Tóm tắt: Quyền im lặng của người bị bắt, người bị giữ trong tố tụng hình sự Việt Nam là một quyền quan trọng mà các chủ thể này cần được bảo đảm trong quá trình tham gia tố tụng. Tuy nhiên quyền im lặng không được quy định một cách chính thức mà nội dung của nó được thể hiện thông qua các nguyên tắc của tố tụng hình sự và một số quy định về quyền của người bị bắt, người bị giữ. Bài viết đi sâu phân tích mối quan hệ giữa một số nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự và quyền im lặng của người bị bắt, bị giữ để cho thấy được mối quan hệ mật thiết giữa hai vấn đề trên, từ đó đưa ra một số đề xuất để quyền im lặng của người bị bắt, bị giữ được thực thi tốt hơn trong quá trình tố tụng.
Từ khóa: Quyền im lặng; người bị bắt; người bị giữ; nguyên tắc trong tố tụng hình sự.
Abstract: The right to remain silent of arrested and detained persons in Vietnamese criminal proceedings is an important right for the rights-holders that needs to be guaranteed during the litigation process. However, the right to remain silent is not formally codified; its content is reflected in the principles of criminal procedure and some regulations concerning the rights of arrested and detained persons. This article examines the relationship between some basic principles of criminal procedure and the right to remain silent of arrested and detained persons, with a view to demonstrating the close connection between these two issues, and offering some suggestions for improving the implementation of the right to remain silent of arrested and detained persons in the litigation process.
Keywords: Right to remain silent; arrested persons; detained persons; principles in criminal procedure.

 

Phiên tòa xét xử sơ thẩm đối với 3 bị cáo trong vụ án chạy thận khiến 9 người tử vong 
tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Hòa Bình. Nguồn: cand.com.vn.

Đặt vấn đề

Quyền im lặng (the right to silence) là một quyền có nguồn gốc từ hệ thống pháp luật Anh - Mỹ. Quyền im lặng đã được đề cập tại một số văn bản pháp luật quốc tế như Kết luận khuyến nghị đối với báo cáo thực thi ICCPR của một số quốc gia: “bất kỳ ai bị bắt giữ về một cáo buộc hình sự cần phải được thông báo về quyền giữ im lặng trong quá trình thẩm vấn của cảnh sát, phù hợp với Điều 14, đoạn 3(g) của Công ước” (UN Human Rights Committee, 2008); “quyền giữ im lặng... nên được giải thích rõ ràng trong Bộ luật Tố tụng hình sự và được áp dụng trong thực tế”; hay tại Công ước châu Âu về Quyền con người (ECHR) cũng đưa ra khẳng định về quyền im lặng là một quyền nhằm bảo đảm một phiên tòa công bằng.

Ở một số quy định của luật hình sự quốc tế, quyền im lặng cũng được nhắc đến cụ thể: Điều 55, Điều 67 thuộc Quy chế Rome về Tòa án hình sự quốc tế. Ngoài ra, trong hướng dẫn hoặc quy tắc tố tụng của một số Tòa án hình sự quốc tế lâm thời khác, quyền im lặng cũng được quy định, cụ thể như: Các nguyên tắc và hướng dẫn về quyền xét xử công bằng và trợ giúp pháp lý ở châu Phi (Mục N(6)(d)(ii)) (ACHPR, 2003); Các quy tắc về thủ tục và chứng cứ của Tòa án hình sự quốc tế về Rwanda (Quy tắc số 42(A)(iii)) (International Criminal Tribunal for Rwanda, 1995); Các quy tắc về thủ tục và chứng cứ của Tòa án hình sự quốc về Nam Tư cũ (Quy tắc số 42(A)(iii)) (International Criminal Tribunal for the former Yugoslavia, 1996);...

Từ các văn bản pháp luật quốc tế cho thấy quyền im lặng là một một quyền hàm chứa (hàm chứa giữa hai quyền: quyền được giả định vô tội và quyền không buộc đưa ra lời khai chống lại chính mình). Nhưng dù đó là một quyền hàm chứa hay một quyền cụ thể thì quyền im lặng cũng được coi là một quyền quan trọng của người bị buộc tội nói chung và người bị bắt, người bị giữ nói riêng.

Ở Việt Nam, khi Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS) ra đời và có hiệu lực vào ngày 01/01/2018 cho đến nay đã trải qua hai lần sửa đổi năm 2021 và năm 2025 đều không trực tiếp đề cập đến quyền im lặng trong bất kỳ điều luật nào. Tuy nhiên, trên thực tế một số vụ án người bị bắt, người bị giữ vẫn sử dụng quyền này trong quá trình tham gia tố tụng đặc biệt là thời điểm ban đầu khi tham gia vụ án, điển hình như vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Trương Hồ Phương Nga sinh năm 1987 bị cáo buộc lừa đảo và chiếm đoạt 16,5 tỷ đồng bị cáo, Nga đã sử dụng quyền im lặng khi bị bắt khẩn cấp vào 2015 tuy nhiên sau đó Phương Nga được tại ngoại và vụ án bị đình chỉ điều tra vào tháng 01/2019 vì không chứng minh được tội phạm. Vậy người bị bắt, bị giữ ở các vụ án căn cứ vào quy định nào của BLTTHS để thực hiện quyền im lặng và bản chất của quyền im lặng được thể hiện qua khía cạnh nào trong BLTTHS Việt Nam năm 2015. Nghiên cứu mối liên hệ giữa một số nguyên tắc BLTTHS và quyền im lặng của người bị bắt, bị giữ sẽ giúp giải quyết được vấn đề trên.

1. Nội dung mối quan hệ giữa quyền im lặng của người bị bắt, bị giữ và một số nguyên tắc trong Bộ luật Tố tụng hình sự

a) Quan niệm về quyền im lặng của người bị bắt, bị giữ trong tố tụng hình sự

Trước hết quyền im lặng ở đây được hiểu là quyền im lặng của người bị buộc tội, họ có thể giữ im lặng và không buộc phải làm nhân chứng chống lại chính mình (có những lời khai chống lại chính mình). Như vậy, quyền im lặng không chỉ dành riêng cho bị can, bị cáo mà là của người bị buộc tội nói chung. Theo Điều 4 BLTTHS năm 2015 thì người bị buộc tội là bị can, bị cáo, người bị bắt, người bị tạm giữ. Và quyền im lặng được sử dụng bất cứ thời điểm nào trong suốt quá trình tố tụng hình sự, kể từ khi bị bắt cho đến khi bị cáo đứng trước tòa.

Theo pháp luật TTHS, người bị bắt là chủ thể bị áp dụng biện pháp bắt người (một trong 8 biện pháp ngăn chặn trong TTHS), bao gồm 5 trường hợp bắt (bắt quả tang; bắt bị can, bị cáo để tạm giam, bắt nguời bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; bắt truy nã; bắt người bị yêu cầu dẫn độ theo các quy định tại điều 109, 111, 113 BLTTHS năm 2015). Còn người bị giữ được hiểu là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp được quy định tại Điều 110, BLTTHS năm 2015. Như vậy cả hai chủ thể trên đều được coi là người bị buộc tội và đều có quyền im lặng.

Nghiên cứu Điều 58 BLTTHS năm 2015 cho thấy người bị bắt, và người bị giữ có các quyền cụ thể như: quyền được biết lý do mình bị bắt; quyền được bảo vệ về tính mạng, sức khỏe, danh dự; quyền được gặp và nhờ luật sư; cũng như các quyền khiếu nại, tố cáo..., trong đó, tại điểm d, khoản 1 có ghi nhận “d) Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội”. Như vậy, căn cứ vào quy định về quyền của người bị bắt, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp được quy định như trên có thể hiểu “không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội” chính là quyền im lặng của người bị bắt, người bị giữ. Người bị bắt, người bị giữ có quyền không đưa ra lời khai khi được hỏi hoặc khi mà lời khai của họ có thể chống lại chính họ thì họ có quyền không đưa ra lời khai, có thể im lặng. Vậy không đưa ra lời khai khi được hỏi có nghĩa là người bị bắt, người bị giữ có quyền giữ im lặng trong hoạt động tiến hành bắt, giữ hoặc các hoạt động lấy lời khai ngay sau đó. 

b) Mối quan hệ giữa các nguyên tắc cơ bản với quyền im lặng của người bị bắt, người bị giữ trong tố tụng hình sự

Trong vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản của hoa hậu Trương Hồ Phương Nga bị cáo buộc lừa đảo Cao Toàn Mỹ để chiếm đoạt số tiền 16,5 tỷ đồng thì Trương Hồ Phương Nga đã giữ im lặng trong suốt quá trình bị bắt giữ kéo dài cho đến khi hỏi cung và thẩm vấn tại phiên tòa xét xử sơ thẩm ngày 22/6/2017. Tương tự, tại vụ án sự cố chạy thận làm 9 người tử vong tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hòa Bình (năm 2018) thì bị can của vụ án này cũng đã giữ im lặng, không đưa ra bất cứ lời khai nào khi được hỏi.

Từ những vụ án trên cho thấy thực tế người bị buộc tội, bao gồm cả người bị bắt, người bị giữ đều có thể sử dụng quyền này với căn cứ pháp luật tố tụng hiện hành tại Việt Nam, cụ thể là Điều 58, BLTTHS năm 2015 quy định về quyền và nghĩa vụ của người bị bắt, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. Ngoài những quy định về quyền và nghĩa vụ của người bị bắt thì những nguyên tắc trong Bộ luật TTHS Việt Nam cũng chứa đựng nội hàm của quyền im lặng. BLTTHS năm 2015 có 27 nguyên tắc (từ Điều 7 đến Điều 33), trong đó có 3 nguyên tắc có thể hiểu nội dung của nó ngầm thừa nhận một cách gián tiếp quyền im lặng của người bị buộc tội, đó là nguyên tắc suy đoán vô tội (Điều 13), nguyên tắc xác định sự thật của vụ án (Điều 15), và nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự (Điều 16).

Phân tích nội dung của 3 nguyên tắc này có thể thấy được mối quan hệ giữa quyền im lặng của người bị bắt, người bị giữ và các tư tưởng pháp lý chủ đạo được thể hiện thông qua các nguyên tắc của BLTTHS như sau:

Thứ nhất, nguyên tắc suy đoán vô tội. Nội dung của nguyên tắc này được quy định tại Điều 13 BLTTHS năm 2015 như sau: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, và có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội”. Là một nguyên tắc đặc biệt quan trọng và là tiêu chí đánh giá nền pháp luật dân chủ, văn minh thì nguyên tắc này cũng có mối quan hệ nhất định với quyền im lặng của người bị bắt, người bị giữ. Theo đó, nguyên tắc suy đoán vô tội đòi hỏi bất cứ tội phạm nào cũng phải được chứng minh theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định, quyền suy đoán vô tội được áp dụng trong toàn bộ quá trình tố tụng, ngay cả trước khi khởi tố vụ án cho đến khi có bản án kết tội. Nguyên tắc suy đoán vô tội đòi hỏi sự buộc tội phải dựa trên những chứng cứ xác thực, không còn nghi ngờ. Mọi nghi ngờ phải được kiểm tra, làm rõ, nếu không thì phải giải thích theo hướng có lợi cho họ.

Từ nội dung của nguyên tắc này có thể thấy, thực hiện quyền im lặng trong thực tiễn chính là tiền đề để hiện thực hóa nguyên tắc suy đoán vô tội. Mối quan hệ này được thể hiện ở chỗ đề cao tính chứng minh, nghiêm khắc, chặt chẽ của quá trình tố tụng từ khi khởi tố đến khi buộc tội trước tòa. Khi xuất hiện một sự nghi ngờ, và sự nghi ngờ đó không đủ chứng cứ, “không thể làm sáng tỏ” thì buộc kết luận họ không có tội. Vậy trong trường hợp nghi ngờ này, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không thể chờ đợi duy nhất vào lời khai của người bị bắt, bị giữ. Nếu cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không tìm đủ chứng cứ chứng minh người bị bắt có tội thì họ có quyền im lặng, nếu họ không im lặng mà nhận tội thì cũng không được “dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để buộc tội, kết tội”.

Thứ hai, nguyên tắc xác định sự thật của vụ án (Điều 15, BLTTHS năm 2015) có nội dung: “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội’’.

Nội dung nguyên tắc xác định sự thật vụ án muốn đề cập đến là những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự (được quy định trong Điều 85 BLTTHS năm 2015). Như vậy, khi một vụ án xảy ra, nội dung của việc xác định sự thật chính là việc trả lời các câu hỏi: có hành vi phạm tội xảy ra hay không; thời gian, địa điểm và các tình tiết khác của hành vi phạm tội; ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay do vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích hoặc động cơ phạm tội; những tình tiết tăng nặng, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và những đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo; tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra... Ngoài ra, nguyên tắc này còn đề cấp đến ai là người có trách nhiệm phải đi tìm các câu trả lời cho các câu hỏi trên, đó chính là các cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm chứng minh tội phạm, xác định sự thật vụ án. Bởi vì các cơ quan tiến hành tố tụng được Nhà nước thành lập và giao quyền áp dụng các biện pháp do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định mới có điều kiện để xác định sự thật khách quan của vụ án. Mặt khác, để buộc một người phải chịu trách nhiệm hình sự, Nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền của mình phải có trách nhiệm đưa ra chứng cứ chứng minh họ đã thực hiện hành vi phạm tội xâm hại đến lợi ích chung. Do vậy, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng.

Khi xác định là trách nhiệm chứng minh thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thì “ ... Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội”, đây chính là một phần nội hàm của nguyên tắc suy đoán vô tội theo quy định tại Điều 13 BLTTHS năm 2015 và cũng là một trong những điều luật ngầm thừa nhận quyền im lặng của người bị bắt, người bị giữ trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam. Theo đó, người bị bắt, người bị giữ bị buộc tội dựa vào những căn cứ để Cơ quan tiến hành tố tụng bắt giữ họ. Nhưng khi lấy lời khai người bị bắt, người bị giữ, nếu cơ quan có thẩm quyền không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người đó không có tội và phải trả tự do cho họ.

Bất kỳ một tội phạm nào cũng đều xâm hại đến một quan hệ xã hội nhất định được luật hình sự bảo vệ. Do vậy, các cơ quan bảo vệ pháp luật là các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng (đại diện cho Nhà nước) có trách nhiệm, nghĩa vụ chứng minh tội phạm nhằm tìm ra người phạm tội để giáo dục, trừng phạt, thực hiện nhiệm vụ phòng, chống tội phạm. Người bị bắt không cần có trách nhiệm, nghĩa vụ chứng minh mình vô tội, tức là họ không bị bắt buộc phải trình ra các chứng cứ ngoại phạm hoặc các chứng cứ khác để chứng minh với các cơ quan bảo vệ pháp luật rằng họ vô tội.  

Do vậy, người bị bắt, bị giữ có thể hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng trong việc thu thập chứng cứ chứng minh việc phạm tội của mình nhưng người người bị bắt, bị giữ cũng có thể im lặng trong suốt quá trình chứng minh tội phạm của các cơ quan tiến hành tố tụng. Những hành vi nêu trên của người người bị bắt, bị giữ không thể bị coi là vi phạm pháp luật và không phải chịu bất kỳ trách nhiệm pháp lý nào. Đây được coi là quyền im lặng của người bị buộc tội. Tuy nhiên, người bị bắt, người bị giữ có quyền chứng minh về sự vô tội của mình thông qua việc đưa ra lời khai, qua người làm chứng hoặc vật chứng có lợi cho mình hoặc các hình thức hợp pháp khác. Trường hợp người người bị bắt, người bị giữ tự nguyện phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc làm rõ những chứng cứ, tình tiết của tội phạm, họ được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi áp dụng hình phạt.

Thứ ba, nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ịch hợp pháp của bị hại, đương sự (Điều 16 BLTTHS năm 2015) có nội dung: “Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của Bộ luật này”. Như vậy, trên cơ sở cụ thể hóa nguyên tắc quy định tại Điều 31 Hiến pháp năm 2013 thì nguyên tắc này có nội dung là: trong những trường hợp luật định, nếu người bị bắt, người bị giữ hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa thì các cơ quan nói trên phải yêu cầu đoàn luật sư cử người bào chữa cho họ. Mặt khác, để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện và đầy đủ, không để lọt người phạm tội, không làm oan người vô tội thì việc bào chữa là cần thiết, giúp cơ quan tiến hành tố tụng xác định sự thật khách quan của vụ án. Hơn nữa, trong quá trình giải quyết vụ án hình sự không chỉ có buộc tội mà nó chỉ có thể đạt hiệu quả cao khi tồn tại song song hai chức năng buộc tội và gỡ tội. Đó cũng là một trong những cơ sở giúp Toà án giải quyết vụ án được chính xác.

Qua phân tích nội dung trên cho thấy, quyền bào chữa và quyền im lặng là hai quyền liên quan chặt chẽ và bổ sung cho nhau để đảm bảo cho TTHS được tiến hành đúng đắn, khách quan, tránh làm oan người không có tội. Có thể nói rằng quyền im lặng là một trong những quyền để người bị bắt, người bị giữ thực hiện quyền bào chữa, để đảm bảo quyền bào chữa phải có quyền im lặng. Vì thực chất quyền bào chữa của người người bị bắt, người bị giữ là tổng hợp các quyền mà pháp luật dành cho họ để chống lại sự buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Vậy nếu người người bị bắt, người bị giữ không được thụ hưởng quyền im lặng thì quyền bào chữa cũng khó đi vào thực tiễn tố tụng được. Bảo đảm quyền tự bào chữa, nhờ người bào chữa của người bị bắt, người bị giữ là nền tảng của tố tụng công bằng. Người bị bắt, người bị giữ có quyền được tiếp cận người bào chữa kể từ khi người bị bắt, bị giữ có mặt tại Cơ quan điều tra là điều rất quan trọng để bảo đảm sự khách quan trong quá trình tố tụng sau này. Người bào chữa không chỉ bảo vệ lợi ích pháp lý của người bị bắt mà còn giám sát việc thực thi pháp luật, đảm bảo không có hành vi bức cung, nhục hình hoặc lạm quyền, những hành vi xâm phạm đến quyền của người bị bắt, người bị giữ dễ xảy ra trong thời gian đầu vụ án. 

2. Những vướng mắc trong bảo đảm quyền im lặng cho người bị bắt, người bị giữ trong tố tụng hình sự ở Việt Nam

Quyền im lặng là cơ chế pháp lý quan trọng nhằm bảo vệ người bị bắt, người bị giữ, bị can, bị cáo khỏi những hành vi xâm phạm thân thể, nhân phẩm hoặc áp lực tinh thần trong quá trình điều tra. Về mặt lý luận, quyền im lặng có mối quan hệ chặt chẽ với các nguyên tắc cốt lõi của tố tụng hình sự Việt Nam như đã phân tích ở trên. Việc ghi nhận và thực thi quyền im lặng không chỉ giúp bảo đảm sự công bằng trong tố tụng mà còn thể hiện bản chất nhân văn, tiến bộ của nền tư pháp hiện đại, hướng tới việc bảo vệ quyền con người trong mọi giai đoạn tố tụng.

Tuy nhiên, thực tiễn ở Việt Nam hiện nay cho thấy việc bảo đảm quyền im lặng nói chung và quyền im lặng cho người bị bắt, người bị giữ vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập. Trước hết, về mặt pháp lý, BLTTHS năm 2015 chưa có quy định trực tiếp về “quyền im lặng”. Các quy định hiện hành mới chỉ thể hiện gián tiếp thông qua quyền “không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội” được nêu tại các Điều 58, 60, 61 và 83 BLTTHS năm 2015 và 3 nguyên tắc cơ bản như trên. Cách quy định này chưa đủ rõ ràng, thiếu cơ chế bảo đảm và chế tài cụ thể nếu cơ quan tiến hành tố tụng vi phạm. Hơn nữa, pháp luật Việt Nam hiện chưa có quy định hướng dẫn cụ thể để người bị bắt, người bị giữ có thể hiểu, nhận biết và thực thi quyền im lặng của mình, khiến quyền này trong nhiều trường hợp chỉ tồn tại “trên giấy”. Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về quyền im lặng chưa được chú trọng, dẫn đến tâm lý “phải khai” hoặc “phải hợp tác” với cơ quan điều tra còn phổ biến trong quá trình tố tụng.

Về mặt thực tiễn, vai trò của người bào chữa trong việc bảo đảm quyền im lặng của người bị bắt, bị giữ còn mờ nhạt. Luật sư chưa được tham gia ngay từ giai đoạn đầu của quá trình điều tra, đặc biệt trong 24 giờ đầu tiên sau khi bắt giữ - thời điểm dễ xảy ra tình trạng bức cung, nhục hình. Dù Điều 183 BLTTHS năm 2015 quy định việc ghi âm, ghi hình khi hỏi cung bị can, song trên thực tế, việc áp dụng vẫn còn hạn chế do thiếu cơ sở vật chất hoặc do tư duy ngại minh bạch trong hoạt động điều tra (Trần Văn Biên, 2022, tr.45-51). Ở nhiều vụ án, lời khai vẫn bị coi là chứng cứ quan trọng, phản ánh tâm lý “trọng cung hơn trọng chứng” vốn tồn tại lâu dài trong hoạt động tố tụng hình sự Việt Nam. Ngoài ra, cơ chế giám sát độc lập đối với hoạt động bắt, giữ, hỏi cung, tạm giam cũng chưa được thiết lập hiệu quả, khiến nguy cơ xâm phạm quyền con người vẫn còn hiện hữu.

Những bất cập nêu trên ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội và quyền bào chữa của người bị tước tự do. Khi quyền im lặng không được tôn trọng, các lời khai thu được có thể không phản ánh sự thật khách quan và dễ dẫn đến oan, sai. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến uy tín của các cơ quan tiến hành tố tụng mà còn tác động tiêu cực đến niềm tin của công chúng vào hệ thống tư pháp. Trong bối cảnh Việt Nam là thành viên của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR) và Công ước chống tra tấn năm 1984 (CAT), việc chưa nội luật hóa đầy đủ quyền im lặng cũng đồng nghĩa với việc chưa thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế về bảo vệ quyền con người (UN Human Rights, 1966, Điều 14(3)(g); 1984, Điều 15). Đặt trong bối cảnh cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế, việc hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền im lặng là yêu cầu cấp thiết, đặc biệt khi Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2030 đã xác định mục tiêu “xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, bảo vệ công lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con người” (Ban Chỉ đạo Cải cách Tư pháp Trung ương, 2022).

3. Giải pháp nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền im lặng của người bị bắt, bị giữ trong tố tụng hình sự

Thứ nhất, quyền im lặng là một quyền rất quan trọng của người bị buộc tội - thể hiện sự tiến bộ của văn minh nhân loại qua phương diện pháp luật. Sự “có mặt” của quyền im lặng là quy luật tất yếu của một nền pháp luật công minh. Bản chất về quyền im lặng đã xuất hiện từ lâu năm trong lịch sử tố tụng nước nhà, nhưng cho đến BLTTHS năm 2015 mới được cụ thể hóa bằng các quyền “không buộc đưa ra lời khai chống lại chính mình” của người bị bắt, bị giữ. Chính vì thế, BLTTHS hiện hành của Việt Nam cần sớm luật hóa quyền im lặng bằng cách quy định rõ ràng rằng “người bị bắt, bị giữ, bị can, bị cáo có quyền im lặng và không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội”. Việc bổ sung quy định này vừa cụ thể hóa nghĩa vụ quốc tế theo ICCPR và CAT, vừa bảo đảm sự minh bạch trong việc áp dụng các nguyên tắc suy đoán vô tội và bảo đảm quyền bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam. Song song với đó, cần xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành, quy định rõ trình tự, thủ tục khi người bị bắt lựa chọn quyền im lặng, trách nhiệm của điều tra viên, kiểm sát viên và luật sư trong việc bảo đảm và tôn trọng quyền này.

Thứ hai, để tổ chức thực thi quyền im lặng - một quyền con người dung hòa với nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tội phạm không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội thì người tiến hành tố tụng phải ghi nhận, tôn trọng và thực hiện quyền này cho người bị buộc tội. Trong mọi trường hợp, việc hạn chế giải thích hoặc phủ định quyền im lặng là không phù hợp với tinh thần của Hiến pháp năm 2013 và chiến lược cải cách tư pháp ở Việt Nam.

Về tổ chức thực thi, cần thiết lập cơ chế bảo đảm thực tế cho việc thực hiện quyền im lặng. Cụ thể, phải bảo đảm người bào chữa được tham gia ngay từ thời điểm bắt giữ, kể cả trong 24 giờ đầu tiên, nhằm hạn chế tối đa nguy cơ bức cung, mớm cung. Việc ghi âm, ghi hình toàn bộ quá trình lấy lời khai người bị bắt, bị giữ cần được áp dụng bắt buộc và phổ cập tại tất cả cơ sở tạm giữ, tạm giam, coi đây là một tiêu chí đánh giá tính hợp pháp của chứng cứ.

Về phương diện nhận thức pháp lý, cần thay đổi quan điểm truyền thống “trọng cung hơn trọng chứng” bằng việc đề cao chứng cứ khách quan, giảm phụ thuộc vào lời khai. Cần tổ chức các chương trình đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu cho điều tra viên, kiểm sát viên những người thi hành lệnh bắt, lệnh giữ về ý nghĩa và giới hạn của quyền im lặng trong tố tụng hiện đại. Đồng thời, phải tăng cường tuyên truyền pháp luật cho người dân, đặc biệt là chính người bị bắt, người bị giữ để họ nhận thức rõ rằng quyền im lặng không phải là hành vi “chống đối”, mà là một biện pháp tự bảo vệ hợp pháp trước cơ quan tiến hành tố tụng.

Cùng với việc xây dựng nhận thức đúng về quyền im lặng, cần tiếp tục cụ thể hóa những định hướng của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp nhằm bảo đảm quyền con người nói chung và người bị bắt, bị giữ nói riêng. Việc cải cách này cần cả bộ máy tiến hành tố tụng cùng phối hợp thực hiện bao gồm: bảo đảm tính độc lập của các cơ quan tư pháp; hướng tới xây dựng và hoàn thiện những quy định tố tụng nhằm kế thừa ưu điểm mô hình tranh tụng.

Kết luận

Quyền im lặng của người bị bắt, người bị giữ là một thiết chế pháp lý có ý nghĩa nhân quyền sâu sắc, phản ánh trình độ phát triển và tính nhân văn của nền tư pháp hiện đại. Việc bảo đảm quyền này không chỉ góp phần thực hiện các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự như suy đoán vô tội, bảo đảm quyền bào chữa, mà còn là yếu tố then chốt nhằm phòng ngừa oan, sai và nâng cao chất lượng tranh tụng. Khi quyền im lặng được tôn trọng và bảo đảm hiệu quả, nền tư pháp Việt Nam sẽ tiến gần hơn tới các chuẩn mực quốc tế về bảo vệ quyền con người, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân và vì dân./.

ThS. Nguyễn Thị Thủy

Học viện Cảnh sát nhân dân

Bài viết được đăng trên Tạp chí Pháp luật về quyền con người số 52 (02/2026)

---

Tài liệu tham khảo

ACHPR. (2003). Principles and Guidelines on the Right to a Fair Trial and Legal Assistance in Africa. Truy cập ngày 26/10/2025, từ https://www.achpr.org/public/Document/file/English/achpr33_guide_fair_trial_legal_assistance_2003_eng.pdf.

Ban Chỉ đạo Cải cách Tư pháp Trung ương. (2022). Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2030, định hướng đến năm 2045.

Trần Văn Biên. (2022). Ghi âm, ghi hình hỏi cung bị can - cơ chế bảo đảm quyền im lặng trong tố tụng hình sự. Tạp chí Kiểm sát, số 9 (2022), tr. 45–51.

International Criminal Tribunal for Rwanda. (1995). Rules of Procedure and Evidence. Truy cập ngày 26/10/2025, từ http://hrlibrary

.umn.edu/africa/RWANDA1.htm.

International Criminal Tribunal for the former Yugoslavia. (1996). Rules of Procedure and Evidence. Truy cập ngày 26/10/2025, từ http://hrlibrary.umn.edu/icty/ct-rules7.html.

UN Human Rights Committee. (2008). Concluding Observations of the Human Rights Committee: France, 31 July 2008, CCPR/C/FRA/CO/4, (đoạn 14). Truy cập ngày 25/10/2025, từ https://www.refworld.org/docid/48c50ebe2.html.

UN Human Rights. (1966; 1984). International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR); Convention against Torture and Other Cruel, Inhuman or Degrading Treatment or Punishment (CAT).