Tóm tắt: Bài viết phân tích khái niệm và nội hàm của trao quyền cho nhóm dân tộc thiểu số trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nhấn mạnh giá trị của tri thức dân gian trong ứng phó với biến đổi khí hậu, thực trạng và những rào cản đối với việc trao quyền cho nhóm dân tộc thiểu số trong sử dụng tri thức dân gian ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam. Từ đó bài viết chỉ ra yêu cầu phát huy giá trị nguồn lực tri thức dân gian trong ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam gắn kết với giới thiệu mô hình được triển khai tại tỉnh Lâm Đồng.

Từ khoá: dân tộc thiểu số, trao quyền, biến đổi khí hậu

Abstract: This article analyzes the concept and content of  “empowering ethnic minority groups” in the context of climate change, highlighting the value of folk knowledge in climate change adaptation. It examines the current situation and the barriers to empowering ethnic minority communities in utilizing folk knowledge to respond to climate change in Vietnam. Based on this analysis, the article identifies the need to promote the value of indigenous knowledge resources for climate change adaptation in Vietnam and introduces a practical model implemented in Lam Dong Province.

Keywords: ethnic minorities, empowerment, climate change.

Ảnh minh họa. Nguồn: mae.gov.vn.

1. Khái niệm và nội hàm của trao quyền cho nhóm dân tộc thiểu số gắn với bối cảnh biến đổi khí hậu

Theo cách tiếp cận dựa trên năng lực (capability approach), trao quyền là quá trình mở rộng các cơ hội và năng lực thực chất của con người nhằm giúp họ có khả năng đưa ra lựa chọn, kiểm soát các quyết định liên quan đến cuộc sống của mình và tham gia bình đẳng vào các quá trình phát triển ( Sen, A, 1999)). Development as Freedom. Mặc dù chưa tồn tại một định nghĩa pháp lý thống nhất về trao quyền đối với nhóm dân tộc thiểu số trong các điều ước quốc tế về quyền con người, nội hàm của khái niệm này có thể được nhận diện thông qua các chuẩn mực quốc tế liên quan đến quyền tham gia, quyền bình đẳng và quyền bảo tồn bản sắc văn hóa. Tuyên bố của Liên hợp quốc năm 1992 về quyền của những người thuộc các nhóm dân tộc, tôn giáo và ngôn ngữ thiểu số khẳng định quyền tham gia hiệu quả của các nhóm thiểu số vào đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa và các quyết định có liên quan đến cộng đồng của họ (UN, 1992). Bên cạnh đó, Điều 27 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 ghi nhận quyền của các nhóm thiểu số được duy trì đời sống văn hóa, thực hành tôn giáo và sử dụng ngôn ngữ riêng của mình. Các quy định này phản ánh yêu cầu bảo đảm để cộng đồng dân tộc thiểu số được tham gia với tư cách chủ thể, thay vì chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách.

Từ góc độ quyền con người, có thể hiểu trao quyền cho nhóm dân tộc thiểu số là quá trình tạo lập các điều kiện pháp lý, kinh tế, xã hội và văn hóa nhằm tăng cường khả năng tham gia của cộng đồng dân tộc thiểu số vào các quyết định ảnh hưởng đến cuộc sống của họ; bảo đảm khả năng tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực phát triển; đồng thời, duy trì, bảo vệ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng. Đây cũng là cơ sở để các nhóm dân tộc thiểu số nâng cao năng lực tự chủ và khả năng thích ứng trước những thách thức của quá trình phát triển bền vững. Việt Nam hiện nay, với 53 dân tộc thiểu số chiếm 14% dân số, có sự đa dạng sâu sắc về văn hóa, ngôn ngữ và sinh kế. Tuy nhiên, người dân tộc thiểu số lại chiếm tới 70% số người Việt Nam được xếp vào nhóm nghèo. Thu nhập trung bình của một hộ gia đình người dân tộc thiểu số chỉ bằng 1/6 mức trung bình chung của cả nước và trẻ em, phụ nữ và nam giới người dân tộc thiểu số thường khó tiếp cận các dịch vụ y tế và giáo dục cơ bản (Oxfarm, n.d).

Người dân tộc thiểu số tại phương là những người gìn giữ kiến ​​thức và thực tiễn độc đáo nhấn mạnh sự cân bằng giữa con người và thế giới tự nhiên. Trong đó có những tập quán truyền thống có thể giải quyết hiệu quả các giải pháp khí hậu hiệu quả, chẳng hạn như hệ thống nông nghiệp bền vững và quản lý nước thích ứng với khí hậu. Tuy nhiên, người dân tộc thiểu số có nguy cơ bị loại khỏi quá trình ra quyết định và quyền của họ đối với đất đai và tài nguyên không phải lúc nào cũng được tôn trọng. Không thể đạt được các mục tiêu của Thỏa thuận Paris nếu không có sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của người dân bản địa và sự đồng ý tự nguyện, trước và được cung cấp đầy đủ thông tin của họ (UNDP, 2024). Do đó, trao quyền cho nhóm dân tộc thiểu số là một nguyên tắc quan trọng nâng cao năng lực để bản thân nhóm dân tộc thiểu số được sống trong để tạo ra một môi trường xã hội trong đó quyền về văn hóa và bản sắc của họ được tôn trọng mà không có khuôn mẫu và sự phân biệt đối xử. Điều này đòi hỏi sự tham gia của họ trong quá trình hoạch định chính sách, thực thi chính sách phải được tôn trọng, có nghĩa là khi thực hiện một chương trình chính sách cần tham khảo ý kiến ​​của người dân tộc thiểu số về mối quan tâm và nguyện vọng của họ để đáp ứng nhu cầu thực tế và giải quyết các vấn đề cụ thể.

Trong bối cảnh quyền của các nhóm dân tộc thiểu số, trao quyền được hiểu là quá trình bảo đảm để cộng đồng dân tộc thiểu số có khả năng tham gia một cách thực chất vào các quyết định ảnh hưởng đến cuộc sống của họ; được tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực phát triển; được duy trì và phát huy bản sắc văn hóa, ngôn ngữ, tri thức truyền thống; đồng thời có điều kiện thực hiện đầy đủ các quyền con người đã được pháp luật quốc tế ghi nhận. Theo nghĩa này, trao quyền không đơn thuần là hỗ trợ hay bảo trợ từ phía Nhà nước mà là việc tạo lập các điều kiện để cộng đồng dân tộc thiểu số trở thành chủ thể của quá trình phát triển và thích ứng với các thách thức kinh tế, xã hội và môi trường.

2. Giá trị của tri thức dân gian trong ứng phó với biến đổi khí hậu

Hiện nay người ta sử dụng khá nhiều thuật ngữ để đề cập đến vấn đề này: “tri thức bản địa” (Indigenous Knowledge), “tri thức địa phương” (Local Knowledge) được sử dụng trong một số công trình nghiên cứu với nhiều tên gọi khác nhau: “tri thức địa phương”, “kiến thức bản địa”, “kiến thức địa phương”, “văn hóa truyền thống”, “tri thức dân gian”, “bản sắc văn hóa tộc người”, “tri thức tộc người”, “phong tục tập quán(Nguyễn Danh Tiên, 2014).

Thực chất là cần quan tâm tới nội hàm của tri thức đó, bao gồm các loại trí khôn, kinh nghiệm, phong tục, lề thói ứng xử, các bài học của một cộng đồng. Gắn với biến đổi khí hậu, tri thức dân gian gồm những hiểu biết, kiến thức và theo nghĩa này là một phần của tổng hòa văn hoá bao gồm cả hệ thống ngôn ngữ, cách định danh và phân loại, phương thức sử dụng tài nguyên, các lễ nghi, giá trị tinh thần và thế giới quan. Những tri thức này là nền tảng cơ sở để đưa ra những quyết định về nhiều phương diện cơ bản của cuộc sống hàng ngày tại địa phương như khai thác tự nhiên, các hệ thống canh tác và chăn nuôi, tìm kiếm nguồn nước, tự bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ bản thân; và sự thích nghi với những thay đổi của môi trường.

Biến đổi khí hậu gây nên nhiều tác động tiêu cực về kinh tế và sinh kế như gây nên tình trạng mất mùa, giảm năng suất và sản lượng đáng kể, gián đoạn các hoạt động giao thương, hư hại nhiều cơ sở hạ tầng,...; làm suy giảm mật độ loài, tác động dây chuyền lên chuỗi thực phẩm, giảm diện tích rừng, tăng ô nhiễm nguồn nước, gây sạt lở đất, tạo ra những loại bệnh tật, tình trạng di dân, thất nghiệp, ... ảnh hưởng tới các quyền con người trên tất cả các lĩnh vực của dân sự, chính trị cũng như quyền kinh tế, xã hội và văn hoá. Vấn đề này càng trở nên nghiêm trọng hơn đối với nhóm dân tộc thiểu số ở Việt Nam do vị trí cư trú của họ thường ở những nới chịu tác động lớn của tình trạng biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường.

Việc vận dụng các tri thức dân gian, tri thức địa phương có giá trị quan trọng trong ứng phó đối với biến đổi khí hậu tại các vùng dân tộc thiểu số. Cụ thể:

Một là, người dân bản địa là những người gìn giữ các hệ thống kiến ​​thức, đổi mới và thực tiễn độc đáo đã được truyền qua nhiều thế hệ và đã cho phép các nền văn hóa và cộng đồng khác nhau ở nhiều nơi trên thế giới sống bền vững, nhấn mạnh sự cân bằng giữa con người và thế giới tự nhiên.

Hai là, nhiều truyền thống bản địa bắt nguồn từ sự hiểu biết sâu sắc và tôn trọng các hệ sinh thái cũng như thúc đẩy việc sử dụng tài nguyên bền vững. Những hoạt động này có tác động tối thiểu đến môi trường và có khả năng thích ứng cao với những thay đổi sinh thái, thúc đẩy hệ sinh thái khỏe mạnh và kiên cường.

Ba là, nhờ kiến ​​thức sinh thái mang tính liên thế hệ và dựa vào cộng đồng, Người dân bản địa nằm trong số những người đầu tiên nhận thấy những dấu hiệu sớm của biến đổi khí hậu. Hơn bao giờ hết, khi cuộc khủng hoảng khí hậu ngày càng gia tăng, kiến ​​thức và thực tiễn của họ đưa ra các giải pháp khí hậu có giá trị, có thể thúc đẩy các nỗ lực giảm thiểu, tăng cường các chiến lược thích ứng và xây dựng khả năng phục hồi. Kiến thức này cũng có thể bổ sung cho dữ liệu khoa học với thông tin cảnh quan chính xác rất quan trọng để đánh giá các kịch bản biến đổi khí hậu. (UNDP, 2024).

Ở Việt Nam, khái niệm dân tộc bản địa không được xác định cụ thể nhưng có 54 dân tộc anh em cùng chung sống trên dải đất Việt Nam. Sự đa dạng về bản sắc văn hoá, truyền thống, tri thức bản địa của nhóm dân tộc thiểu số chính là nguồn lực to lớn cho quá trình phát triển bền vững ở Việt Nam, trong đó có vấn đề ứng phó với bối cảnh biến đổi khí hậu.

3. Thực trạng và những rào cản đối với việc trao quyền cho nhóm dân tộc thiểu số trong sử dụng tri thức dân gian ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam

Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định, công tác dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài và cấp bách, có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định yêu cầu phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây là cơ sở chính trị quan trọng để triển khai các chính sách bảo đảm quyền và thúc đẩy sự phát triển bền vững của đồng bào dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay. Trong những năm gần đây, Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, đồng thời thúc đẩy các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu. Nhiều mô hình sinh kế thích ứng dựa trên tri thức địa phương đã được triển khai tại các tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nguyên và khu vực duyên hải miền Trung. Một số kinh nghiệm truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số trong dự báo thời tiết, quản lý nguồn nước, bảo vệ rừng đầu nguồn, lựa chọn giống cây trồng bản địa chịu hạn, chống rét đã được ghi nhận là có giá trị thực tiễn trong việc giảm nhẹ rủi ro thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Tuy nhiên, việc trao quyền cho cộng đồng dân tộc thiểu số trong sử dụng và phát huy tri thức dân gian vẫn còn nhiều hạn chế.

Thứ nhất, tiếng nói của cộng đồng dân tộc thiểu số trong quá trình xây dựng và thực hiện các chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu còn chưa thực sự đầy đủ. Nhiều chương trình phát triển được thiết kế theo hướng từ trên xuống, trong khi cơ chế tham vấn cộng đồng chưa được thực hiện thường xuyên và thực chất. Điều này làm giảm khả năng phản ánh nhu cầu, nguyện vọng cũng như kinh nghiệm thực tiễn của người dân địa phương.

Thứ hai, tri thức dân gian chưa được nhận diện và ghi nhận đầy đủ như một nguồn lực quan trọng trong hoạch định chính sách. Trong nhiều trường hợp, các giải pháp khoa học - kỹ thuật hiện đại được ưu tiên áp dụng mà chưa có sự kết hợp phù hợp với kinh nghiệm truyền thống của cộng đồng. Kết quả là một số tri thức có giá trị đang đứng trước nguy cơ mai một hoặc không được truyền lại cho thế hệ trẻ.

Thứ ba, tác động của biến đổi khí hậu, quá trình đô thị hóa và sự chuyển dịch sinh kế đang làm suy giảm môi trường tồn tại của nhiều loại hình tri thức dân gian. Sự thay đổi phương thức sản xuất, di cư lao động và những biến đổi trong cấu trúc cộng đồng khiến việc lưu giữ và truyền thụ tri thức truyền thống gặp nhiều khó khăn.

Thứ tư, khả năng tiếp cận nguồn lực của đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế. Điều kiện kinh tế, trình độ học vấn, khả năng tiếp cận thông tin, khoa học – công nghệ và các nguồn tài chính phục vụ thích ứng với biến đổi khí hậu còn thấp hơn so với mặt bằng chung của cả nước. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực tự chủ và khả năng phát huy hiệu quả các tri thức sẵn có của cộng đồng.

Những hạn chế nêu trên cho thấy việc bảo tồn và phát huy tri thức dân gian không chỉ là vấn đề văn hóa mà còn là vấn đề quyền con người và phát triển bền vững. Vì vậy, cần chuyển từ cách tiếp cận coi đồng bào dân tộc thiểu số là đối tượng thụ hưởng sang cách tiếp cận trao quyền, bảo đảm để họ trở thành chủ thể tham gia, quyết định và hưởng lợi trong các chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu.

4. Phát huy giá trị nguồn lực tri thức dân gian trong ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam hiện nay từ mô hình tỉnh Lâm Đồng

Việc ứng dụng tri thức địa phương trong ứng phó biến đổi khí hậu là một phương thức quan trọng cùng với nhiều phương thức hiên nay nhằm tạo ra: sự chủ động của người dân tộc thiểu số trong việc tạo sinh kế có ứng phó với biến đổi khí hậu; đưa ra những cảnh báo sớm để giảm nhẹ rủi ro do thiên tai để giảm tác động của hiểm họa, đặc biệt là lên những hộ gia đình và cá nhân dễ bị tổn thương; có thể giải quyết những nguyên nhân gốc rễ của tình trạng dễ bị tổn thương trong bối cảnh biến đổi khí hậu của nhóm dân tộc thiểu số, chẳng hạn như quản trị kém, thiếu sự kiểm soát đối với các nguồn lực, hoặc tiếp cận hạn chế tới các dịch vụ cơ bản.

Trước hết, cần trao quyền, hay nói cách khác là cần nâng cao năng lực cho cộng đồng các dân tộc thiểu số để có khả năng tự ứng phó với thiên tai, nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu để sống và sản xuất bền vững. Xây dựng thêm các mô hình có sử dụng tri thức bản địa, nhân rộng các mô hình có hiệu quả để làm bằng chứng khẳng định vai trò và tầm quan trọng của tri thức bản địa ở các địa phương có người dân tộc thiểu số sinh số. Khuyến khích việc sử dụng các giống, kỹ thuật bản địa song song với việc áp dụng khoa học - kỹ thuật hiện đại nhằm tạo sự phát triển bền vững của cộng đồng và bảo tồn các nguồn gen, kỹ thuật phục vụ cho nghiên cứu khoa học hiện đại. Cần hỗ trợ nhóm dân tộc thiểu số để có khả năng sử dụng các kỹ thuật và công nghệ bản địa truyền thống, đồng thời cần được tiếp cận các công nghệ và kỹ thuật mới từ cộng đồng quốc tế để phát triển sinh kế bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu.

Thứ hai, cần nâng cao nhận thức các cấp về vai trò của tri thức địa phương trong ứng phó biến đổi khí hậu và có chính sách để duy trì và phát huy tri thức địa phương, nhất là các tri thức có giá trị trong phát triển bền vững của cộng đồng, như các kinh nghiệm sản xuất, dự báo thời tiết, thiên tai, các giống cây con bản địa hay các giá trị mang tính khoa học, bảo tồn nguồn gen của các giống cây trồng vật nuôi bản địa,... Bên cạnh đó, cần các chính sách khuyến khích việc sử dụng các giống, kỹ thuật bản địa song song với việc áp dụng khoa học - kỹ thuật hiện đại nhằm tạo sự phát triển bền vững và bảo tồn các nguồn gen, tri thức phục vụ cho nghiên cứu khoa học hiện đại.

Thứ ba, cần đầu tư nguồn lực tài chính hợp lý hỗ trợ duy trì, phát triển và ứng dụng tri thức địa phương trong cộng đồng dân tộc thiểu số và lồng ghép các ý tưởng, sáng kiến sử dụng tri thức địa phương trong các chương trình phát triển kinh tế - xã hội.

Một mô hình tiêu biểu trong phát huy giá trị tri thức dân gian gắn với ứng phó biến đổi khí hậu ở Việt Nam hiện nay là Khu dự trữ sinh quyển thế giới Lang Biang, tỉnh Lâm Đồng. Đây là khu dự trữ sinh quyển đầu tiên của khu vực Tây Nguyên được UNESCO công nhận vào năm 2015, với mục tiêu hài hòa giữa bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển sinh kế và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng địa phương. Trong khu vực Lang Biang, cộng đồng người K’Ho đã tích lũy nhiều tri thức dân gian liên quan đến quản lý rừng, bảo vệ nguồn nước, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và thích ứng với những biến đổi của môi trường tự nhiên. Nhiều kinh nghiệm truyền thống về lựa chọn giống cây trồng phù hợp với điều kiện khí hậu, nhận biết các dấu hiệu thay đổi của thời tiết hay các quy ước cộng đồng trong bảo vệ rừng đầu nguồn vẫn tiếp tục được duy trì và phát huy trong đời sống của cộng đồng địa phương.

Điểm đáng chú ý của mô hình Lang Biang là việc gắn kết giữa bảo tồn thiên nhiên với sự tham gia của cộng đồng dân tộc thiểu số (Tuấn Hương, 2025). Thông qua các hoạt động quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng, phát triển du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng, người dân địa phương không chỉ góp phần bảo vệ hệ sinh thái mà còn được tạo điều kiện nâng cao thu nhập, bảo tồn văn hóa truyền thống và phát huy tri thức bản địa trong phát triển sinh kế bền vững. Đây là biểu hiện cụ thể của cách tiếp cận trao quyền, trong đó cộng đồng dân tộc thiểu số được nhìn nhận như chủ thể tham gia vào quá trình quản lý tài nguyên và ứng phó với biến đổi khí hậu thay vì chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách.

Từ thực tiễn tỉnh Lâm Đồng cho thấy việc kết hợp tri thức dân gian với khoa học hiện đại, đồng thời bảo đảm sự tham gia thực chất của cộng đồng dân tộc thiểu số trong quản lý tài nguyên thiên nhiên là một hướng đi phù hợp nhằm nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường và thúc đẩy phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay.

TS. Trần Thị Hồng Hạnh

Viện Quyền con người, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Đinh Quang Vinh

Công ty TNHH Quốc tế Luật Đông Phương

---

Tài liệu tham khảo:

Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP). (2024). Tri thức bản địa đóng vai trò then chốt trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu – đây là lý do tại sao, truy cập ngày 20/9/2024 tại https://climatepromise.undp.org/news-and-stories/indigenous-knowledge-crucial-fight-against-climate-change-heres-why.

Liên hợp quốc (UN). (1992). Tuyên ngôn về quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số quốc gia, dân tộc, tôn giáo và ngôn ngữ. (A/RES/47/135).

Nguyễn Danh Tiên. (2014). Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Tri thức bản địa là gì, có tầm quan trọng như thế nào?, Tạp chí Lý luận chính trị số 6-2014.

Oxfarm. (n.d). Tăng cường quyền lực cho các dân tộc thiểu số, truy cập tại: https://vietnam.oxfam.org/ethnic-minority-empowerment.

Sen, A. (1999). Development as Freedom.

Tuấn Hương. (2025). Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống gắn với phát triển du lịch bền vững, truy cập tại: https://vietnamtourism.gov.vn/post/64127