Tóm tắt: Thực hiện dân chủ là một yêu cầu khách quan trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề dân chủ, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản tạo hành lang cơ sở chính trị, cơ sở pháp lý để thực hiện trong thực tiễn. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động đang cố tình phủ nhận, xuyên tạc vấn đề dân chủ ở Việt Nam. Bài viết làm rõ quá trình hoàn thiện cơ sở pháp lý thực hiện dân chủ trên các lĩnh vực qua các giai đoạn lịch sử Việt Nam và chỉ ra những chiêu trò, luận điệu phủ nhận, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động về thực hiện dân chủ ở Việt Nam hiện nay.

Từ khóa: Thể chế dân chủ; thực hiện dân chủ; Dân chủ ở Việt Nam.

Abstract: Implementing democracy is an objective requirement in the process of national construction and development during the transitional period to socialism in Vietnam. Recognizing the importance of democracy, the Party and State have issued numerous documents creating a political and legal framework for its practical implementation. However, hostile and reactionary forces are deliberately denying and distorting the issue of democracy in Vietnam. This article clarifies the process of perfecting the legal basis for implementing democracy in various fields throughout Vietnam's history and points out the tactics and arguments of hostile and reactionary forces in denying and distorting the implementation of democracy in Vietnam today.

Keywords: Democratic institutions; implementing democracy; Democracy in Vietnam.

Ảnh minh họa. Nguồn: cucnghethuatbieudien.gov.vn

Trong lịch sử, dưới ách thống trị của các thế lực xâm lược, ở Việt Nam dường như chưa có dân chủ hoặc chỉ là dân chủ hình thức. Trên thế giới hiếm có đất nước nào như đất nước Việt Nam, với địa chính trị hết sức quan trọng, mảnh đất hình chữ “S” bên bờ Thái Bình Dương liên tục nằm trong tầm ngắm và gánh chịu các cuộc chiến tranh xâm lược của các thế lực ngoại bang, hết các triều đại phong kiến phương Bắc, đến thực dân Pháp, rồi đế quốc Mỹ. Dưới ách thống trị hàng nghìn năm của các triều đại phong kiến phương Bắc, dân chủ dường như không có; dưới chế độ thực dân – phong kiến trong thời kỳ Pháp thuộc, dân chủ chỉ là hình thức. Trong Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng, thực dân Pháp “tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào”… Suốt chiều dài lịch sử đó, nhân dân Việt Nam không ngừng đấu tranh để giành lại độc lập dân tộc, giành lại quyền tự do dân chủ nhân dân. Và, điều đó đã trở thành hiện thực.

Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, với thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, thể chế pháp lý - tức hệ thống quy định pháp luật về thực hiện dân chủ ở Việt Nam đã được nhân dân ta thiết lập và ngày càng hoàn thiện.

Do chưa có đường lối, phương pháp đúng đắn, phù hợp với cách mạng ở Việt Nam, các phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc dưới thời Pháp thuộc đươc khởi xướng bởi các sĩ phu yêu nước, như phong trào Cần vương do các sĩ phu phong kiến yêu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX lãnh đạo nhằm tái lập nhà nước quân chủ phong kiến, phong trào Đông Du của Phan Bội Châu với lập trường dân chủ tư sản hướng đến thiết lập chính thể quân chủ lập hiến tương tự Nhật Bản, phong trào Duy Tân của Phan Chu Trinh mang tính cải lương, thỏa hiệp… đều không tránh khỏi thất bại.

Trong bối cảnh đó, với sự soi sáng của học thuyết Mác-Lênin, dưới sự lãnh đạo thiên tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã muôn người như một nhất tề đứng lên thực hiện thành công cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, giành lại độc lập dân tộc, giành lại chính quyền về tay nhân dân. Ngày 2/9/1945, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, mở đầu một thời đại mới, một chế độ mới - chế độ dân chủ nhân dân, đánh dấu mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc.

Chế độ dân chủ đó đã được xây dựng trên cơ sở đường lối cách mạng khoa học phù hợp với bối cảnh đất nước, đã được chỉ ra trong Chánh cương vắn tắt của Ðảng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và được Hội nghị thành lập Ðảng (tháng 2/1930) thảo luận, thông qua. Theo đó, đường lối cách mạng Việt Nam là "làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản". Nghĩa là làm cách mạng dân tộc dân chủ tiến lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã từng bước xây dựng và hoàn thiện thể chế pháp lý thực hiên dân chủ ở Việt Nam qua các giai đoạn được đánh dấu bằng các bản Hiến pháp đã được ban hành.

Giai đoạn 1945-1958: Ngay sau khi giành được chính quyền, cùng với việc Chính phủ lâm thời ban hành nhiều văn bản xóa bỏ ngạch quan lại của bộ máy chính quyền thực dân, để tổ chức và xây dựng bộ máy chính quyền mới thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ráo riết chỉ đạo tiến hành tổng tuyển cử và ban hành Hiến pháp năm 1946 - Hiến pháp đầu tiên của nước ta, với những quy định hết sức tiến bộ về dân chủ nhân dân. Nhiều học giả đã cho rằng, quan niệm về dân chủ ở Việt Nam từ giữa thế kỷ XX sánh ngang với bất cứ thể chế dân chủ nào trên thế giới. Hiến pháp năm 1946 đã được xây dựng trên cơ sở các nguyên tắc dân chủ, tiến bộ: “Đoàn kết toàn dân không phân biệt giống nòi, trai gái, giai cấp, tôn giáo; bảo đảm các quyền tự do dân chủ, thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân”. Hiến pháp khẳng định “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam[1].

Tiếp theo, Hiến pháp năm 1946 đã quy định cụ thể hơn về quyền công dân, thể hiện rõ bản chất dân chủ trong hệ thống thể chế pháp lý. Mọi công dân bình đẳng với nhau và có quyền tham gia hoạt động của nhà nước: tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện kinh tế, chính trị, văn hóa (Điều 6), đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công việc kiến quốc theo tài năng và đức hạnh (Điều 7), đàn bà ngang quyền đàn ông (Điều 9). Điều 10 quy định rất tiến bộ về các quyền tự do của công dân, như: tự do ngôn luận; tự do xuất bản; tự do tín ngưỡng; tự do tổ chức và hội họp; tự do cư trú, đi lại. Cùng với tự do ngôn luận, Điều 30 khẳng định một cách mạnh mẽ rằng: công dân có quyền vào nghe Nghị viện họp và báo chí được phép thuật lại các cuộc thảo luận và quyết định của Nghị viện, ngoại trừ những trường hợp đặc biệt khi Nghị viện họp kín. Điều 11 quy định không ai được xâm phạm một cách trái luật đối với nhà ở, thư tín của công dân Việt Nam. Hiến pháp cũng quy định công dân có quyền tư hữu tài sản; quyền được bảo đảm về an sinh xã hội của công dân, như: người già, tàn tật không làm được việc thì được giúp đỡ, trẻ em được chăm sóc về mặt giáo dưỡng; nền sơ học không phải đóng học phí ở các trường địa phương, học trò nghèo được Chính phủ giúp...

Quyền lợi bao giờ cũng gắn liền với nghĩa vụ, Hiến pháp năm 1946 đã quy định các nghĩa vụ cơ bản của công dân đối với đất nước, như: Bảo vệ Tổ quốc, tôn trọng Hiến pháp, tuân theo pháp luật và có nghĩa vụ phải đi lính (Điều 4)...

Để bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân, bảo đảm quản lý của nhà nước, Hiến pháp năm 1946 đã có các chương riêng quy định về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, đặc biệt các quy định về Chính phủ tại Chương IV, về Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính tại Chương V...

Trên cơ sở các quy định đó, Nghị viện đã tiếp tục ban hành các đạo luật để cụ thể hóa các quyền của công dân và quy định về các điều kiện để thực hiện các quyền đó, như: Luật Bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của Nhân dân (năm 1957); Luật về Chế độ báo chí (năm 1957); Luật Quy định về quyền lập hội (năm 1957); Luật Quy định về quyền tự do hội họp (1957); Luật Công đoàn (năm 1957)…

Mặc dù, không tránh khỏi những hạn chế nhất định, nhưng các quy định trong Hiến pháp năm 1946 và các đạo luật ban hành trong giai đoạn 1945-1958 là cơ sở pháp lý để thực hiện dân chủ trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, đưa quyền làm chủ của nhân dân vào thực tiễn. Đó là sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân trong bối cảnh hết sức khó khăn, có lúc được ví như ngàn cân treo sợi tóc. Đó là một giai đoạn lịch sử minh chứng rõ nhất con đường cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam lựa chọn là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp bối cảnh lịch sử, đặc biệt là đáp ứng sự mong mỏi của các giai cấp, tầng lớp nhân dân lao động.

Giai đoạn 1959-1979: Chính quyền cách mạng của nhân dân Việt Nam  ra đời sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 chưa được bao lâu - tức nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đã phải cùng toàn dân thực hiện cuộc kháng chiến 9 năm chống lại thực dân Pháp và kết thúc bằng thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ vào tháng 5 năm 1954. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân chống lại đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai bán nước. Quốc hội khóa I, tại kỳ họp thứ 11 đã thông qua Hiến pháp năm 1959.

Hiến pháp mới tiếp tục kế thừa các quyền làm chủ của nhân dân trong Hiến pháp năm 1946 và trong các đạo luật trước đó, đồng thời mở rộng thêm các quyền liên quan trực tiếp đến lợi ích thiết thực của nhân dân, như: quyền được làm việc (Điều 30), nghỉ ngơi (Điều 31), học tập (Điều 33), nghiên cứu khoa học (Điều 34), được giúp đỡ vật chất khi già yếu, bệnh tật (Điều 32). Đặc biệt, Hiến pháp năm 1959 quy định công dân có quyền khiếu nại, tố cáo (Điều 29), biểu tình (Điều 25) để bảo vệ các quyền làm chủ của họ...

Đồng thời với mở rộng các quyền công dân, Hiến pháp năm 1959 đã bổ sung thêm các quy định về nghĩa vụ của công dân, như: công dân không được lợi dụng dân chủ để xâm phạm quyền và lợi ích của nhà nước, của người khác (Điều 38). Hiến pháp năm 1959 đã quy định trách nhiệm của nhà nước nhằm bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, như: thực hành nguyên tắc tập trung dân chủ (Điều 4), tất cả các cơ quan nhà nước phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân, tất cả nhân viên phải trung thành với chế độ dân chủ nhân dân (Điều 6), nhà nước mở rộng việc làm, cải thiện điều kiện lao động (Điều 30), bảo đảm những điều kiện vật chất để công dân thực hiện một số quyền (Điều 25)...

Cùng với Hiến pháp năm 1959, các đạo luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác được ban hành sau đó đã cụ thể hóa quyền làm chủ của nhân dân và các điều kiện bảo đảm thực hiện các quyền đó trong hoạt động của cơ quan nhà nước, như Luật Tổ chức Hội đồng chính phủ (năm 1960); Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính (năm 1962); Pháp lệnh quy định về quyền hạn của Cảnh sát nhân dân (năm 1962); Pháp lệnh về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (năm 1979)...

Các quy định trong Hiến pháp năm 1959, các đạo luật và các văn bản khác về quyền và nghĩa vụ của công dân, về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, nói chung đã tạo nên cơ sở pháp lý bảo đảm thực hiện dân chủ trong hoạt động của các cơ quan nhà nước đầy đủ hơn so với giai đoạn 1945-1958.

Giai đoạn 1980-1991: Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta tiến hành xây dựng xã hội chủ nghĩa trên phạm vi cả nước, Quốc hội khóa VI, tại kỳ họp thứ 7, đã thông qua Hiến pháp năm 1980.

Hiến pháp năm 1980 cơ bản kế thừa các quy định về dân chủ trong Hiến pháp năm 1959, như quy định: tất cả quyền lực thuộc về nhân dân; quyền có việc làm, nghỉ ngơi, được bảo vệ sức khỏe, quyền có nhà ở; tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, biểu tình... Để bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, Hiến pháp đã nhấn mạnh trách nhiệm của nhà nước trong thực hiện dân chủ bằng các quy định như: các cơ quan nhà nước tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ (Điều 6); không ngừng hoàn thiện và củng cố chế độ làm chủ tập thể (Điều 3), hết lòng phục vụ nhân dân, liên hệ mật thiết với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân, phát huy dân chủ (Điều 8)... Trên cơ sở những kế thừa đó, Hiến pháp năm 1980 có những quy định đề cao quyền làm chủ của nhân dân, như: chế độ học không phải trả tiền và chính sách cấp học bổng, tạo điều kiện cho công dân học tập (Điều 60); chế độ khám và chữa bệnh không phải trả tiền (Điều 61), trẻ mồ côi được nhà nước và xã hội nuôi dạy (Điều 75); Hội đồng Bộ trưởng có trách nhiệm phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân (Điều 104)... Những quy định đó thể hiện Đảng và Nhà nước mong muốn nhanh chóng thực hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa trên toàn lãnh thổ sau khi đất nước thống nhất.

Để thể chế hóa Hiến pháp năm 1980 phù hợp với những chuyển biến mới trong đời sống xã hội do công cuộc đổi mới đất nước đem lại, nhiều văn bản pháp luật mới đã được ban hành thay thế các văn bản đã lỗi thời được ban hành trong giai đoạn trước. Trong đó, có nhiều văn bản quan trọng trực tiếp liên quan đến thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan nhà nước, như: Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân (năm 1989); Pháp lệnh tổ chức Luật sư (năm 1987); Luật Hôn nhân và gia đình (năm 1987); Pháp lệnh xử phạt hành chính (năm 1989); Luật Báo chí (năm 1989); Pháp lệnh Thanh tra (năm 1989); Luật Công đoàn (năm 1990); Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân (năm 1981 và 1991); Luật Phổ cập giáo dục tiểu học (năm 1991); Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (năm 1991); Pháp lệnh bảo hộ lao động (năm 1991)...

Có thể nói, nội dung quy định pháp luật về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan nhà nước trong giai đoạn 1980-1991 có sự kế thừa giai đoạn trước, đồng thời đã có bước phát triển hơn giai đoạn trước, chẳng hạn quy định về: khiếu nại, tố cáo của công dân; bảo vệ sức khỏe nhân dân; bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em; bảo hộ lao động...

Giai đoạn 1992 đến nay: Từ sau Đại hội lần thứ VI của Đảng vào tháng 12 năm 1986, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, mà sau này gọi là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trước những thay đổi nhanh chóng trong đời sống xã hội, Quốc hội khóa VIII tại kỳ họp thứ 11 đã thông qua Hiến pháp năm 1992, thể hiện quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng về đổi mới, trong đó phát huy dân chủ là một nội dung quan trọng. Cùng với việc kế thừa các quy định về thực hiện dân chủ trong các Hiến pháp trước đó, Hiến pháp năm 1992 thể hện sự không ngừng phát huy quyền làm chủ, bằng việc bổ sung thêm nhiều quyền của người dân, như: được các cơ quan, cán bộ, viên chức nhà nước tôn trọng (Điều 8); được tự do kinh doanh theo pháp luật (Điều 57); được sở hữu thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản trong các doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác (Điều 58)... Đặc biệt, Hiến pháp năm 1992 quy định người dân có quyền được thông tin (Điều 69), đây là một trong những quy định hết sức quan trọng để nhân dân thực hiện các quyền làm chủ của mình.

Đồng thời với việc bổ sung thêm quyền cho người dân, Hiến pháp năm 1992 khẳng định rõ: Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân, Nhà nước bảo đảm các quyền của công dân, công dân phải làm tròn nghĩa vụ của mình (Điều 51). Nhằm từng bước phù hợp với kinh tế thị trường, Hiến pháp năm 1992 bổ sung những quy định mới so với Hiến pháp năm 1980, như: học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân, Nhà nước có chính sách học phí và học bổng (Điều 59); công dân được hưởng chế độ bảo vệ sức khỏe, Nhà nước quy định chế độ viện phí, miễn và giảm viện phí (Điều 61)...

Để cụ thể hóa các quy định về thực hiện dân chủ trong Hiến pháp năm 1992, các cơ quan có thẩm quyền đã ban hành các văn bản pháp luật quan trọng khác, như: Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả năm 1994; Bộ luật Dân sự năm 1995; Pháp lệnh thủ tục giải quyết tranh chấp lao động năm 1996; Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996; Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998...

Sau những năm đầu đổi mới, bên cạnh những tiến bộ về thực hiện dân chủ do những thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội và phát huy dân chủ đem lại, thì tệ nạn quan liêu, cửa quyền, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân vẫn xảy ra ở nhiều nơi, nhất là ở nông thôn. Những tệ nạn ấy ngày càng trở nên trầm trọng, nhiều địa phương có nguy cơ trở thành điểm nóng, tạo ra “những cuộc bùng nổ nguy hiểm”[2]. Khi sự mất ổn định trật tự xã hội đã xảy ra ở nhiều nơi, như: Thái Bình, Nam Định, Đồng Nai (1997)... thì Đảng mới thực sự đánh giá đúng tình hình dân chủ ở cơ sở. Trước thực trang đó, ngày 18/2/1998, Bộ Chính trị (khóa VIII) đã ban hành Chỉ thị 30-CT/TW về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở.

Sau khi Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị 30-CT/TW, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã nỗ lực ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật thể chế hóa các quan điểm của Đảng về dân chủ và dân chủ hóa trong đời sống xã hội, cũng như trong quản lý nhà nước, như Nghị quyết 55/NQ-UBTVQH10 ngày 30/8/1998 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (khóa X) về việc Ban hành Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan;  Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động cơ quan được ban hành kèm theo Nghị định 71/1998/NĐ-CP của Chính phủ (ngày 8/9/1998); Chỉ thị 38/1998/CT-TTg ngày 11/11/1998 của Thủ tướng về triển khai Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động cơ quan; Thông tư liên tịch 09/1998/TTLT-TCCP-LĐLĐ ngày 4/12/1998 của Ban Tổ chức-Cán bộ Chính phủ và Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam hướng dẫn về tổ chức và nội dung hội nghị cán bộ trong cơ quan;… Có thể nói, Chỉ thị 30-CT/TW của Bộ Chính trị đã đánh dấu sự ra đời các văn bản quy phạm pháp luật chuyên biệt đầu tiên về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan nhà nước, tạo tiền đề cho các văn bản quy phạm pháp luật sau kế thừa và phát triển.

Sau hơn 3 năm thực hiện Chỉ thị 30-C/TW của Bộ Chính trị, ngày 28/3/2002 Ban Bí thư (khóa IX) ban hành Chỉ thị 10-CT/TW về tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở (Chỉ thị 10-CT/TW của Ban Bí thư). Từ đó, các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước tiếp tục thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan nhà nước, như: Luật Giao dịch điện tử; Luật Khiếu nại; Luật Tố cáo; Luật Phòng chống tham nhũng; Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Luật Đầu tư công; Luật Cán bộ, công chức; Luật Viên chức... Và, ngày 9/1/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 04/2015/NĐ-CP về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập (gọi tắt là Nghị định số 4/2015/NĐ-CP của Chính phủ) thay thế Nghị định số 71/1998/NĐ-CP ngày 8/9/1998 của Chính phủ…

Quán triệt các quan điểm của Đảng về tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, ngày 28/11/2013, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Hiến pháp năm 2013. Trên cơ sở kế thừa những giá trị tiến bộ trong các quy định pháp luật về dân chủ trước đó, Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung những nội dung mới thể hiện nhận thức sâu sắc, đầy đủ hơn về dân chủ trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hiến pháp đã cụ thể hóa các quyền con người, bổ sung thêm các nội dung liên quan đến quyền cơ bản của công dân. Chẳng hạn, Hiến pháp đã bổ sung: quyền được bảo đảm an sinh xã hội (Điều 34); quyền được hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa (Điều 41); có quyền xác định dân tộc của mình, dùng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp (Điều 42); được sống trong môi trường lành mạnh (Điều 43); quyền tiếp cận thông tin (Điều 25)...

Vừa mở rộng quyền công dân, vừa quy định cơ chế để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình, Hiến pháp năm 2013 quy định nhân dân không chỉ sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân, mà họ còn thực hiện quyền đó bằng cả dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của nhà nước (Điều 6). Hiến pháp năm 2013 quy định quyền con người, quyền công dân chỉ bị hạn chế trong những trường hợp đặc biệt vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng (Điều 14).

Cùng với việc kế thừa, bổ sung các nội dung quyền công dân, Hiến pháp cũng đề cao trách nhiệm của nhà nước đối với quyền công dân. Hiến pháp quy định: Nhà nước công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân (Điều 3); có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp (Điều 2) để bảo đảm quyền lực nhà nước (quyền lực nhân dân) không bị tha hóa...

Sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành, các cơ quan có thẩm quyền đã và đang gấp rút xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật thể chế hóa các quy định của Hiến pháp, trong đó có việc thể chế hóa các quy định pháp luật về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan nhà nước, như: Luật Tiếp công dân; Luật Tổ chức chính phủ; Luật Tổ chức chính quyền địa phương; Luật Trưng cầu ý dân; Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở; ...

Có thể nói rằng, hơn 80 năm qua, kể từ khi nhân dân ta giành được chính quyền đến nay, là quá trình hình thành và phát triển liên tục của pháp luật về thực hiện dân chủ ở Việt Nam. Đó cũng là quá trình thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan nhà nước có những bước tiến mới, đã kiến tạo cơ sở pháp luật... đặc biệt là chế độ dân chủ đã được thúc đẩy phát triển trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam.

Các thế lực thù địch, phản động đang cố tình phủ nhận, xuyên tạc chế độ dân chủ ở Việt Nam. Nhìn lại lịch sử, đất nước Việt Nam luôn nằm trong tầm ngắm của các thế lực xâm lược, thời gian hòa bình ít hơn rất nhiều so với thời gian chiến tranh bảo vệ đất nước, bất kỳ một người bình thường nào cũng đều có thể dễ dàng nhận thấy những thành quả to lớn đạt được trên mọi mặt đời sống xã hội, trong đó thể chế pháp lý về thực hiện dân chủ ở Việt Nam, cũng như quá trình thực hiện các quy định pháp luật trong lĩnh vực này đang từng bước được hoàn thiện phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Bộ mặt đất nước đã hoàn toàn được đổi thay sau những năm thực hiện công cuộc đổi mới, như hệ thống giao thông, danh lam, thắng cảnh, các khu công nghiệp, sân bay, bến cảng… Vậy mà hiện nay vẫn có những thế lực thù địch, những kẻ phản bội tổ quốc, cố tình phủ nhận, xuyên tạc những thành quả đạt được bởi sự nỗ lực, bởi những giọt mồ hôi, nước mắt và cả sự hy sinh xương máu của các tầng lớp nhân dân đem lại.

Hành trang của các thế lực đó là vô vàn những thủ đoạn, luận điệu phủ nhận, xuyên tạc sự thật. Chẳng hạn nhóm Văn bút Việt Nam Hải ngoại cho rằng tất cả họ “đều có tấm lòng hướng về quê hương Việt Nam nơi chưa có được tự do, dân chủ thực thụ”, họ Thắp nến cầu nguyện cho những nhà đấu tranh vì dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam hiện đang bị nhà cầm quyền Hà Nội cầm tù với những bản án nặng nề, như nhà văn-nhà báo Phạm Đoan Trang, nhà báo Phạm Chí Dũng, Blogger Nguyễn Trường Thụy”[3]. Họ đã đánh tráo đơn lẻ, thiểu số với đa số, phổ biến. Họ thực hiện phương châm nói đi, nói lại, nói mãi thì cái sai sẽ trở thành cái đúng. Họ xuyên tạc công cuộc phòng, chống tham ô, tham nhũng ở Việt Nam hiện nay chỉ là sự đấu đá, tranh giành quyền lợi giữa các phe nhóm[4]. Họ cố tình làm ngơ trước sự mong mỏi, sự đồng lòng của các tầng lớp nhân dân với công cuộc “đốt lò” mà đồng chí Tổng Bí thư thường đề cập. Họ thường xuyên gây nhiễu thông tin, xen lẫn các thông tin thật giả lẫn lộn… Tất cả những thủ đoạn, luận điệu phủ nhận, xuyên tạc sự thật sớm hay muộn cũng sẽ thất bại.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, hoạt động quản lý của Nhà nước, nhân dân giữ vững niềm tin vào chế độ. Hơn 95 năm qua, nhân dân Việt Nam đã đi theo Đảng trong các cuộc kháng chiến để giành được chính quyền từ thực dân, phong kiến… xây dựng đất nước. Và như đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thường khẳng định, chưa bao giờ vị thế đất nước Việt Nam được như ngày nay. Đó là điều không ai có thể phủ nhận, những ai cố tình phủ nhận điều đó sẽ chuốc lấy sự thất bại. Trong quá trình lãnh đạo Nhà nước và xã hội, có lúc thăng, lúc trầm, có lúc Đảng cũng phạm phải sai lầm… Nhưng bởi trước sau như một, tất cả vì nước, vì dân, nên cuối cùng Đảng cũng nhận thức được và đã thoát ra khỏi sai lầm, lãnh đạo đất nước phát triển. Cốt lõi trong quá trình đó là dân chủ ngày càng được mở rộng và từng bước phát triển. Trong hàng triệu đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức nhà nước, không thể tránh được những đảng viên là cán bộ, công chức, viện chức nhà nước phạm phải sai lầm, thoái hóa, biến chất… đó cũng là điều không ai có thể phủ nhân. Trong đội ngũ đảng viên, cán bộ, công chức, viện chức có những người vi phạm, nhưng những người còn lại luôn giữ vững phẩm chất cách mạng; có người tham ô, tham nhũng nhưng những người còn lại đang thực hiện công cuộc phòng chống tham ô, tham nhũng. Sẽ là sai lầm, nếu vì một thiểu số vi phạm mà phủ nhận sự đóng góp, cống hiến của hàng triệu người còn lại. Hiện nay, vấn đề cơ bản, quan trọng là Đảng, Nhà nước phải kiên quyết, kiên trì với công cuộc phòng, chống tham ô, tham nhũng, thoái hóa, biến chất, tự diễn biến, tự chuyển hóa… Làm được như vậy, Đảng sẽ dần trở nên trong sạch, sẽ dần lấy lại được niềm tin từ nhân dân như Đảng đã từng nhận được. Nhân dân không bao giờ quay lưng lại với một đảng trong sạch, chân chính, một lòng vì dân./.

TS. Tô Văn Châu

Viện Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh


[1] Hiến pháp năm 1946, Điều 1.

[2]  Đặng Xuân Kỳ, “Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở-một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Tạp chí Thông tin công tác tư tưởng - lý luận, (1/2004), tr.16.

[3]Xem:https://www.voatiengviet.com/a/thap-nen-cau-nguyen-cho-dan-chu-nhan-quyen-viet-nam/5834103.html

[4] Xem Youtube: thoibao.de; Kênh truyền thông #Lsnguyenvandai

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.    Chánh cương vắn tắt của Đảng (đã được Hội nghị thành lập Đảng tháng 2/1930 thảo luận, thông qua).

2.    Sách lược vắn tắt của Đảng (đã được Hội nghị thành lập Đảng tháng 2/1930 thảo luận, thông qua).

3.    Tuyên ngôn độc lập đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội vào ngày 2/9/1945

4.    Giáo trình Lịch sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam, Trơờng Đại học Luật Hà Nội, Nxb.Công an nhân dân, HN, 2015.

5.   Quốc hội, Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013

6.   Đặng Xuân Kỳ, “Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở-một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Tạp chí Thông tin công tác tư tưởng - lý luận, (1/2004), tr.16.