Tóm tắt: Điều 28 Hiến pháp năm 2013 quy định: “công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội”. Tố cáo tham nhũng là phương thức thực hiện quyền này. Quyền tham gia quản lý xã hội là một trong những quyền con người cơ bản được pháp luật quốc tế và quốc gia quy định. Ở Việt Nam, một trong những  phương thức thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội là công dân có quyền tố cáo tham nhũng, Đồng thời qua việc tố cáo tham nhũng, người dân thực hiện quyền làm chủ trực tiếp của mình. Để bảo đảm quyền, Nhà nước thực hiện các giải pháp, trong đó có hình thức khen thưởng người có thành tích trong tố cáo tham nhũng. Bài viết góp phần làm rõ một số vấn đề về thực trạng pháp luật và giải pháp hoàn thiện pháp luật khen thưởng người tố cáo tham nhũng nhằm bảo đảm quyền tham gia của công dân trong tố cáo tham nhũng ở Việt Nam.
Từ khóa: Tham nhũng; khen thưởng; tố cáo tham nhũng; quyền tham gia quản lý quản lý nhà nước và xã hội.
Abstract: Article 28 of the 2013 Constitution stipulates that "citizens have the right to participate in the management of the state and society". Reporting corruption constitute one way of of exercising this right. The right to participate in the management of society is recognized as one of the fundamental human rights under both international and national law. In Vietnam, one way for citizens to exercise their right to participate in the management of the state and society is through reporting corruption. Simultaneously, by reporting corruption, citizens exercise their right to direct self-governance. To ensure this right, the state implements smeasures, including providing rewards to those who have successfully  reported corruption. This article aims to clarify certain issues regarding the current legal framework and  to propose solutions for improving the law on rewarding individuals who report corruption, thereby ensuring citizens' right to participate in anti- corruption efforts in Vietnam.
Keywords: Corruption; rewards; reporting corruption; the right to participate in the management of the state and society.

 

Chị Hoàng Thị Nguyệt và các cán bộ Bệnh viện Đa khoa Hoài Đức được khen thưởng

vì tố cáo vụ nhân bản kết quả xét nghiệm. Nguồn: nld.com.vn

Tố cáo tham nhũng là một trong những hoạt động thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân và là một trong những quyền con người cơ bản được Hiến pháp năm 2013 quy định. Để tạo động lực, khuyến khích công dân tích cực tham gia phòng, chống tham nhũng, trong thời gian qua, Nhà nước đã có các hình thức khen thưởng đối với các cá nhân, tổ chức tích cực phòng, chống tham nhũng. Tuy nhiên, số lượng các cá nhân được khen thưởng còn hạn chế, chưa phát huy sự tham gia tích cực của người dân, do đó hiệu quả đạt được chưa cao. Một trong những nguyên nhân là sự bất cập của hệ thống pháp luật về khen thưởng. Vì vậy, cần thiết phải phân tích các bất cập nêu trên dưới góc độ lý luận về quyền và thực trạng khung pháp lý hiện nay, đề xuất các giải pháp hoàn thiện để pháp luật khen thưởng người tố cáo tham nhũng trở thành công cụ pháp lý quan trọng, cung cấp đầy đủ cơ sở pháp lý cho các cơ quan, tổ chức thực hiện, khích lệ nhân dân nêu cao tinh thần đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng. Qua đó, thể hiện minh chứng rõ nét về nỗ lực của Việt Nam trong ghi nhận, bảo đảm và thúc đẩy quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội - một trong những quyền chính trị cơ bản của con người.

1. Khen thưởng người tố cáo tham nhũng - Phương thức bảo đảm quyền tố cáo tham nhũng của công dân

Khen thưởng người tố cáo tham nhũng là việc ghi nhận, biểu dương, tôn vinh các cá nhân có thành tích trong việc tố cáo tham nhũng, qua đó động viên, khích lệ tinh thần của cá nhân người tố cáo tham nhũng và của mọi người dân tích cực tham gia phòng, chống tham nhũng. Trong bối cảnh tham nhũng đang diễn biến nghiêm trọng, phức tạp, cùng với các cơ quan chức năng trong bộ máy của Đảng, nhà nước, nhân dân với nguồn lực dồi dào nếu được phát huy tốt sẽ góp phần không nhỏ ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng tham nhũng ở Việt Nam hiện nay.

Mặc dù cũng là một hình thức tố cáo, song do chủ thể tham nhũng (người bị tố cáo) thường là những người có chức vụ, quyền hạn, có quyền lực nhà nước còn người tố cáo ở vị trí yếu thế hơn nên họ dễ bị trù dập, trả thù. Rủi ro với người tố cáo tham nhũng thường đa dạng hơn và lớn hơn nhiều so với người tố cáo nói chung (Vũ Công Giao & Trần Thùy Dương, 2024), họ phải đối mặt với nguy cơ bị uy hiếp về tính mạng, sức khỏe, đe dọa mất việc làm, hủy hoại tài sản...

Thực tế cho thấy, một số trường hợp cán bộ tố cáo tham nhũng không nhận được sự tán thành, ủng hộ, thậm chí bị xa lánh, chỉ trích bởi đồng nghiệp và tập thể. Cùng với lối suy nghĩ tiêu cực “sống chung với tham nhũng”, người tố cáo tham nhũng ít nhận được sự đồng thuận, động viên, chia sẻ của đồng nghiệp, cộng đồng, thậm chí là cả người thân trong gia đình. Tình trạng đơn độc, lẻ loi, bị cô lập khiến cho ít người dũng cảm tố cáo tham nhũng (Vũ Công Giao & Trần Thùy Dương, 2024).Vì vậy, người dân thường có tâm lý e ngại khi cung cấp thông tin tham nhũng đến cơ quan có thẩm quyền. Chỉ những người nghĩ đến lợi ích của đất nước, nhân dân, không sợ hậu quả bất lợi cho bản thân và gia đình mới có đủ dũng khí đấu tranh với tham nhũng.

Cùng với thực hiện các biện pháp hữu hiệu để bảo vệ người tố cáo tham nhũng , việc các cơ quan nhà nước kịp thời động viên tinh thần, khuyến khích bằng lợi ích vật chất thông qua khen thưởng người tố cáo tham nhũng có ý nghĩa quan trọng nhằm tạo niềm tin, thúc đẩy người dân tham gia cung cấp thông tin, phối hợp tích cực với các cơ quan có thẩm quyền phát hiện, xử lý, đảm bảo thành công mục tiêu phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước. Bên cạnh đó, việc ghi nhận, biểu dương, tôn vinh kịp thời những cá nhân có thành tích trong tố cáo tham nhũng  còn  lan tỏa gương người tốt, việc tốt, góp phần thay đổi nhận thức của xã hội đối với người tố cáo tham nhũng, hình thành thói quen tốt đẹp trong xã hội, nơi mỗi người dân là một chiến sỹ trên mặt trận đấu tranh chống tham nhũng.

2. Pháp luật về khen thưởng người tố cáo nhằm bảo đảm quyền tham gia của công dân trong phòng, chống tham nhũng  

Nhận thức được vai trò quan trọng của công dân trong phòng, chống tham nhũng, Công ước Chống tham nhũng của Liên hợp quốc đã khẳng định chính phủ các nước phải có trách nhiệm thực hiện các biện pháp nhằm bảo đảm sự liêm chính và khuyến khích xây dựng văn hoá chống tham nhũng ở mỗi quốc gia. Là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, với tư cách thành viên của Công ước, thời gian qua, Đảng và Nhà nước, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực thực hiện nhiệm vụ quốc gia này, trong đó việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về khen thưởng người tố cáo tham nhũng và bước đầu đã tạo lập khuôn khổ pháp lý quan trọng để các cơ quan có thẩm quyền tiến hành khen thưởng các cá nhân có thành tích trong tố cáo tham nhũng, kịp thời động viên, khích lệ nhân dân tích cực phát hiện, cung cấp thông tin, giúp cơ quan có thẩm quyền xử lý nhiều vụ án tham nhũng, thu hồi tài sản tham nhũng, xử lý người vi phạm. Tuy nhiên, các quy định pháp luật về khen thưởng trong lĩnh vực này đang tồn tại một số bất cập sau đây:

Thứ nhất, về tiêu chuẩn khen thưởng người có thành tích trong tố cáo tham nhũng

Khen thưởng người tố cáo tham nhũng thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật phòng, chống tham nhũng, pháp luật tố cáo và pháp luật thi đua, khen thưởng. Theo Luật Thi đua, khen thưởng năm 2022, người tố cáo tham nhũng có thể được khen thưởng bằng 04 hình thức gồm: Huân chương Dũng cảm, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Bằng khen của bộ, ban, ngành, tỉnh và Giấy khen. Trong khi hình thức khen thưởng ở các lĩnh vực khác có tiêu chuẩn rõ ràng thì tiêu chuẩn khen thưởng đối với người tố cáo tham nhũng còn chung chung, khó thực hiện. Ví dụ, để được khen thưởng Huân chương Dũng cảm (Quốc hội, 2022, Điều 52), người tố cáo tham nhũng phải có “hành động dũng cảm khi... đấu tranh phòng, chống tội phạm... và thành tích đạt được có tác dụng động viên, giáo dục, nêu gương trong phạm vi quản lý của Bộ, ban, ngành, tỉnh hoặc toàn quốc”. Để được khen thưởng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, của Bộ, ban, ngành, tỉnh, người tố cáo tham nhũng phải “Lập được nhiều thành tích hoặc thành tích đột xuất”, “Có đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội” (Quốc hội, 2022, điểm a, b, khoản 5, Điều 73)... Tuy nhiên, pháp luật chưa định lượng cụ thể hành động nào thì được gọi là “dũng cảm”, thành tích như thế nào thì được xác định là “tác dụng động viên, giáo dục, nêu gương” “phạm vi quản lý” được hiểu như thế nào... Có thể thấy, các tiêu chuẩn mang tính chất “định tính” như trên đã và đang gây khó khăn trong nhận thức, thực hiện của các cơ quan, tổ chức khi khen thưởng và đề nghị khen thưởng.

Thứ hai, quy định mức thưởng bằng tiền chưa thật sự tạo động lực khuyến khích cá nhân tố cáo tham nhũng

Hiện nay, Luật Thi đua, khen thưởng năm 2022 quy định mức thưởng bằng tiền được áp dụng dựa trên hệ thống bảng lương áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức.  Theo đó, Huân chương Dũng cảm được thưởng 4,5 lần; Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ được thưởng 03 lần; Bằng khen của Bộ, ban, ngành, tỉnh là 01 lần và Giấy khen được thưởng bằng 0,3 lần mức lương cơ sở. Ngoài mức thưởng chung được áp dụng như khen thưởng đối với người có thành tích trong các lĩnh vực khác, do tính đặc thù của tố cáo tham nhũng, năm 2015, Thanh tra Chính phủ và Bộ Nội vụ ban hành Thông tư liên tịch số 01/2015/TTLT-TTCP-BNV khen thưởng cá nhân có thành tích xuất sắc trong tố cáo hành vi tham nhũng và cộng tác với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền để xử lý hành vi tham nhũng bị tố cáo, thu hồi tài sản tham nhũng (Thanh tra Chính phủ & Bộ Nội vụ, 2015, khoản 1, Điều 2). Với mục đích động viên, khích lệ công dân tích cực phát hiện, tố cáo tham nhũng, Thông tư liên tịch số 01 quy định thêm 02 mức thưởng bằng tiền được áp dụng đối với trường hợp cá nhân nhận được hình thức khen thưởng là Huân chương Dũng cảm, Bằng khen của Chính phủ và Bằng khen của Bộ. Số tiền thưởng cá nhân nhận được theo tỷ lệ tương xứng với thành tích và tài sản tham nhũng được thu hồi thành công. Tuy nhiên, đối tượng khen thưởng, tiêu chuẩn khen thưởng, mức thưởng... của Thông tư liên tịch số 01 được xây dựng trên cơ sở Luật Tố cáo năm 2011 và Nghị định số 76/2012/NĐ-CP hướng dẫn Luật Tố cáo năm 2011 (Thanh tra Chính phủ & Bộ Nội vụ, 2015, Điều 5). Hiện nay, Luật Tố cáo năm 2011 đã được thay thế bởi Luật Tố cáo năm 2018 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2019) nhưng các cơ quan có thẩm quyền chưa ban hành văn bản khen thưởng người có thành tích tố cáo tham nhũng để thay thế Thông tư liên tịch số 01 đã hết hiệu lực pháp luật. Như vậy, trường hợp những cá nhân có thành tích trong tố cáo tham nhũng từ năm 2019 đến nay sẽ không được khen thưởng bằng tiền theo Thông tư liên tịch số 01. Như vậy, số tiền thưởng mà người tố cáo nhận được là quá ít so với những công sức cũng như những nguy hiểm mà họ phải đối mặt. Với  mức  khen  thưởng  vật  chất  thấp  như  hiện  nay  thì  rất  khó  để khuyến khích người dân tích cực tham gia việc tố cáo hành vi tham nhũng (Cao Vũ Minh, 2022).

Thứ ba, quy định về thủ tục khen thưởng người tố cáo tham nhũng

Hiện nay, thủ tục đề nghị khen thưởng và khen thưởng đã bước đầu được đơn giản hóa khi pháp luật quy định khen thưởng theo thủ tục rút gọn (Quốc hội, 2022, Điều 85; Chính phủ, 2023, Điều 40) trong một số trường hợp, trong đó có trường hợp khen thưởng người tố cáo tham nhũng. Tuy nhiên, vẫn còn một số vướng mắc trong thủ tục thực hiện, gây khó khăn cho các cơ quan nhà nước và cá nhân người tố cáo tham nhũng, từ đó ảnh hưởng đến quyền lợi của người tố cáo tham nhũng. Ví dụ, bất cập về thời điểm lập tờ trình đề nghị khen thưởng được quy định tại khoản 3 Điều 40 Nghị định số 98/2023/NĐ-CP: “người đứng đầu bộ, ban, ngành, tỉnh... khen thưởng và đề nghị khen thưởng ngay sau khi cá nhân, tập thể lập được thành tích xuất sắc, đột xuất” (Chính phủ, 2023, khoản 3, Điều 40). Theo quy định này thì rất khó để xác định thời điểm nào là “ngay sau khi...” vì giải quyết tố cáo tham nhũng phải trải qua nhiều khâu, nhiều công đoạn từ tiếp nhận đơn tố cáo tham nhũng, thụ lý vụ việc, thẩm tra, xác minh, khởi tố, truy tố, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, thi hành án, thu hồi tài sản tham nhũng... Giai đoạn nào thì được xác định là “ngay sau khi” chưa được pháp luật quy định rõ ràng, gây lúng túng cho các cơ quan có thẩm quyền khi thực hiện, tạo dư luận hoài nghi trong nhân dân. Nhiều trường hợp, việc khen thưởng người tố cáo tham nhũng chỉ được thực hiện khi vụ việc kết thúc xử lý sau nhiều năm và dư luận lên tiếng phản ánh, điều đó gây ảnh hưởng rất lớn đến niềm tin của nhân dân, chưa khuyến khích nhân dân tích cực, chủ động phát hiện, báo tin tham nhũng.

Thứ tư, về thẩm quyền khen thưởng và đề nghị khen thưởng

Tùy hình thức khen thưởng, thẩm quyền khen thưởng người tố cáo tham nhũng có sự khác nhau. Nếu như Huân chương Dũng cảm, Bằng khen của Chính phủ, Bằng khen của Bộ trưởng do Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng quyết định trên cơ sở đề nghị của cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý trực tiếp thì khen thưởng bằng Giấy khen thuộc thẩm quyền của nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị theo nguyên tắc “cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền giải quyết tố cáo tham nhũng thì sẽ có thẩm quyền khen thưởng”. Theo pháp luật tố cáo, thẩm quyền giải quyết tố cáo tham nhũng được xác định theo nguyên tắc, người đứng đầu cơ quan, tổ chức quản lý người có hành vi tham nhũng bị tố cáo là người giải quyết tố cáo; trường hợp người bị tố cáo là người đứng đầu cơ quan, tổ chức thì thủ trưởng cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp giải quyết, vì vậy, họ cũng đồng thời là người chỉ đạo xây dựng tờ trình đề nghị khen thưởng, chủ trì cuộc họp hội đồng thi đua, khen thưởng, ban hành quyết định khen thưởng và tổ chức việc trao thưởng. Ở Việt Nam, người tố cáo tham nhũng chưa thật sự được xem là “người tốt, việc tốt” mà thường bị cho là “gây rối nội bộ”, “gà tức nhau tiếng gáy”... nên người có thẩm quyền có tâm lý chưa tích cực, chủ động chỉ đạo thực hiện khen thưởng người tố cáo tham nhũng vì có thể gây xung đột nội bộ, làm mất uy tín của cơ quan, tổ chức, đơn vị.  Hơn nữa, pháp luật Việt Nam chưa quy định các biện pháp chế tài đối với người có thẩm quyền khen thưởng, đề nghị khen thưởng nhưng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, từ đó, chưa nâng cao tinh thần trách nhiệm của người đứng đầu trong cơ quan, tổ chức, đơn vị khi thực hiện pháp luật khen thưởng người tố cáo tham nhũng.

3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về khen thưởng người tố cáo tham nhũng ở Việt Nam nhằm bảo đảm quyền tham gia của công dân trong phòng, chống tham nhũng

Một số kết quả khảo sát xã hội học cho thấy, người dân ít có khả năng tố cáo tham nhũng mặc dù họ biết chắc chắn về một hành vi tham nhũng, “không được khen thưởng” là một trong những lý do cản trở người dân sẵn sàng tố cáo hành vi tham nhũng (Cao Vũ Minh, 2022). Vì vậy, để công tác khen thưởng người tố cáo tham nhũng góp phần quan trọng thúc đẩy người dân tham gia tích cực vào công cuộc phòng, chống tham nhũng, cùng với các giải pháp khác, Nhà nước cần tập trung hoàn thiện pháp luật về khen thưởng người tố cáo tham nhũng như sau:

Hiện nay, công tác khen thưởng người có thành tích trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc nói chung và tố cáo tham nhũng nói riêng được thực hiện theo quy định của Luật Thi đua, khen thưởng năm 2022. Tuy nhiên, theo ý kiến tác giả, tố cáo tham nhũng và giải quyết tố cáo tham nhũng có những đặc thù riêng, do đó, khen thưởng người tố cáo tham nhũng cũng cần có những quy định riêng, mang tính đặc thù. Vì vậy, pháp luật thi đua, khen thưởng cần có quy định dẫn chiếu việc khen thưởng trong các lĩnh vực đặc thù như đấu tranh chống tham nhũng thì thực hiện theo pháp luật phòng, chống tham nhũng.

Nếu khen thưởng tố cáo tham nhũng thực hiện theo pháp luật phòng, chống tham nhũng thì Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 phải được Quốc hội sửa đổi và giao Chính phủ ban hành nghị định hướng dẫn cụ thể việc khen thưởng người tố cáo tham nhũng. Pháp luật khen thưởng người tố cáo tham nhũng phải được xây dựng với các nội dung cơ bản như sau:

- Cần mở rộng phạm vi đối tượng được khen thưởng khi tố cáo tham nhũng

Xuất phát từ đặc điểm của mối quan hệ giữa người tố cáo tham nhũng, người bị tố cáo, người giải quyết tố cáo tham nhũng, trong đó, người tố cáo tham nhũng thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận thông tin để có cơ sở tố cáo và thường phải đối mặt với các nguy cơ bị xâm hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản, việc làm, danh dự… Chính vì vậy, pháp luật nên quy định theo hướng bất kỳ cá nhân nào tham gia tố cáo để giúp các cơ quan có  thẩm quyền phát  hiện  và xử  lý  hành vi  tham  nhũng cũng đều  được khen thưởng (Ngô Mạnh Hùng, 2022).

- Cần kế thừa thủ tục rút gọn trong Thông tư liên tịch số 01/2015/TTLT-TTCP-BNV về khen thưởng người tố cáo tham nhũng, đồng thời bổ sung quy định về trình tự, thủ tục khen thưởng bí mật theo yêu cầu của cơ quan nhà nước hoặc của cá nhân, thân nhân người được khen thưởng, bảo đảm nhanh chóng, kịp thời “nhằm tích cực động viên, khuyến khích cá nhân lập thành tích xuất sắc trong việc tố cáo tham nhũng, thu hồi tài sản tham nhũng cho nhà nước” (Thanh tra Chính phủ & Bộ Nội vụ, 2015, khoản 2, Điều 3).

- Điều kiện khen thưởng cần được sửa đổi theo nguyên tắc “Công dân có quyền được khen thưởng khi tố cáo đúng” và tùy vào mức độ nguy hiểm người tố cáo phải đối mặt, tính chất phức tạp của từng vụ việc, số tài sản thu hồi được... người tố cáo tham nhũng sẽ được khen thưởng theo chế độ đặc biệt với tiêu chuẩn, mức thưởng rõ ràng. Pháp luật quy định rõ hơn trách nhiệm, nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức trong thực hiện khen thưởng, đề nghị khen thưởng đồng thời phải chịu các biện pháp chế tài, trách nhiệm bồi thường trong trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ khen thưởng người tố cáo tham nhũng. Tiêu chuẩn áp dụng đối với từng hình thức khen thưởng phải được định lượng cụ thể, rõ ràng để việc áp dụng pháp luật được thuận lợi, người dân cũng có thể dễ dàng giám sát quá trình khen thưởng, thực hiện các quyền khiếu nại, kiến nghị, tố cáo liên quan đến khen thưởng.

- Cách thức tổ chức khen thưởng, thời điểm, phương thức nhận thưởng bằng tiền cần được quy định rõ ràng. Khi xác định việc khen thưởng là nghĩa vụ của nhà nước, các  quy định về cung cấp biên lai, thông tin thi hành tài sản tham nhũng phải là trách nhiệm của cơ quan thi hành án. Nhà nước chỉ có quyền yêu cầu người dân thực hiện việc phối hợp trong những trường hợp cần thiết. Vì vậy, phải khẩn trương xây dựng cơ chế liên thông về thông tin trong xử lý tham nhũng và thi hành án đối với tài sản tham nhũng. Quá trình xử lý tham nhũng và tài sản tham nhũng đối với một số vụ án là một quá trình dài, có thể mất nhiều thời gian, vì vậy, việc thưởng bằng tiền cần phải được xác định cụ thể trong từng thời điểm, tránh mỗi nơi thực hiện một kiểu. Việt Nam cần tham khảo kinh nghiệm của các nước về số tiền được khen thưởng và vận dụng phù hợp đặc điểm, tình hình của Việt Nam. Theo tác giả, nên quy định cố định tỷ lệ % số tiền được thưởng trên số tài sản sẽ thu hồi được với tỷ lệ khoảng từ 10 đến 30% và không vượt quá số tiền cụ thể trong từng giai đoạn. Các quy định về trách nhiệm thực hiện thủ tục chuyển tiền thưởng thuộc các cơ quan thi hành án dân sự với phương thức chuyển, thời điểm chuyển cụ thể, chi tiết. Trường hợp tài sản thi hành án là hiện vật, cơ quan nhà nước có trách nhiệm quy ra số tiền để thưởng cho người tố cáo tham nhũng.

Có thể thấy, các quy định về thẩm quyền khen thưởng và đề nghị khen thưởng, thủ tục khen thưởng... là nguyên nhân chính dẫn đến các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền chưa tích cực đề xuất, lập thủ tục để xét khen thưởng, vì vậy, số người được khen thưởng khi tố cáo tham nhũng còn ít. Vì vậy, trong giai đoạn thực hiện cuộc cách mạng về sắp xếp, tinh giản bộ máy hiện nay, Nhà nước nghiên cứu xây dựng cơ quan chuyên trách về phòng, chống tham nhũng. Cơ quan này sẽ có thẩm quyền tiếp nhận tất cả tin báo về tham nhũng, thụ lý vụ việc, giải quyết các vụ việc, đề nghị xử lý người tham nhũng và tài sản tham nhũng. Trường hợp vụ việc có dấu hiệu tội phạm thì chuyển vụ việc đến cơ quan điều tra có thẩm quyền để xử lý vụ việc. Cơ quan chuyên trách được giao quản lý quỹ khen thưởng có trách nhiệm khen thưởng theo thẩm quyền và đề nghị khen thưởng cũng như thực hiện giám sát quá trình thực hiện việc khen thưởng người tố cáo tham nhũng.

Cùng với nhiều giải pháp nhằm thúc đẩy quyền tham gia của công dân vào công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về khen thưởng người tố cáo tham nhũng là vấn đề cần quan tâm thực hiện. Pháp luật về khen thưởng người tố cáo tham nhũng hoàn thiện, đồng bộ sẽ là căn cứ để các cơ quan nhà nước triển khai đồng bộ, hiệu quả và chắc chắn sẽ là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự tham gia của người dân tích cực tìm tòi, phát hiện, cung cấp thông tin tham nhũng cho cơ quan có thẩm quyền, đồng thời củng cố niềm tin của nhân dân vào sự quyết tâm phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước, góp phần quan trọng vào thành công của cuộc đấu tranh chống “giặc nội xâm” ở Việt Nam./.

ThS. Nguyễn Thị Lan Đan

Học viện Cán bộ thành phố Hồ Chí Minh

Bài viết được đăng trên Tạp chí Pháp luật về quyền con người số 52 (02/2026)

---

Tài liệu tham khảo

Chính phủ. (2023). Nghị định số 98/2023/NĐ-CP ngày 31/02/2023 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng.

Vũ Công Giao & Trần Thùy Dương. (2024). Tiếp tục hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo vệ người tố cáo tham nhũng ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Khoa học Kiểm sát, tháng 7, 2024.

Ngô Mạnh Hùng. (2022). Khen thưởng người tố cáo hành vi tham nhũng - Thực trạng và giải pháp. Truy cập ngày 29/4/2025, từ https://tcnn.vn/news/detail/5930/Khen_thuong_nguoi_to_cao_hanh_vi_tham_nhung_Thuc_trang_va_giai_phapall.html.

Cao Vũ Minh. (2022). Khen thưởng đối với người tố cáo hành vi tham nhũng theo pháp luật Việt Nam, Tạp chí Mặt trận, số 2/2022.

Quốc hội. (2022). Luật Thi đua, khen thưởng.

Thanh tra Chính phủ & Bộ Nội vụ (2015). Thông tư liên tịch số 01/2015/TTLT-TTCP-BNV ngày 16/3/2015 của Thanh tra Chính phủ, Bộ Nội vụ: Quy định khen thưởng cá nhân có thành tích xuất sắc trong việc tố cáo hành vi tham nhũng.