân biệt đối xử với phụ nữ trong lĩnh vực việc làm, bảo đảm quyền làm việc, điều kiện lao động, và thù lao công bằng với đàn ông trong công việc. Việc khắc họa phụ nữ như những người có năng lực là cần thiết để chống lại định kiến giới và tạo ra cho họ cơ hội việc làm bình đẳng hơn. Tuy nhiên, tiếp cận truyền thông dựa trên quyền con người không chỉ dừng ở việc tôn vinh nghị lực cá nhân, mà cần phải đưa ra một bức tranh toàn cảnh, với những mặt lợi và bất cập đang làm ảnh hưởng đến quyền của họ.

4. Giá trị tham khảo cho truyền thông Việt Nam khi đưa tin về “Nhóm dễ bị tổn thương

Thứ nhất, chuyển hướng miêu tả “nạn nhân” sang hướng tiếp cận đề cao năng lực chủ thể. Khi phản ánh những khó khăn mà nhóm dễ bị tổn thương phải đối mặt, báo chí cần tránh chỉ tập trung vào đau khổ, thiếu thốn hoặc sự phụ thuộc. Thay vào đó, việc làm rõ năng lực tự quyết, kỹ năng, tri thức, và đóng góp của nhân vật sẽ giúp công chúng nhìn nhận họ như những chủ thể bình đẳng mà không phải là đối tượng cần sự thương hại. Cách tiếp cận này không phủ nhận các bất bình đẳng hiện hữu, mà đặt những bất bình đẳng ấy trong bối cảnh đầy đủ hơn: nhân vật vừa cần sự hỗ trợ, vừa có năng lực tham gia và đóng góp cho xã hội. Truyền thông tích cực, dù không tự động tạo ra việc làm, nhưng có thể góp phần giảm định kiến xã hội đối với các nhóm đối tượng này.

Thứ hai, bảo đảm quyền được lên tiếng và tránh đồng nhất hóa cộng đồng. Báo chí cần tạo điều kiện để nhân vật tự trình bày trải nghiệm, nhu cầu, và quan điểm của mình mà không có sự can thiệp hay tác động bên ngoài. Mỗi nhân vật có hoàn cảnh, bản sắc, và nhu cầu riêng; vì vậy báo chí có trách nhiệm tôn trọng và phản ánh sự đa dạng đó. Việc ưu tiên lời kể độc lập của nhân vật và cung cấp thông tin bối cảnh chính xác, cần thiết sẽ góp phần hạn chế khuôn mẫu hóa, đồng thời bảo đảm quyền tham gia của các nhóm đối tượng vào các vấn đề có liên quan đến mình.

Thứ ba, đào tạo đội ngũ truyền thông có năng lực đại diện cho nhóm người dễ bị tổn thương. Người dẫn, phóng viên, biên tập viên, và nhóm sản xuất cần có hiểu biết cơ bản về cộng đồng được phản ánh, có thái độ tôn trọng, được đào tạo về đạo đức báo chí, và tiếp cận dựa trên quyền con người. Khi cần thiết, cơ quan báo chí nên tham vấn thành viên thuộc cộng đồng được đưa tin về hoặc các chuyên gia trong ngành để bảo đảm thông tin chính xác, đa chiều, và không tái tạo định kiến.

Thứ tư, cân bằng giữa điểm được và điểm chưa được trong khắc họa truyền thông. Truyền thông không nên chỉ tôn vinh ý chí vượt khó rồi bỏ qua các vấn đề tồn đọng. Ngược lại, cũng không nên chỉ nhấn mạnh khó khăn đến mức tước bỏ năng lực chủ thể của nhân vật. Việc phản ánh đồng thời thành tựu, năng lực, mong muốn, và các rào cản thực tế sẽ tạo nên một bức tranh đáng tin cậy, có chiều sâu, và gần gũi hơn với công chúng. Đây là cách để báo chí vừa truyền cảm hứng, vừa thực hiện chức năng giám sát xã hội, và thúc đẩy thảo luận về những điều kiện cần thiết để đảm bảo quyền con người trong thực tế.

Kết luận

Truyền thông về nhóm dễ bị tổn thương không chỉ là hoạt động cung cấp thông tin, mà còn có tác động trực tiếp đến việc bảo đảm quyền con người của nhóm đối tượng này. Lựa chọn khắc hoạ nhân vật dưới góc nhìn tích cực là đáng khích lệ, tuy nhiên, việc tôn vinh nhân vật cần đi kèm với phản ánh trung thực các rào cản và bất bình đẳng còn hiện hữu.

Về giá trị tham khảo cho Việt Nam, truyền thông cần lấy quyền con người làm nền tảng: chuyển sang hướng tiếp cận đề cao năng lực chủ thể; tránh định kiến và khuôn mẫu hóa; tạo điều kiện để nhân vật tự lên tiếng, tôn trọng sự đa dạng; đào tạo đội ngũ truyền thông có năng lực và đạo đức; đồng thời cung cấp thông tin một cách khách quan và toàn diện.

Tài liệu tham khảo

Anh Thư (2024); “Nhóm người yếu thế dễ bị ‘tổn thương kép’ trên truyền thông”; VOV2; https://vov2.vov.vn/doi-song-xa-hoi/nhom-nguoi-yeu-the-de-bi-ton-thuong-kep-tren-truyen-thong-48412.vov2; đăng ngày 18/5/2024, truy cập ngày 10/7/2026.

Asante, M. K. (2013). The African American People: A Global History. Routledge.

Arguedas, A. R., Banerjee, S., Mont’Alverne, C., Toff, B., Fletcher, R. và Nielsen, R. K. (2023), News for the powerful and privileged: How misrepresentation and underrepresentation of disadvantaged communities undermine their trust in news, Reuters Institute for the Study of Journalism, Oxford.

Climb Mount Kilimanjaro (2014); “Your crew: Kilimanjaro porters”; https://www.climbmountkilimanjaro.com/on-the-mountain/porters/; truy cập ngày 16/4/2026.

Dixon, T. L. và Linz, D. (2000), “Race and the misrepresentation of victimization on local television news”, Communication Research, 27(5), 547–573.

Dowden, R. (2009), Africa: Altered states, ordinary miracles, PublicAffairs, New York.

Forbes-Mewett, H. (Chủ biên) (2019), Vulnerability in a mobile world, Emerald Publishing, Bingley.

Jariah, A. (2025), “Digital resistance and representation: Media narratives of marginalized groups in a global context”, Communica: Journal of Communication, 3(2), 95–107.

Kahneman, D. (2011), Thinking, fast and slow, Farrar, Straus and Giroux, New York.

Đại học Quốc gia Hà Nội – Khoa Luật (2010), Luật quốc tế về quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

Lê Lan Chi (2019), Bảo đảm quyền của nạn nhân tội phạm và một số nhóm yếu thế trong tư pháp hình sự: Từ quy định của pháp luật đến hoạt động của người hành nghề luật, Nhà xuất bản Lý luận Chính trị, Hà Nội.

Lê Thị Diễm Hằng (2022), “Bảo vệ quyền con người của một số nhóm người dễ bị tổn thương – Chuẩn mực quốc tế và nội luật hóa trong Bộ luật Hình sự Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, 20(468), 14–22.

Lutz, C. A. và Collins, J. L. (1993), Reading National Geographic, University of Chicago Press, Chicago.

Melubo, K. (2015), “The working conditions of ‘Wagumu’ (high altitude porters) on Mount Kilimanjaro”, trong G. Musa, J. Higham và A. Thompson-Carr (Chủ biên), Mountaineering tourism, Routledge, London, 285–292.

National Geographic (2025); “I tried being a porter on Africa’s tallest mountain | Superskilled with Eva zu Beck”; YouTube; https://www.youtube.com/watch?v=mN-MPuhFivc; đăng ngày 02/01/2025, truy cập ngày 1/2/2026.

Poole, R. M. (2004), Explorers’ house: National Geographic and the world it made, Penguin Press, New York.

Quốc hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thông qua ngày 28/11/2013, có hiệu lực ngày 01/01/2014.

Quốc hội (2013), Luật Phòng, chống thiên tai số 33/2013/QH13, thông qua ngày 19/11/2013, có hiệu lực ngày 01/5/2014.

Sayed, F. và Hotait, N. (2024), “Exploring the role of TikTok for intersectionally marginalized groups: The case of Muslim female content creators in Germany”, Frontiers in Political Science, 6, Article 1496833.

Schiffer, K. và Schatz, E. (2008), Marginalisation, social inclusion and health: Experiences based on the work of Correlation – European Network Social Inclusion & Health, Correlation Network, Amsterdam.

Thompson, C. (2000), “Neutral gaze? The influence of National Geographic magazine”, New Statesman, 129(4476), 45–47.

Todd, A. M. (2010), “Anthropocentric distance in National Geographic’s environmental aesthetic”, Environmental Communication, 4(2), 206–224.

Tsikata, P. Y. (2014), “The historical and contemporary representation of Africa in global media flows: Can the continent speak back for itself on its own terms?”, Communicatio: South African Journal for Communication Theory and Research, 40(1), 34–48.

Tường Duy Kiên (Chủ biên) (2024), Lý luận về quyền con người và giáo dục quyền con người, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

Liên Hợp Quốc (1979), Convention on the Elimination of All Forms of Discrimination against Women (CEDAW), thông qua ngày 18/12/1979.

United Nations Development Programme (2016), Human development report 2016: Human development for everyone, United Nations Development Programme, New York.

Welsch, M. (2015), “National Geographic magazine and the power of media: How an elite society influenced American perception”, Crossing the Border: International Journal of Interdisciplinary Studies, 3(1), 3–10.