Ths. Nguyễn Thị Biển

Tóm tắt

Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại là chế định đặc thù, kết hợp quyền tự định đoạt của bị hại với trách nhiệm của Nhà nước trong xử lý tội phạm và bảo vệ công lý. Bài viết nghiên cứu pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về quyền và bảo đảm quyền của bị hại, có đối chiếu với pháp luật trước đây và tham khảo các nghiên cứu liên quan. Kết quả cho thấy pháp luật hiện hành đã có nhiều tiến bộ nhưng vẫn còn một số quy định thiếu cụ thể, đồng bộ, dẫn đến cách hiểu và áp dụng chưa thống nhất. Từ đó, bài viết đề xuất hoàn thiện pháp luật theo hướng lấy quyền của bị hại làm trung tâm, đồng thời bảo đảm hiệu quả tố tụng hình sự.

Từ Khóa: Bị hại; quyền của bị hại; khởi tố theo yêu cầu; tố tụng hình sự; bảo đảm quyền.

 Abstract:

The institution of criminal proceedings at the victim’s request balances the victim’s right to self-determination with the State’s responsibility to address crime and protect justice. This article examines Vietnamese criminal procedure law on victims’ rights and their protection, with reference to previous legislation and relevant studies. The findings show that the current law has made significant progress, but some provisions remain insufficiently specific and consistent, resulting in divergent interpretations and applications. The article therefore proposes a victim-centred approach to legal reform while ensuring the effectiveness of criminal proceedings.

Keywords: victim; victims’ rights; institution of proceedings at the victim’s request; criminal procedure; protection of rights.

Ảnh minh họa. Nguồn: TTXVN

Đặt vấn đề

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và các sửa đổi, bổ sung đã có nhiều đổi mới về bảo đảm quyền của bị hại trong vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại, theo hướng bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân. Việc mở rộng chủ thể bị hại, bổ sung các quyền tố tụng và hoàn thiện thủ tục yêu cầu, rút yêu cầu khởi tố đã góp phần nâng cao vị thế của bị hại. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành vẫn còn những khoảng trống về hình thức, thời hạn và chủ thể yêu cầu khởi tố; việc xác định tính tự nguyện khi rút yêu cầu; xử lý trường hợp có nhiều bị hại, bị can, bị cáo và hậu quả của việc rút yêu cầu tại giai đoạn xét xử. Vì vậy, bài viết làm rõ quyền và cơ chế bảo đảm quyền của bị hại, đánh giá những tiến bộ, nhận diện các vấn đề còn tồn tại và đề xuất phương hướng hoàn thiện pháp luật nhằm hài hòa quyền tự định đoạt của bị hại với yêu cầu xử lý tội phạm, bảo vệ công lý.

1. Khái niệm bị hại và bảo đảm quyền của bị hại trong vụ án hình sự được khởi tố theo yêu cầu bị hại

Bị hại được định nghĩa tại khoản 1 Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2024, 2025) (sau đây viết tắt là BLTTHS năm 2015): “Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra”.

Từ quy định này, có thể hiểu bị hại trong tố tụng hình sự là cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xác định trực tiếp chịu thiệt hại hoặc bị đe dọa gây thiệt hại về lợi ích được pháp luật bảo vệ do tội phạm gây ra. Việc BLTTHS năm 2015 thừa nhận cả cơ quan, tổ chức là bị hại đã mở rộng phạm vi chủ thể so với BLTTHS năm 2003, vốn sử dụng thuật ngữ “người bị hại” và chỉ ghi nhận cá nhân. Thiệt hại có thể đã xảy ra hoặc mới bị đe dọa nhưng phải do tội phạm gây ra và mang tính trực tiếp. Vì vậy, không phải mọi chủ thể có quyền lợi bị ảnh hưởng trong vụ án đều là bị hại; họ có thể tham gia tố tụng với tư cách nguyên đơn dân sự hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tư cách bị hại phải được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xác định dựa trên tài liệu, chứng cứ của vụ án.

Bảo đảm quyền của bị hại là một hoạt động bảo đảm quyền con người. Theo giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, bảo đảm quyền con người là việc các chủ thể theo pháp luật quốc tế và quốc gia về quyền con người có nghĩa vụ áp dụng tổng hợp các biện pháp hợp pháp để hiện thực hóa các quyền con người đã được hiến pháp, pháp luật quốc gia ghi nhận và trừng trị nghiêm khắc mọi hành vi vi phạm quyền con người (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. 2021). Theo đó, bảo đảm quyền của bị hại trong vụ án hình sự khởi tố theo yêu cầu của bị hại có nghĩa là các chủ thể có nghĩa vụ theo pháp luật phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để hiện thực hóa quyền mà pháp luật ghi nhận cho bị hại trong quá trình giải quyết vụ án hình sự khởi tố theo yêu cầu của bị hại.

Với nội hàm như vậy, bảo đảm quyền của bị hại trong vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại có một số đặc điểm cơ bản. Một là, đây là trách nhiệm của các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử, nhằm bảo đảm bị hại thực hiện đầy đủ các quyền chung và quyền đặc thù do BLTTHS quy định. Hai là, hoạt động này gắn chặt với việc tôn trọng quyền tự định đoạt của bị hại, bởi yêu cầu của họ là điều kiện khởi tố; việc rút yêu cầu có thể dẫn đến đình chỉ vụ án; đồng thời họ được trình bày lời buộc tội tại phiên tòa. Tuy nhiên, bị hại không thay thế trách nhiệm chứng minh và thực hành quyền công tố của cơ quan nhà nước. Ba là, việc bảo đảm quyền phải đặc biệt chú trọng tính tự nguyện và khả năng thực hiện quyền trên thực tế, do bị hại có thể bị đe dọa, ép buộc hoặc mua chuộc khi yêu cầu hay rút yêu cầu khởi tố. Bốn là, hoạt động này đòi hỏi cân bằng giữa quyền tự định đoạt của bị hại với yêu cầu xử lý tội phạm, bảo vệ công lý và tính khách quan của tố tụng hình sự.

2. Quy định pháp luật về quyền và bảo đảm quyền của bị hại trong vụ án hình sự được khởi tố theo yêu cầu bị hại

a) Quy định về quyền của bị hại trong vụ án hình sự được khởi tố theo yêu cầu bị hại

Theo khoản 2 Điều 62 BLTTHS năm 2015, bị hại hoặc người đại diện có các quyền cơ bản sau:

Một là, quyền được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ, qua đó chủ động tham gia tố tụng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp.

Hai là, quyền đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; trình bày ý kiến và yêu cầu kiểm tra, đánh giá chứng cứ liên quan. Quyền này cho phép bị hại tham gia chứng minh tội phạm và thiệt hại nhưng không chuyển trách nhiệm chứng minh sang họ; theo Điều 15 BLTTHS năm 2015, trách nhiệm này thuộc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Ba là, quyền đề nghị giám định, định giá tài sản nhằm xác định thương tích, tổn hại sức khỏe, giá trị tài sản và mức độ thiệt hại phục vụ định tội, định khung hình phạt và giải quyết bồi thường. Theo Điều 207, nếu đề nghị trưng cầu giám định không được chấp nhận, bị hại có thể tự yêu cầu giám định trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Bốn là, quyền được thông báo kết quả điều tra, giải quyết vụ án và các quyết định ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích của mình, như quyết định không khởi tố, đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án, bản án hoặc quyết định của Tòa án.

Năm là, quyền đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật nhằm bảo đảm tính khách quan, vô tư.

Sáu là, quyền đề nghị hình phạt, mức bồi thường và biện pháp bảo đảm bồi thường. Tuy nhiên, quyền quyết định hình phạt thuộc về Tòa án, căn cứ vào pháp luật hình sự, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Bảy là, quyền tham gia phiên tòa, trình bày ý kiến, đề nghị chủ tọa hỏi bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, tranh luận để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp. Theo nguyên tắc tranh tụng tại Điều 26, Hội đồng xét xử phải xem xét đầy đủ ý kiến của những người tham gia tranh tụng và ra phán quyết trên cơ sở kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ, tranh tụng tại phiên tòa.

Tám là, quyền tự bảo vệ hoặc nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Theo Điều 84, người bảo vệ có thể là luật sư, người đại diện, bào chữa viên nhân dân hoặc trợ giúp viên pháp lý khi bị hại thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý. Họ được đưa ra, kiểm tra, đánh giá chứng cứ; đưa ra yêu cầu; đề nghị giám định, định giá; tham gia một số hoạt động điều tra khi được chấp thuận; tham gia phiên tòa và khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng liên quan trực tiếp đến người được bảo vệ.

Chín là, quyền yêu cầu bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình hoặc người thân thích khi bị đe dọa. Theo Điều 486, các biện pháp bảo vệ gồm bố trí lực lượng, phương tiện bảo vệ; hạn chế việc đi lại, tiếp xúc; giữ bí mật thông tin, nơi cư trú, làm việc, học tập; di chuyển và ngăn chặn, xử lý hành vi xâm hại.

Mười là, quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án; khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Việc khiếu nại được thực hiện theo Chương XXXIII BLTTHS năm 2015. Ngoài ra, điểm o khoản 2 Điều 62 còn ghi nhận “các quyền khác theo quy định của pháp luật”, bảo đảm bị hại được thực hiện các quyền tại những điều luật có liên quan.

Trong vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại, bị hại có đầy đủ các quyền chung nêu trên, đồng thời có ba quyền đặc thù do ý chí của họ tác động trực tiếp đến việc khởi tố và tiếp tục giải quyết vụ án.

Trước hết là quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Theo khoản 1 Điều 155 BLTTHS năm 2015, chỉ được khởi tố vụ án về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155 và 156 Bộ luật Hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện trong trường hợp bị hại dưới 18 tuổi, có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết. Đó là các tội: cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh; cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội; vô ý gây thương tích; vô ý gây thương tích do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính; hiếp dâm; cưỡng dâm; làm nhục người khác và vu khống.

Quyền này chỉ áp dụng đối với các trường hợp được Điều 155 liệt kê. Yêu cầu của bị hại là điều kiện tố tụng để khởi tố, thể hiện sự tôn trọng ý chí và lợi ích của họ trong những vụ án mà việc xử lý công khai có thể ảnh hưởng thêm đến đời tư, danh dự hoặc khả năng khắc phục quan hệ giữa các bên. Tuy nhiên, việc xác định dấu hiệu tội phạm, chứng minh tội phạm và quyết định trách nhiệm hình sự vẫn thuộc thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng.

Tiếp đó là quyền rút yêu cầu khởi tố. Theo khoản 2 Điều 155, khi người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ. Nếu có căn cứ xác định việc rút yêu cầu trái với ý muốn thực sự của họ do bị ép buộc hoặc cưỡng bức, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng. Quy định này vừa tôn trọng quyền tự định đoạt, vừa ngăn ngừa việc đe dọa, cưỡng ép bị hại nhằm trốn tránh trách nhiệm hình sự. Theo khoản 3 Điều 155, người đã rút yêu cầu không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp việc rút yêu cầu trước đó do bị ép buộc hoặc cưỡng bức. Vì vậy, người thực hiện quyền phải tự nguyện và nhận thức đầy đủ hậu quả pháp lý của quyết định.

Bị hại hoặc người đại diện còn có quyền trình bày lời buộc tội tại phiên tòa. Theo Điều 320, sau khi Kiểm sát viên trình bày bản cáo trạng, họ được trực tiếp thể hiện quan điểm về hành vi phạm tội, hậu quả và yêu cầu xử lý bị cáo. Quyền này không thay thế trách nhiệm thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát và không trao cho bị hại quyền quyết định bị cáo có tội hay không. Tòa án vẫn phải xét xử độc lập, khách quan trên cơ sở kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và tranh tụng tại phiên tòa.

Như vậy, bị hại trong loại vụ án này vừa có đầy đủ các quyền chung, vừa có khả năng tác động đến việc khởi tố, tiếp tục giải quyết và thể hiện nội dung buộc tội; song việc xử lý vụ án vẫn phải tuân thủ pháp luật và thuộc trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng.

b) Quy định bảo đảm quyền của bị hại trong vụ án hình sự được khởi tố theo yêu cầu của bị hại

Trách nhiệm bảo đảm quyền của bị hại trong vụ án hình sự được khởi tố theo yêu cầu của bị hại

Như đã nêu, bảo đảm quyền của bị hại là trách nhiệm của các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử, nhằm bảo đảm bị hại thực hiện đầy đủ các quyền luật định. Do đó, hiệu quả bảo đảm quyền của bị hại phụ thuộc trực tiếp vào hoạt động của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cùng các chủ thể liên quan.

Cơ quan điều tra và Điều tra viên có trách nhiệm tiếp nhận, kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm; giải thích đầy đủ quyền, nghĩa vụ và tạo điều kiện để bị hại thực hiện các quyền quy định tại Điều 62 BLTTHS năm 2015. Khi vụ việc thuộc Điều 155, cơ quan có thẩm quyền phải xác định chính xác chủ thể, nội dung yêu cầu khởi tố và phân biệt yêu cầu này với yêu cầu bồi thường, xin lỗi hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Yêu cầu của bị hại chỉ là điều kiện khởi tố; cơ quan điều tra vẫn phải xác định dấu hiệu tội phạm theo Điều 143 và thu thập chứng cứ khách quan. Khi bị hại rút yêu cầu, cần kiểm tra tính tự nguyện, kịp thời phát hiện việc đe dọa, mua chuộc, ép buộc hoặc cưỡng bức.

Viện kiểm sát và Kiểm sát viên có trách nhiệm thực hành quyền công tố, kiểm sát tính hợp pháp của việc tiếp nhận yêu cầu, khởi tố, điều tra và đình chỉ vụ án; kịp thời yêu cầu khắc phục quyết định, hành vi xâm phạm quyền của bị hại. Trong giai đoạn truy tố và tại phiên tòa, Viện kiểm sát phải xem xét các yêu cầu hợp pháp, thông báo quyết định tố tụng và tiếp tục chịu trách nhiệm chứng minh nội dung buộc tội, không chuyển trách nhiệm này sang bị hại.

Tòa án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử phải bảo đảm bị hại được tham gia phiên tòa, trình bày ý kiến, tranh luận, yêu cầu bồi thường và thực hiện quyền kháng cáo. Trong vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại, Tòa án phải tạo điều kiện để họ trình bày lời buộc tội theo Điều 320; khi có việc rút yêu cầu, phải giải thích hậu quả pháp lý, xác minh tính tự nguyện và giải quyết đúng thủ tục.

Bên cạnh đó, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, tổ chức trợ giúp pháp lý cùng các cơ quan liên quan có trách nhiệm hỗ trợ bị hại hiểu và thực hiện quyền; thu thập, cung cấp chứng cứ; yêu cầu giám định, bồi thường, khiếu nại, kháng cáo và đề nghị bảo vệ. Các cơ quan tiến hành tố tụng phải phối hợp áp dụng biện pháp bảo vệ theo các điều 484-490 của BLTTHS hiện hành khi bị hại hoặc người thân thích bị đe dọa. Nghiên cứu thực tiễn cho thấy việc giải thích không đầy đủ và không xác minh ý chí thực sự của bị hại có thể dẫn đến khởi tố hoặc đình chỉ vụ án không chính xác (Hoàng Thị Vân Anh, 2019).

Thủ tục, biện pháp bảo đảm quyền của bị hại trong vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại

Trình tự, thủ tục tố tụng là phương thức pháp lý để hiện thực hóa quyền của bị hại, đồng thời giới hạn và kiểm soát việc sử dụng quyền lực của các cơ quan tiến hành tố tụng. Vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại về cơ bản vẫn được giải quyết theo thủ tục chung về khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử; bị hại được thực hiện đầy đủ các quyền tại Điều 62 BLTTHS năm 2015. Điểm đặc thù của loại vụ án này là thủ tục yêu cầu và rút yêu cầu khởi tố có thể quyết định việc bắt đầu hoặc chấm dứt quá trình giải quyết vụ án.

Khi vụ việc thuộc khoản 1 Điều 155 BLTTHS năm 2015, cơ quan có thẩm quyền phải giải thích hậu quả pháp lý và ghi nhận chính xác ý chí của bị hại hoặc người đại diện. Yêu cầu khởi tố phải thể hiện mong muốn truy cứu trách nhiệm hình sự, được phân biệt với yêu cầu bồi thường, xin lỗi, cải chính hoặc giảm nhẹ trách nhiệm cho người phạm tội. Đây là điều kiện khởi tố nhưng không thay thế căn cứ khởi tố; cơ quan có thẩm quyền vẫn phải xác định dấu hiệu tội phạm theo Điều 143. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị hại phải được thông báo các quyết định tố tụng; được cung cấp, trình bày ý kiến về chứng cứ; đề nghị giám định, định giá; tham gia phiên tòa, tranh luận, yêu cầu bồi thường và trình bày lời buộc tội theo Điều 320.

Người đã yêu cầu khởi tố có quyền rút yêu cầu và Điều 155 hiện hành không giới hạn việc thực hiện quyền này ở thời điểm trước khi mở phiên tòa sơ thẩm. Khi tiếp nhận việc rút yêu cầu, cơ quan tiến hành tố tụng phải giải thích hậu quả, kiểm tra tư cách chủ thể và xác minh tính tự nguyện. Vụ án được đình chỉ nếu việc rút yêu cầu hợp pháp; ngược lại, tố tụng vẫn tiếp tục khi có căn cứ xác định người yêu cầu bị ép buộc hoặc cưỡng bức. Khi bị hại hoặc người thân thích bị đe dọa, các biện pháp bảo vệ tại các điều 484-490 BLTTHS năm 2015 phải được xem xét áp dụng.

Việc thực hiện các thủ tục trên trước hết được kiểm soát thông qua hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát. Trong các giai đoạn giải quyết nguồn tin, khởi tố và điều tra, Viện kiểm sát có quyền kiểm tra tính hợp pháp của quyết định, hành vi tố tụng; yêu cầu Cơ quan điều tra khắc phục vi phạm, cung cấp tài liệu, tiến hành hoạt động điều tra; hủy bỏ hoặc yêu cầu hủy bỏ quyết định trái pháp luật theo thẩm quyền. Cơ chế này đặc biệt cần thiết khi có nghi vấn về tư cách người yêu cầu, nội dung yêu cầu hoặc tính tự nguyện của việc rút yêu cầu khởi tố.

Bị hại còn có quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo Điều 62 và Chương XXXIII BLTTHS năm 2015. Khiếu nại có thể hướng đến quyết định, hành vi của Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Kiểm sát viên, Viện trưởng Viện kiểm sát, Thẩm phán hoặc người có thẩm quyền khác. Việc giải quyết được thực hiện theo thẩm quyền trong từng hệ thống cơ quan; nếu không đồng ý với kết quả giải quyết lần đầu, người khiếu nại có thể tiếp tục khiếu nại đến chủ thể có thẩm quyền tiếp theo theo luật định. Cơ quan giải quyết phải kiểm tra quyết định, hành vi bị khiếu nại và ra quyết định giữ nguyên, hủy bỏ, sửa đổi hoặc yêu cầu chấm dứt, khắc phục vi phạm.

Ở giai đoạn xét xử, bị hại hoặc người đại diện vẫn có quyền kháng cáo bản án, quyết định sơ thẩm theo Điều 331 BLTTHS năm 2015; Viện kiểm sát có quyền kháng nghị phúc thẩm khi phát hiện vi phạm pháp luật, bao gồm việc khởi tố không có yêu cầu hợp lệ, không bảo đảm quyền tham gia tố tụng hoặc không xác minh tính tự nguyện của việc rút yêu cầu. Đối với vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại, thủ tục phúc thẩm còn có điểm đặc thù: nếu sau khi xét xử sơ thẩm nhưng vẫn trong thời hạn kháng cáo, người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì Tòa án hướng dẫn họ kháng cáo để cấp phúc thẩm xem xét; nếu vụ án đã được xét xử phúc thẩm do có kháng cáo hoặc kháng nghị, Tòa án cấp phúc thẩm xác minh tính tự nguyện của việc rút yêu cầu và có thể hủy bản án sơ thẩm, đình chỉ vụ án theo khoản 2 Điều 155. Nếu việc rút yêu cầu do bị ép buộc hoặc cưỡng bức, vụ án vẫn tiếp tục được giải quyết. Đối với bản án đã có hiệu lực, người có thẩm quyền chỉ kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm khi có căn cứ tương ứng do BLTTHS quy định; việc bị hại rút yêu cầu sau đó không đương nhiên làm phát sinh thủ tục xem xét lại bản án (Tòa án nhân dân tối cao, 2018).

3. Những tiến bộ pháp luật về bảo đảm quyền của bị hại trong vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại và một số vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện

a) Những tiến bộ pháp luật về bảo đảm quyền của bị hại trong vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại

So với BLTTHS năm 2003, BLTTHS hiện hành đã có bước phát triển rõ rệt trong xác định tư cách pháp lý và bảo đảm khả năng tham gia tố tụng của bị hại. Điều 51 BLTTHS năm 2003 sử dụng thuật ngữ “người bị hại” và giới hạn chủ thể ở cá nhân bị tội phạm gây thiệt hại về thể chất, tinh thần hoặc tài sản. Điều 62 BLTTHS năm 2015 thay thế bằng thuật ngữ “bị hại”, đồng thời mở rộng phạm vi sang cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín. Khái niệm mới còn bao quát trường hợp thiệt hại mới ở trạng thái bị đe dọa gây ra, qua đó phản ánh đầy đủ hơn đối tượng cần được pháp luật tố tụng hình sự bảo vệ. Sự mở rộng này khắc phục tình trạng cơ quan, tổ chức trực tiếp bị tội phạm xâm hại nhưng không được xác định tư cách bị hại và phải tham gia tố tụng theo tư cách khác (Trần Văn Hùng, 2018).

Địa vị tố tụng của bị hại cũng được củng cố bằng hệ thống quyền đầy đủ hơn. Bên cạnh những quyền đã được ghi nhận trong BLTTHS năm 2003 như đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu; được thông báo kết quả điều tra; đề nghị hình phạt, bồi thường; tham gia phiên tòa, tranh luận, kháng cáo và khiếu nại, Điều 62 BLTTHS năm 2015 bổ sung hoặc quy định rõ hơn quyền được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ; trình bày ý kiến và yêu cầu kiểm tra, đánh giá chứng cứ; đề nghị giám định, định giá; đề nghị thay đổi người tiến hành, tham gia tố tụng; tự bảo vệ hoặc nhờ người bảo vệ; tham gia các hoạt động tố tụng và yêu cầu bảo vệ khi bị đe dọa. Cùng với nguyên tắc tranh tụng tại Điều 26 và chế định bảo vệ người tham gia tố tụng tại các điều 484-490, các quy định này chuyển vị thế của bị hại từ tương đối thụ động sang chủ động hơn trong bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.

Đối với vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại, Điều 155 BLTTHS năm 2015 thể hiện tiến bộ nổi bật về bảo đảm quyền tự định đoạt. Trong khi Điều 105 BLTTHS năm 2003 chỉ cho phép rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm, pháp luật hiện hành không giới hạn thời điểm rút yêu cầu. Phạm vi người đại diện có quyền yêu cầu khởi tố cũng được xác định rõ hơn, bao gồm trường hợp bị hại dưới 18 tuổi, có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.

Đáng chú ý, nếu BLTTHS năm 2003 quy định cơ quan tiến hành tố tụng “có thể” tiếp tục giải quyết khi việc rút yêu cầu do ép buộc, cưỡng bức thì khoản 2 Điều 155 hiện hành yêu cầu các cơ quan này “vẫn tiếp tục” tiến hành tố tụng. Sự thay đổi từ quyền cân nhắc sang nghĩa vụ bắt buộc làm tăng khả năng bảo vệ bị hại trước sự đe dọa hoặc can thiệp trái pháp luật. Nhìn chung, pháp luật hiện hành đã kết hợp tốt hơn giữa tôn trọng ý chí của bị hại với trách nhiệm kiểm soát tính tự nguyện, xử lý tội phạm và bảo vệ công lý.

b) Một số vấn đề cần hoàn thiện đối với quy định pháp luật bảo đảm quyền của bị hại trong vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại

Mặc dù BLTTHS hiện hành đã mở rộng quyền và nâng cao vị thế của bị hại, quy định về khởi tố theo yêu cầu của bị hại vẫn còn một số khoảng trống ảnh hưởng đến việc áp dụng thống nhất và bảo đảm quyền trên thực tế.

Trước hết, Điều 155 chưa quy định cụ thể hình thức, nội dung và thủ tục tiếp nhận yêu cầu khởi tố. Vì vậy, thực tiễn có thể gặp khó khăn khi phân biệt yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự với tố giác tội phạm, yêu cầu bồi thường, xin lỗi, cải chính hoặc đề nghị xử lý chung chung. Pháp luật cũng chưa xác định thời hạn đưa ra yêu cầu và cách xử lý khi cơ quan có thẩm quyền đã tiếp nhận nguồn tin nhưng bị hại chưa thể hiện rõ ý chí. Cần quy định yêu cầu có thể được lập thành văn bản hoặc trình bày trực tiếp và phải được ghi biên bản; đồng thời xác định những nội dung tối thiểu, trách nhiệm giải thích, xác nhận ý chí và quan hệ giữa thời hạn yêu cầu với thời hạn giải quyết nguồn tin, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Những vướng mắc này đã được chỉ ra trong nghiên cứu về thực tiễn áp dụng Điều 155 (Hoàng Thị Vân Anh, 2019).

Quy định về chủ thể thực hiện quyền cũng chưa bao quát hết các tình huống phức tạp. Điều 155 chưa giải quyết rõ trường hợp vụ án có nhiều bị hại nhưng chỉ một người yêu cầu; có nhiều bị can, bị cáo nhưng bị hại muốn rút yêu cầu đối với một người; bị hại dưới 18 tuổi có ý kiến khác với người đại diện; hoặc người có nhược điểm về tâm thần, thể chất không có hay chưa xác định được người đại diện. Đây là những vấn đề có thể dẫn đến cách hiểu khác nhau về phạm vi khởi tố, đình chỉ vụ án và chủ thể có ý chí được ưu tiên. Pháp luật cần xác định nguyên tắc giải quyết theo từng hành vi, từng bị hại và lợi ích tốt nhất của người chưa thành niên, đồng thời quy định cơ chế xử lý xung đột lợi ích giữa bị hại với người đại diện (Phan Thành Nhân - Đỗ Thị Nhung, 2019).

Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 155 mới xác định vụ án vẫn được tiếp tục khi việc rút yêu cầu do bị ép buộc hoặc cưỡng bức nhưng chưa quy định căn cứ nhận diện, trình tự xác minh, chủ thể chịu trách nhiệm chứng minh và cách xử lý trong thời gian xác minh. Khái niệm “ép buộc, cưỡng bức” cũng chưa bao quát rõ các hình thức đe dọa, mua chuộc, lệ thuộc kinh tế hoặc gây sức ép từ gia đình và cộng đồng. Cần bổ sung thủ tục kiểm tra tính tự nguyện, yêu cầu ghi nhận đầy đủ việc giải thích hậu quả pháp lý và cho phép áp dụng sớm biện pháp bảo vệ ngay từ khi bị hại đang cân nhắc yêu cầu khởi tố.

Việc không giới hạn thời điểm rút yêu cầu là một tiến bộ nhưng chưa được đồng bộ với thủ tục xét xử. Điều 326 chưa quy định rõ việc Hội đồng xét xử sơ thẩm quyết định đình chỉ khi bị hại rút yêu cầu tại phiên tòa; Điều 359 cũng chưa coi việc rút yêu cầu ở giai đoạn phúc thẩm là căn cứ hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án. Công văn số 254/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 đã hướng dẫn xử lý nhưng không thay thế được quy định của BLTTHS. Pháp luật cũng chưa giải quyết thống nhất hậu quả đối với phần bồi thường, vật chứng và án phí khi bản án sơ thẩm bị hủy vì bị hại rút yêu cầu. Do đó, cần bổ sung trực tiếp các căn cứ, thẩm quyền, thủ tục và hậu quả pháp lý tương ứng tại các điều luật về xét xử sơ thẩm, phúc thẩm.

Cuối cùng, cần rà soát phạm vi các tội khởi tố theo yêu cầu của bị hại, nhất là tội hiếp dâm và cưỡng dâm. Việc trao quyền tự định đoạt có ý nghĩa bảo vệ đời tư, nhưng cũng có thể đặt gánh nặng khởi động tố tụng lên người đang bị tổn thương và dễ bị tác động. Vì vậy, cần nghiên cứu cơ chế ngoại lệ cho phép khởi tố không phụ thuộc yêu cầu khi bị hại đặc biệt dễ bị tổn thương, bị lệ thuộc hoặc có nguy cơ tiếp tục bị xâm hại; đồng thời tăng cường bảo mật thông tin, trợ giúp pháp lý và hỗ trợ tâm lý cho họ.

4. Phương hướng hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền của bị hại trong vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại

Hoàn thiện các quy định pháp luật bảo đảm quyền của bị hại trong vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại cần quán triệt cách tiếp cận lấy quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại làm trung tâm, đồng thời bảo đảm sự cân bằng giữa quyền tự định đoạt của họ với yêu cầu xử lý tội phạm và bảo vệ công lý. Các quy định được sửa đổi phải tạo điều kiện để bị hại đưa ra quyết định trên cơ sở tự nguyện, được cung cấp đầy đủ thông tin và không chịu sự can thiệp trái pháp luật.

Trước hết, Điều 155 BLTTHS năm 2015 cần quy định rõ hình thức, nội dung và thủ tục yêu cầu khởi tố. Yêu cầu có thể được lập bằng văn bản hoặc trình bày trực tiếp và được cơ quan có thẩm quyền lập biên bản; nội dung phải thể hiện rõ ý chí đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự. Cơ quan tiếp nhận phải giải thích hậu quả pháp lý và giúp bị hại phân biệt yêu cầu khởi tố với tố giác tội phạm, yêu cầu bồi thường, xin lỗi hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Pháp luật cũng cần xác định thời hạn thủ tục để bị hại thể hiện ý kiến sau khi được thông báo vụ việc thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu. Tuy nhiên, không nên quy định một thời hạn cứng quá ngắn làm mất quyền yêu cầu, nhất là đối với bị hại của tội phạm tình dục, người dưới 18 tuổi hoặc người đang bị lệ thuộc, đe dọa. Cần cho phép gia hạn hoặc khôi phục thời hạn khi có lý do chính đáng và bảo đảm thời hạn này không vượt quá thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

Quy định về chủ thể yêu cầu và rút yêu cầu khởi tố cần được cụ thể hóa đối với vụ án có nhiều bị hại, nhiều bị can, bị cáo; trường hợp bị hại dưới 18 tuổi có ý kiến khác người đại diện; hoặc người có nhược điểm về tâm thần, thể chất không có người đại diện. Việc giải quyết phải dựa trên từng hành vi phạm tội, phạm vi thiệt hại và ý chí của từng bị hại; không nên cho phép bị hại tùy ý lựa chọn khởi tố hoặc đình chỉ đối với riêng một người đồng phạm. Khi có xung đột giữa bị hại dưới 18 tuổi với người đại diện, cơ quan có thẩm quyền phải đánh giá năng lực nhận thức, lợi ích tốt nhất của bị hại và chỉ định người đại diện khác nếu người đại diện hiện tại có xung đột lợi ích.

Cùng với đó, cần bổ sung thủ tục kiểm tra tính tự nguyện của việc yêu cầu và rút yêu cầu khởi tố. Người có thẩm quyền phải gặp trực tiếp người thực hiện quyền, giải thích hậu quả, ghi âm hoặc ghi hình khi cần thiết và xác minh dấu hiệu đe dọa, mua chuộc, lệ thuộc hoặc gây áp lực. Khái niệm “ép buộc, cưỡng bức” tại khoản 2 Điều 155 nên được giải thích theo hướng bao quát cả tác động vật chất lẫn tinh thần làm sai lệch ý chí thực sự. Các biện pháp bảo vệ tại các điều 484-490 cần được áp dụng ngay từ giai đoạn bị hại cân nhắc yêu cầu khởi tố, thay vì chỉ sau khi nguy cơ xâm hại đã trở nên rõ ràng.

Các quy định về rút yêu cầu trong giai đoạn xét xử cũng phải được sửa đổi đồng bộ. Điều 326 cần bổ sung thẩm quyền của Hội đồng xét xử sơ thẩm quyết định đình chỉ vụ án khi người đã yêu cầu khởi tố tự nguyện rút yêu cầu tại phiên tòa. Điều 359 cần ghi nhận rõ việc rút yêu cầu tại giai đoạn phúc thẩm là căn cứ để hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án; đồng thời quy định cách giải quyết phần bồi thường, vật chứng, án phí và quyền lợi của người liên quan. Nội dung hiện mới được hướng dẫn tại Công văn số 254/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 cần được luật hóa để bảo đảm giá trị pháp lý và áp dụng thống nhất.

Cuối cùng, cần rà soát việc tiếp tục đặt tội hiếp dâm và cưỡng dâm tại khoản 1 Điều 155. Có thể thiết kế ngoại lệ cho phép khởi tố không phụ thuộc yêu cầu khi bị hại dưới 18 tuổi, bị lệ thuộc, không có khả năng tự bảo vệ hoặc có nguy cơ tiếp tục bị xâm hại. Đồng thời, cần mở rộng khả năng tiếp cận trợ giúp pháp lý, hỗ trợ tâm lý, bảo mật thông tin và sự tham gia sớm của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, qua đó bảo đảm quyền tự định đoạt được thực hiện thực chất chứ không chỉ tồn tại về hình thức.

Kết luận

Pháp luật tố tụng hình sự hiện hành đã có bước tiến quan trọng trong bảo đảm quyền của bị hại, thể hiện qua việc mở rộng phạm vi chủ thể, bổ sung các quyền tố tụng và tăng cường cơ chế tham gia, bảo vệ, khiếu nại, kháng cáo. Đối với vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại, quyền yêu cầu và rút yêu cầu khởi tố cùng quyền trình bày lời buộc tội tại phiên tòa đã tạo nên cơ chế đặc thù, đề cao quyền tự định đoạt nhưng vẫn duy trì trách nhiệm chứng minh, công tố và xét xử của các cơ quan nhà nước.

Tuy nhiên, hiệu quả bảo đảm quyền còn bị ảnh hưởng bởi những khoảng trống về hình thức, thời hạn, chủ thể yêu cầu khởi tố; cách xác định tính tự nguyện; xử lý trường hợp có nhiều bị hại, bị can, bị cáo; cũng như thủ tục và hậu quả pháp lý khi rút yêu cầu tại giai đoạn xét xử. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện đồng bộ các quy định liên quan, tăng cường cơ chế bảo vệ, trợ giúp pháp lý và kiểm soát hoạt động tố tụng. Việc hoàn thiện phải lấy quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại làm trung tâm, đồng thời bảo đảm sự cân bằng với yêu cầu xử lý tội phạm, bảo vệ công lý và trật tự pháp luật.

---

Tài liệu tham khảo

Hoàng Thị Vân Anh. (2019). “Khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại: Những hạn chế cần khắc phục”, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử, ngày 06/10/2019.

Lê Văn Cảm. (2010). Bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam: Những vấn đề lý luận cơ bản, Báo Dân chủ và Pháp luật - Bộ Tư pháp, (7).

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. (2021). Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb. Lý luận Chính trị, Hà Nội.

Trần Văn Hùng. (2018). “Quy định về ‘bị hại’ trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015”, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử, ngày 05/02/2018.

Phan Thành Nhân - Đỗ Thị Nhung. (2019). “Chủ thể và thời hạn được quyền yêu cầu hoặc rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự”, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử, ngày 02/11/2019.

Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. (2015). Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2024, 2025).

Tòa án nhân dân tối cao. (2018).Công văn số 254/TANDTC-PC về người đã yêu cầu khởi tố vụ án hình sự rút yêu cầu theo Điều 155 BLTTHS, ban hành ngày 26/11/2018.