Tóm tắt: Bài viết phân tích việc áp dụng tập quán trong giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình về quan hệ nhân thân dưới góc độ tiếp cận quyền con người. Trên cơ sở thực tiễn xét xử, bài viết làm rõ vai trò của tập quán trong xác lập, công nhận và chấm dứt quan hệ hôn nhân; xác định quyền, nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng; và giải quyết quan hệ giữa cha mẹ và con. Qua đó, bài viết nhấn mạnh yêu cầu áp dụng tập quán một cách chọn lọc, phù hợp với pháp luật nhằm bảo đảm quyền con người, đặc biệt là quyền của phụ nữ và trẻ em, cũng như sự hài hòa giữa pháp luật hiện đại và các giá trị truyền thống trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình.
Từ khóa: Áp dụng tập quán; hôn nhân gia đình; quan hệ nhân thân.
Abstract: This article analyzes the application of customary practices in resolving marriage and family cases concerning personal relationships from a human rights perspective. Based on judicial practice, the article clarifies the role of customary practices in establishing, recognizing, and terminating marital relationships; determining the personal rights and obligations between husband and wife; and resolving parent-child relationships. Through this, the article emphasizes the need for selective application of customary practices, in accordance with the law, to safeguard human rights - particularly those of women and children - as well as harmony between modern law and traditional values in the field of marriage and family.
Keywords: Application of customary practices; marriage and family; personal relationships.

Ảnh minh họa. Nguồn: baovephapluat.vn
Đặt vấn đề
Tập quán là một bộ phận của hệ thống pháp luật Việt Nam, có vai trò quan trọng trong điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình - lĩnh vực gắn bó chặt chẽ với đời sống văn hóa, đạo đức và truyền thống của cộng đồng. Trong thực tiễn, tại nhiều vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, tập quán vẫn được áp dụng phổ biến và có ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác lập, thực hiện các quan hệ nhân thân. Việc áp dụng tập quán trong giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình góp phần đưa pháp luật đến gần hơn với đời sống xã hội và thể hiện sự tôn trọng các giá trị truyền thống, song thực tiễn xét xử cho thấy việc áp dụng này còn thiếu thống nhất, trong một số trường hợp chưa bảo đảm đầy đủ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em.
Trong bối cảnh Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, đa dạng về phong tục, tập quán, yêu cầu đặt ra là phải bảo đảm sự hài hòa giữa pháp luật và truyền thống, giữa tính thống nhất của pháp luật với đặc thù văn hóa của từng cộng đồng. Việc nghiên cứu và hoàn thiện cơ chế áp dụng tập quán trong giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình về quan hệ nhân thân vì vậy có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động tư pháp và bảo đảm quyền con người theo tinh thần Hiến pháp năm 2013. Dưới góc độ quyền con người, các quan hệ nhân thân trong hôn nhân và gia đình không chỉ là quan hệ pháp lý thuần túy mà còn trực tiếp liên quan đến việc thực hiện các quyền cơ bản của con người như quyền kết hôn và lập gia đình, quyền bình đẳng giới, quyền được tôn trọng danh dự, nhân phẩm, quyền của trẻ em và quyền được bảo vệ đời sống gia đình. Hiến pháp năm 2013 khẳng định Nhà nước có trách nhiệm công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; đồng thời, Việt Nam là thành viên của nhiều điều ước quốc tế về quyền con người có liên quan trực tiếp đến lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Trong bối cảnh đó, việc áp dụng tập quán trong giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình cần được đặt trong khuôn khổ bảo đảm quyền con người, nhằm bảo đảm rằng các giá trị văn hóa truyền thống chỉ được thừa nhận và vận dụng khi không xâm phạm các quyền cơ bản, đặc biệt là quyền của phụ nữ và trẻ em.
1. Cơ sở pháp lý của áp dụng tập quán trong giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình về quan hệ nhân thân
Theo quy định tại khoản 1 Điều 25 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác” (Quốc hội, 2015, khoản 1, Điều 25). Như vậy, quyền nhân thân là loại quyền dân sự đặc biệt, gắn bó chặt chẽ với mỗi cá nhân, thể hiện những giá trị về danh dự, nhân phẩm, uy tín, tình cảm, hôn nhân, gia đình và các quan hệ xã hội khác. Đặc trưng cơ bản của quyền nhân thân là tính không thể chuyển giao, nghĩa là cá nhân không thể chuyển nhượng hay để người khác thực hiện thay, trừ những trường hợp đặc biệt do pháp luật quy định.
Dẫn chiếu đến Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình như sau: “Cá nhân có quyền kết hôn, ly hôn, quyền bình đẳng của vợ chồng, quyền xác định cha, mẹ, con, quyền được nhận làm con nuôi, quyền nuôi con nuôi và các quyền nhân thân khác trong quan hệ hôn nhân, quan hệ cha mẹ và con và quan hệ giữa các thành viên gia đình. Con sinh ra không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của cha, mẹ đều có quyền và nghĩa vụ như nhau đối với cha, mẹ của mình” (Quốc hội, 2015, Điều 39). Quy định này cho thấy, trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, quyền nhân thân được xác lập và bảo vệ đối với nhiều chủ thể khác nhau, bao gồm vợ, chồng, cha mẹ, con và các thành viên trong gia đình. Mỗi cá nhân có quyền tự do kết hôn, ly hôn, bình đẳng trong hôn nhân, quyền được nhận làm con nuôi, quyền nuôi con nuôi, cũng như các quyền nhân thân khác phát sinh trong mối quan hệ gia đình. Đặc biệt, nguyên tắc bình đẳng của con cái được khẳng định rõ ràng khi pháp luật quy định rằng: “Con sinh ra không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của cha, mẹ đều có quyền và nghĩa vụ như nhau đối với cha, mẹ của mình”.
Cá nhân thực hiện các quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình theo quy định của Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình và các văn bản pháp luật có liên quan. Như vậy, các quyền nhân thân trong lĩnh vực này không chỉ được xác lập mà còn được bảo đảm thực thi bằng cơ chế pháp lý thống nhất giữa các ngành luật có liên quan.
Theo Điều 70 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quan hệ giữa cha mẹ và con được xây dựng trên cơ sở bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của con, đồng thời đề cao trách nhiệm, nghĩa vụ của các bên trong gia đình. Pháp luật ghi nhận quyền của con được yêu thương, tôn trọng, chăm sóc, giáo dục và phát triển toàn diện; đồng thời yêu cầu con có nghĩa vụ kính trọng, phụng dưỡng cha mẹ và gìn giữ các giá trị, truyền thống tốt đẹp của gia đình. Trên cơ sở độ tuổi và năng lực hành vi dân sự, pháp luật phân định rõ quyền và nghĩa vụ của con chưa thành niên và con đã thành niên, bảo đảm sự hài hòa giữa quyền tự do cá nhân và trách nhiệm đối với gia đình. Pháp luật cũng quy định rõ nguyên tắc bảo vệ quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con trong quan hệ hôn nhân và gia đình. Theo Điều 68 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, pháp luật khẳng định nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con, không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của cha mẹ hay quan hệ huyết thống hay nuôi dưỡng. Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con được Nhà nước tôn trọng và bảo vệ theo hệ thống pháp luật hiện hành; đồng thời, mọi thỏa thuận liên quan đến quan hệ nhân thân và tài sản trong gia đình đều phải bảo đảm không xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể yếu thế, đặc biệt là con chưa thành niên và con không có năng lực hành vi dân sự. Bên cạnh đó, theo nghiên cứu của Ngô Ngọc Diễm & nnk (2021): Việc nghiên cứu và áp dụng tập quán trong thực tiễn pháp luật ở nước ta hiện nay còn được thể hiện qua các vấn đề khác nữa như: tập quán điều chỉnh một số quan hệ nhân thân. Cụ thể, đối với quyền có họ, tên, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã ghi nhận tại khoản 2, Điều 26: “Nếu không có thỏa thuận thì họ của con được xác định theo tập quán”. Khoản 2, Điều 29, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quyền xác định, xác định lại dân tộc: “Trường hợp không có thỏa thuận thì dân tộc của con được xác định theo tập quán; trường hợp tập quán khác nhau thì dân tộc của con được xác định theo tập quán của dân tộc ít người hơn.
Qua đó, có thể thấy, quan hệ nhân thân trong hôn nhân và gia đình được pháp luật Việt Nam quy định một cách toàn diện, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các thành viên trong gia đình, đặc biệt chú trọng đến yếu tố nhân văn và đạo lý truyền thống. Đây cũng chính là nền tảng quan trọng để khi áp dụng tập quán trong giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình, Tòa án có cơ sở xác định ranh giới giữa tập quán hợp pháp và quy định pháp luật bắt buộc, nhằm bảo đảm quyền nhân thân của các bên không bị xâm hại, nhất là đối với phụ nữ và trẻ em.
Từ góc độ tiếp cận quyền con người, các quy định của Bộ luật Dân sự và Luật Hôn nhân và gia đình về quyền nhân thân cần được hiểu là sự cụ thể hóa các quyền con người cơ bản trong đời sống gia đình. Việc áp dụng tập quán trong lĩnh vực này vì vậy không chỉ là vấn đề kỹ thuật pháp lý, mà còn là quá trình cân nhắc giữa việc tôn trọng bản sắc văn hóa với nghĩa vụ của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền con người. Theo đó, tập quán chỉ có thể được áp dụng khi phù hợp với các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng, tự nguyện, tôn trọng nhân phẩm con người và lợi ích tốt nhất của trẻ em; những tập quán mang tính phân biệt đối xử, xâm phạm quyền con người cần bị loại bỏ, dù tồn tại lâu đời trong cộng đồng.
2. Những nội dung cơ bản của áp dụng tập quán trong giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình về quan hệ nhân thân
Thứ nhất, áp dụng tập quán trong xác lập, công nhận và chấm dứt quan hệ hôn nhân
Việc xác lập, công nhận và chấm dứt quan hệ hôn nhân là nội dung trung tâm trong giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình. Mặc dù pháp luật quy định hôn nhân phải được đăng ký theo nguyên tắc pháp định, song trong thực tiễn, nhiều quan hệ hôn nhân vẫn được hình thành và chấm dứt theo tập quán truyền thống. Do đó, khi giải quyết các vụ việc liên quan, Tòa án thường xem xét yếu tố tập quán như một căn cứ bổ trợ nhằm bảo đảm tính công bằng, phù hợp với thực tiễn và tôn trọng bản sắc văn hóa.
Bản án số 01/2019/HNGĐ-ST ngày 27/3/2019 của Tòa án nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn là vụ việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” (Tòa án Nhân dân huyện Văn Quan, 2019) giữa chị Mã Thị H và anh Lành Văn T. Mặc dù anh T yêu cầu hoàn trả tiền sính lễ theo phong tục địa phương, Tòa án xác định đây chỉ là tập quán, không phải căn cứ pháp lý để buộc bên nữ thực hiện nghĩa vụ hoàn trả. Việc yêu cầu hoàn lại sính lễ không phù hợp với nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tiến bộ trong hôn nhân theo Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Qua đó cho thấy, Tòa án chỉ thừa nhận sự tồn tại của tập quán ở góc độ xã hội, nhưng không áp dụng nếu trái với quy định pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật và các giá trị tiến bộ trong quan hệ hôn nhân.
Trong việc xác lập quan hệ hôn nhân, tập quán thể hiện rõ qua các nghi lễ cưới hỏi truyền thống như trao sính lễ, báo hỷ, bắt vợ, cưới chạy tang, ở rể... Đây là những biểu hiện văn hóa phản ánh sự thừa nhận của gia đình và cộng đồng đối với quan hệ hôn nhân. Ở nhiều địa phương, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, việc hoàn tất nghi lễ cưới theo phong tục thường được xem là căn cứ xác lập quan hệ vợ chồng trên thực tế, dù chưa đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Vì vậy, khi giải quyết tranh chấp, Tòa án thường xem xét các yếu tố như việc tổ chức lễ cưới, sự đồng thuận của gia đình, cộng đồng và quá trình chung sống thực tế của các bên để làm cơ sở đánh giá bản chất quan hệ hôn nhân. Cách tiếp cận này thể hiện sự áp dụng linh hoạt giữa pháp luật và tập quán, vừa bảo đảm tính nhân văn, vừa góp phần bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em trong các quan hệ hôn nhân không đăng ký. Đồng thời, đây cũng là sự ghi nhận giá trị của phong tục truyền thống trong đời sống xã hội, trong chừng mực không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật hôn nhân và gia đình.
Điển hình cho cách thức áp dụng đó là Bản án số 294/2017/HNGĐ-ST ngày 28/12/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau (Tòa án Nhân dân thành phố Cà Mau, 2017), các bên có tổ chức lễ cưới theo phong tục và chung sống như vợ chồng trong thời gian dài nhưng không đăng ký kết hôn. Tòa án xác định quan hệ này không hợp pháp theo Luật Hôn nhân và gia đình, song vẫn xem xét yếu tố tập quán như một căn cứ thực tế để giải quyết hậu quả pháp lý về con chung và tài sản, bảo đảm quyền lợi chính đáng của các bên liên quan. Việc thừa nhận giá trị xã hội của lễ cưới không nhằm thay thế thủ tục đăng ký kết hôn, mà nhằm đánh giá đúng bản chất quan hệ và mức độ gắn bó của các bên.
Tương tự, Trong Bản án số 04/2019/HNGĐ-ST ngày 24/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa (Tòa án Nhân dân huyện Mường Lát, 2019), quan hệ hôn nhân được xác lập theo phong tục người Mông nhưng vi phạm điều kiện về độ tuổi kết hôn. Mặc dù thừa nhận thực tế cưới hỏi và chung sống, Tòa án vẫn không công nhận quan hệ vợ chồng do hành vi tảo hôn trái pháp luật. Tuy nhiên, trên cơ sở thực tế có con chung, Tòa án giải quyết quyền nuôi con phù hợp nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em.
Qua các vụ việc trên có thể thấy, Tòa án đã áp dụng tập quán như một căn cứ thực tiễn để xem xét quan hệ hôn nhân, nhưng luôn đặt trong giới hạn của pháp luật. Cách tiếp cận này thể hiện sự dung hòa giữa giá trị văn hóa truyền thống và nguyên tắc thượng tôn pháp luật, đồng thời góp phần bảo vệ quyền con người, đặc biệt là quyền của phụ nữ và trẻ em trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình.
Trong việc công nhận hoặc không công nhận quan hệ hôn nhân: trong thực tiễn giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình, tập quán thường được Tòa án xem xét như một căn cứ xã hội để xác định quan hệ chung sống thực tế giữa nam và nữ, đặc biệt trong trường hợp các bên không đăng ký kết hôn. Các yếu tố như việc tổ chức lễ cưới theo phong tục, sự thừa nhận của gia đình và cộng đồng, hay quá trình chung sống ổn định thường được sử dụng làm chứng cứ xác định bản chất quan hệ. Tuy nhiên, kể từ khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực, việc không đăng ký kết hôn không làm phát sinh quan hệ vợ chồng hợp pháp; do đó, tập quán chỉ có giá trị hỗ trợ Tòa án giải quyết hậu quả pháp lý của việc chung sống, chứ không phải căn cứ công nhận hôn nhân.
Thực tiễn này thể hiện rõ qua Bản án số 19/2021/ST-HNGĐ ngày 23/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu là ví dụ tiêu biểu (Tòa án Nhân dân huyện Hòa Bình, 2021). Mặc dù các bên có tổ chức lễ cưới theo phong tục và chung sống như vợ chồng từ năm 1999, Tòa án vẫn không công nhận quan hệ hôn nhân do không đăng ký kết hôn, mà chỉ giải quyết quyền, nghĩa vụ đối với con chung. Tập quán trong trường hợp này được xem là chứng cứ xã hội phản ánh quan hệ thực tế, không làm phát sinh giá trị pháp lý của hôn nhân.
Tương tự, tại Bản án số 04/2021/HNGĐ-ST ngày 12/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa (Tòa án Nhân dân huyện Quan Hóa, 2021), dù quan hệ hôn nhân được xác lập theo phong tục và có đăng ký kết hôn khi chưa đủ tuổi, Tòa án vẫn xem xét hoàn cảnh thực tế, quá trình chung sống ổn định và có con chung để giải quyết ly hôn theo thủ tục chung, thay vì tuyên hủy hôn nhân trái pháp luật. Cách giải quyết này thể hiện sự linh hoạt, nhân văn, phù hợp với điều kiện nhận thức pháp luật còn hạn chế ở vùng dân tộc thiểu số.
Đáng chú ý trong Bản án số 02/2022/HNGĐ-ST ngày 10/02/2022 của Tòa án nhân dân huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên (Tòa án Nhân dân huyện Sông Hinh, 2022). Tòa án đã ghi nhận phong tục ly hôn của người Ê-đê như một căn cứ thực tế xác định việc chấm dứt quan hệ chung sống, dù không công nhận hôn nhân hợp pháp. Đồng thời, Tòa cũng tôn trọng thỏa thuận nuôi con theo tập quán, bảo đảm phù hợp với điều kiện và nguyện vọng của các bên.
Từ các vụ việc trên có thể thấy, Tòa án không công nhận hôn nhân theo tập quán, nhưng vẫn áp dụng tập quán như một căn cứ xã hội quan trọng để xác định bản chất quan hệ và giải quyết hậu quả pháp lý phát sinh. Cách tiếp cận này thể hiện sự hài hòa giữa pháp luật và phong tục truyền thống, bảo đảm tính nhân văn, công bằng, đồng thời giữ vững nguyên tắc thượng tôn pháp luật trong giải quyết các quan hệ hôn nhân và gia đình.
Trong việc chấm dứt quan hệ hôn nhân: trong thực tiễn giải quyết ly hôn, yếu tố tập quán thường được Tòa án xem xét như một căn cứ phản ánh cách cộng đồng nhìn nhận và xử lý sự đổ vỡ hôn nhân. Ở nhiều vùng dân tộc thiểu số, việc chấm dứt quan hệ vợ chồng không chỉ là vấn đề pháp lý mà còn gắn với các nghi lễ truyền thống như hòa giải dòng họ, trả lễ cưới, xin lỗi tổ tiên hoặc thỏa thuận nuôi con theo phong tục. Những yếu tố này thể hiện quan niệm văn hóa về trách nhiệm, danh dự và sự gắn kết cộng đồng sau hôn nhân.
Thực tiễn xét xử cho thấy, Tòa án thường ghi nhận các yếu tố tập quán như một căn cứ xã hội để đánh giá bản chất quan hệ hôn nhân và ý chí của các bên, nhưng không coi đó là cơ sở thay thế cho quy định pháp luật. Điển hình là Bản án số 01/2024/HNGĐ-ST ngày 09/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng (Tòa án Nhân dân huyện Trùng Khánh, 2024). Trong đó, Tòa án ghi nhận việc tổ chức cưới theo phong tục địa phương và sự xác nhận của chính quyền cơ sở, nhưng vẫn không công nhận quan hệ vợ chồng do không đăng ký kết hôn; đồng thời giải quyết hậu quả pháp lý về con chung và tài sản theo quy định pháp luật. Cách xử lý này thể hiện sự tôn trọng phong tục nhưng vẫn bảo đảm nguyên tắc thượng tôn pháp luật.
Một ví dụ khác là Bản án số 93/2017/HNGĐ-ST ngày 02/8/2017 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La (Tòa án Nhân dân huyện Mộc Châu, 2017), Tòa án đã bác yêu cầu đòi lại sính lễ của người chồng khi ly hôn, trên cơ sở xác định rằng theo tập quán địa phương, sính lễ chỉ mang ý nghĩa biểu trưng, không phải là tài sản trao đổi có nghĩa vụ hoàn trả. Việc áp dụng tập quán trong trường hợp này nhằm làm rõ bản chất xã hội của quan hệ hôn nhân, đồng thời bảo đảm nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng nhân phẩm và phù hợp với Điều 7 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Qua các vụ việc trên có thể thấy, trong giai đoạn chấm dứt hôn nhân, tập quán được Tòa án áp dụng như một căn cứ hỗ trợ để đánh giá thực tiễn quan hệ vợ chồng, làm rõ hoàn cảnh xã hội và bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của các bên, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em. Sự kết hợp hài hòa giữa pháp luật và phong tục không chỉ bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, mà còn thể hiện tính nhân văn, phù hợp với đặc thù văn hóa - xã hội của Việt Nam trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình.
Thứ hai, áp dụng tập quán trong xác định quyền, nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng
Quyền, nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng không chỉ được điều chỉnh bởi pháp luật mà còn chịu ảnh hưởng sâu sắc của phong tục, tập quán truyền thống. Trong thực tiễn xét xử, Tòa án xem xét yếu tố tập quán để làm rõ bản chất quan hệ hôn nhân, qua đó bảo đảm sự hài hòa giữa pháp luật và đạo lý, phù hợp với đặc điểm văn hóa - xã hội của từng cộng đồng.
Tập quán là cơ sở để Tòa án xem xét cách thức thực hiện quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng trong đời sống chung.
Trong đời sống hôn nhân, tập quán là cơ sở quan trọng để Tòa án xem xét cách thức thực hiện quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Mỗi cộng đồng có quan niệm khác nhau về vai trò của vợ chồng trong gia đình; chẳng hạn, ở các dân tộc theo chế độ mẫu hệ như Ê-đê, Gia-rai, người vợ giữ vai trò chủ hộ, trong khi tại nhiều vùng đồng bằng, người chồng thường là người quyết định chính. Do đó, khi giải quyết tranh chấp, Tòa án cần căn cứ vào tập quán để đánh giá đúng thực tế quan hệ hôn nhân và xác định trách nhiệm của mỗi bên.
Một ví dụ tiêu biểu là Bản án số 01/2020/HNGĐ-ST ngày 02/6/2020 của TAND huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên (Tòa án Nhân dân huyện Tủa Chùa, 2020), Trong vụ án ly hôn giữa chị Giàng Thị A và anh Vì A S, Tòa án căn cứ phong tục địa phương - theo đó cha nuôi con trai, mẹ nuôi con gái - để giao mỗi bên nuôi một con, phù hợp với điều kiện thực tế và không trái quy định pháp luật. Việc áp dụng tập quán trong trường hợp này thể hiện sự linh hoạt và nhân văn trong xét xử, vừa bảo đảm quyền lợi của con, vừa tôn trọng đặc thù văn hóa địa phương, qua đó cho thấy vai trò bổ trợ quan trọng của tập quán trong việc xác định quyền, nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng.
Tập quán được Tòa án áp dụng trong việc đánh giá hành vi vi phạm nghĩa vụ nhân thân.
Tập quán là căn cứ quan trọng để Tòa án xem xét mức độ vi phạm nghĩa vụ nhân thân trong quan hệ hôn nhân, nhất là các nghĩa vụ về chung thủy, tôn trọng và gìn giữ danh dự, nhân phẩm vợ chồng. Trong thực tiễn, Tòa án thường tham chiếu các chuẩn mực đạo đức, phong tục truyền thống của địa phương để đánh giá hành vi của các bên khi giải quyết ly hôn.
Một minh chứng tiêu biểu là Bản án số 06/2021/HNGĐ-PT ngày 20/7/2021 của TAND tỉnh Lạng Sơn (Tòa án Nhân dân tỉnh Lạng Sơn, 2021). Trong vụ án, mặc dù các bên kết hôn theo phong tục địa phương, nhưng yêu cầu đòi lại tiền thách cưới của người chồng không được chấp nhận vì đây là tập quán lạc hậu, trái với nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng trong hôn nhân. Tòa án xác định tập quán này không thuộc loại được pháp luật thừa nhận theo Điều 7 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Qua đó cho thấy, Tòa án không chỉ áp dụng tập quán mà còn thực hiện vai trò sàng lọc, loại bỏ những tập quán lạc hậu, bảo đảm việc áp dụng pháp luật phù hợp với giá trị tiến bộ và tinh thần nhân văn của chế độ hôn nhân gia đình hiện đại.
Tập quán có thể được sử dụng để dung hòa, hòa giải trong các tranh chấp nhân thân giữa vợ và chồng.
Tập quán có vai trò quan trọng trong việc dung hòa, Tòa án thường áp dụng tập quán để giải quyết các quan hệ giữa cha mẹ và con, nhất là tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nơi các chuẩn mực truyền thống có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống gia đình. Việc áp dụng tập quán thể hiện rõ trong các vụ việc xác định quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc con, nhận con và xác lập quan hệ huyết thống.
Ở nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số, việc xác định quan hệ cha con còn dựa trên phong tục, sự thừa nhận của dòng họ hoặc quá trình nuôi dưỡng thực tế. Trong những trường hợp này, Tòa án thường xem xét yếu tố văn hóa - xã hội như một căn cứ bổ trợ nhằm bảo vệ quyền nhân thân của trẻ em khi pháp luật thành văn chưa bao quát đầy đủ.
Việc áp dụng tập quán trong giải quyết quan hệ cha mẹ - con cho thấy sự kết hợp hài hòa giữa pháp luật và truyền thống, góp phần bảo đảm tính nhân văn, ổn định gia đình và tôn trọng bản sắc văn hóa của các cộng đồng dân tộc trong hoạt động xét xử.
Kết luận
Việc áp dụng tập quán trong giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình về quan hệ nhân thân là yêu cầu khách quan, xuất phát từ đặc thù văn hóa - xã hội đa dạng của Việt Nam. Thực tiễn xét xử cho thấy, khi được áp dụng đúng đắn và chọn lọc, tập quán góp phần làm rõ bản chất quan hệ hôn nhân, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, đồng thời tăng tính thuyết phục của bản án. Qua đó, Tòa án thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa pháp luật và giá trị truyền thống, trong đó chỉ những tập quán tiến bộ, không xâm phạm quyền con người và phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và Gia đình mới được thừa nhận.
Dưới góc độ quyền con người, việc áp dụng tập quán trong giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình không thể chỉ dừng lại ở việc ghi nhận các giá trị truyền thống, mà cần được đặt trong khuôn khổ nghĩa vụ bảo vệ quyền con người của Nhà nước. Thực tiễn xét xử cho thấy, khi Tòa án vận dụng tập quán một cách chọn lọc, có kiểm soát và phù hợp với các nguyên tắc về bình đẳng, nhân phẩm và lợi ích tốt nhất của trẻ em, thì tập quán có thể trở thành công cụ hỗ trợ hiệu quả cho việc bảo vệ quyền con người trong đời sống gia đình. Ngược lại, việc duy trì và áp dụng các tập quán lạc hậu, xâm phạm quyền con người không chỉ làm suy giảm hiệu lực của pháp luật mà còn cản trở tiến trình bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình ở Việt Nam hiện nay.
ThS. Nguyễn Bé Lê
NCS, Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
Bài viết được đăng trên Tạp chí Pháp luật về quyền con người số 52 (02/2026)
---
Tài liệu tham khảo
Ngô Ngọc Diễm - Nguyễn Anh Dũng - Nguyễn Thế Tùng. (2021). Một số vấn đề về áp dụng án lệ, tập quán và lẽ công bằng ở Việt Nam hiện nay. Truy cập ngày 15/01/2026, từ https://lsvn.vn/mot-so-van-de-ve-ap-dung-an-le-tap-quan-va-le-cong-bang-o-viet-nam-hien-nay1639315398.html.
Quốc hội. (2015). Bộ luật Dân sự.
Tòa án Nhân dân thành phố Cà Mau. (2017). Bản án số 294/2017/HNGĐ-ST ngày 28/12/2017 của Tòa án Nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. (Phụ lục 31).
Tòa án Nhân dân tỉnh Lạng Sơn. (2021). Bản án số: 06/2021/HNGĐ-PT ngày 20/7/2021 của Tòa án Nhân dân tỉnh Lạng Sơn về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” (Phụ lục 23).
Tòa án Nhân dân huyện Hòa Bình. (2021). Bản án số 19/2021/ST-HNGĐ ngày 23/4/2021 của Tòa án Nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu (Phụ lục 32).
Tòa án Nhân dân huyện Mộc Châu. (2017). Bản án số 93/2017/HNGĐ-ST ngày 02/8/2017 của Tòa án Nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La về việc: “Ly hôn giữa chị Q và anh T” (Phụ lục 27).
Tòa án Nhân dân huyện Mường Lát. (2019). Bản án số 04/2019/HNGĐ-ST ngày 24/10/2019 của Tòa án Nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa về việc: “Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình”, (Phụ lục 21).
Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa. (2021). Bản án số 04/2021/HNGĐ-ST ngày 12/5/2021 của Tòa án Nhân dân huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa, (Phụ lục 22).
Tòa án Nhân dân huyện Quan Hoá. (2021). Bản án số: 10/2021/HNGĐ-ST ngày 28/10/2021 của Tòa án Nhân dân huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hóa về việc: “Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình” (Phụ lục 24).
Tòa án Nhân dân huyện Sông Hinh. (2022). Bản án số 02/2022/HNGĐ-ST ngày 10/02/2022 của Tòa án Nhân dân huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên về việc “Tranh chấp về hôn nhân gia đình”, (Phụ lục 20).
Tòa án Nhân dân huyện Trùng Khánh. (2024). Bản án số 01/2024/HNGĐ-ST ngày 09/01/2024 của Tòa án Nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng (Phụ lục 33).
Tòa án Nhân dân huyện Tủa Chùa. (2020). Bản án số 01/2020/HNGĐ-ST ngày 02/6/2020 của Tòa án Nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn” (Phụ lục 18).
Tòa án Nhân dân huyện Văn Quan. (2021). Bản án số: 01/2019/HNGĐ-ST ngày 27/3/2019 của Tòa án Nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, (Phụ lục 17).