Ths. Lương Kim Hoàng

Trường Đại học Công Nghệ Tp. Hồ Chí Minh

PGS. TS. Nguyễn Hoàng Phương

Học Viện Chính Trị Khu Vực II

Tóm tắt: Nghiên cứu này phân tích cơ chế tâm lý thúc đẩy ý định lựa chọn điểm đến của du khách LGBTQ+ tại Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời diễn giải các kết quả từ góc độ quyền con người, đặc biệt là các yêu cầu về an toàn, tôn trọng, bao dung và không phân biệt đối xử. Dựa trên việc tích hợp thuyết hành vi dự định, thuyết động lực kéo – đẩy và mô hình kích thích – cơ chế – phản hồi (SOR), nghiên cứu đánh giá cách thức các nhu cầu nội tại và thuộc tính ngoại tại hình thành thái độ và ý định. Dữ liệu được thu thập từ 292 du khách LGBTQ+ thông qua kỹ thuật lấy mẫu có chủ đích và quả cầu tuyết, và được phân tích bằng mô hình cấu trúc bình phương tối thiểu từng phần (PLS-SEM). Kết quả cho thấy động lực kéo tác động mạnh hơn động lực đẩy đến thái độ và ý định. Đặc biệt, chuẩn chủ quan không có tác động đáng kể, gợi ý mức độ tự chủ tương đối trong quyết định lựa chọn điểm đến của những người tham gia nghiên cứu. Thái độ đóng vai trò trung gian toàn phần trong mối quan hệ giữa hình ảnh điểm đến và ý định. Từ góc độ quyền con người, kết quả nhấn mạnh ý nghĩa của việc xây dựng điểm đến an toàn, bao trùm, tôn trọng bản dạng và không phân biệt đối xử đối với cộng đồng LGBTQ+.

Từ khoá: Du khách LGBTQ+; động lực kéo - đẩy; hình ảnh điểm đến; quyền con người; không phân biệt đối xử.

Abstract: This study examines the psychological mechanisms shaping destination choice intentions among LGBTQ+ tourists in Ho Chi Minh City and interprets the findings through a human rights perspective, particularly the dimensions of safety, respect, inclusion, and non-discrimination. Integrating push–pull motivation theory, the theory of planned behavior, and the stimulus–organism–response (SOR) model, the study assesses how internal needs and destination attributes shape attitudes and intentions. Data from 292 LGBTQ+ tourists, collected through purposive and snowball sampling, were analyzed using PLS-SEM. The findings show that pull motivations exert stronger effects on attitudes and intentions than push motivations. Subjective norms have no significant effect, suggesting a high degree of autonomy in destination choice. Attitude fully mediates the relationship between destination image and intention. From a human rights perspective, the results underscore the importance of developing destinations that are safe, inclusive, respectful of identity.

Keywords: Destination image; LGBTQ+ tourists; Push–pull motivations; Human rights; Non-discrimination

Ảnh minh họa. Nguồn: tuoitre.vn.

Giới thiệu

Du lịch LGBTQ+ hay còn gọi là du lịch “hồng (Pink)” đã là một thành phần không thể thiếu của nền kinh tế toàn cầu, dự kiến đạt doanh thu 610 tỷ đô la vào năm 2032 (Madinga et al., 2025b). Tại Việt Nam, đặc biệt là ở Thành phố Hồ Chí Minh, sự chuyển biến tích cực trong nhận thức xã hội đã biến nơi đây thành một thị trường tiềm năng cho “nền kinh tế hồng”  (Muñoz et al., 2024). Thị trường ngách này không chỉ là một thị trường kinh tế đầy hứa hẹn với chi tiêu đáng kể và tần suất du lịch cao (Madinga et al., 2025a), mà còn nhấn mạnh các yếu tố nhạy cảm như tính thân thiện và an toàn tại điểm đến (Monaco et al., 2025). Tuy nhiên, các khung lý thuyết hiện tại về hành vi du lịch vẫn chủ yếu tập trung vào du khách phổ thông, thường bỏ qua nhu cầu và rào cản đặc thù của nhóm thiểu số giới tính (Nguyen et al., 2023; Madinga et al., 2025a). Mặc dù các yếu tố như cảnh đẹp, môi trường tự nhiên, cơ sở hạ tầng phát triển, và chất lượng dịch vụ là những yếu tố ý nghĩa đối với du khách phổ thông (Bui, 2024; Randrianirina et al., 2025; Najar, 2025), sự thân thiện với cộng đồng LGBTQ+ và điểm đến an toàn có tác động tích cực lên sự hài lòng, ý định quay lại, và ý định lựa chọn điểm đến của du khách LGBTQ+ (Ro & Khan, 2022; Lai et al., 2022; Algueró-Boronat et al., 2024a; Wong & Lai, 2024; Monaco et al., 2025). Vì vậy, cách mà các yếu tố động lực, thái độ, chuẩn chủ quan và hình ảnh điểm đến tương tác để hình thành ý định trong những bối cảnh văn hóa - xã hội mà các chuẩn mực và kỳ vọng xã hội có thể ảnh hưởng đến trải nghiệm của du khách LGBTQ+, vẫn là một khoảng trống lớn. Bài báo này nhằm trả lời câu hỏi: (1) Động lực nào là lực đẩy chính cho du khách LGBTQ+? (2) Tại sao áp lực xã hội (chuẩn chủ quan) lại mất đi hiệu lực đối với nhóm khách hàng này?

Từ góc độ quyền con người, các yêu cầu về an toàn, sự bao dung, tôn trọng bản dạng và không phân biệt đối xử không chỉ là thuộc tính của điểm đến mà còn là những điều kiện ảnh hưởng đến khả năng tham gia bình đẳng và tự chủ của du khách LGBTQ+ vào các hoạt động du lịch. Vì vậy, nghiên cứu sử dụng tiếp cận quyền con người như một lăng kính bổ sung để diễn giải các kết quả về động lực, thái độ, chuẩn chủ quan, hình ảnh điểm đến và ý định lựa chọn điểm đến.

1. Tổng quan tài liệu và giả thuyết

a) Du khách LGBTQ+ và tiếp cận quyền con người

Khái niệm “LGBTQ+” đề cập đến một cộng đồng thiểu số có xu hướng tính dục được xác định là đồng tính nữ (lesbian), đồng tính nam (gay), song tính (bisexual), chuyển giới tính (transgender), hay chưa xác định giới tính (queer/questioning), và “+” được hiểu là những người có bản dạng tình dục khác ngoài xu hướng dị tính (Algueró-Boronat et al., 2025b). Trong lĩnh vực du lịch này, du khách LGBTQ+ là những cá nhân có xu hướng và bản dạng tính dục đa dạng đi du lịch vì mục đích nghỉ dưỡng, giải trí, văn hóa, xã hội và các mục đích liên quan đến bản sắc giới tính của họ (Lewis et al., 2021; Qiu et al., 2025). Cộng đồng LGBTQ+ đã đóng góp to lớn đối với du lịch toàn cầu, với sự phát triển của “kinh tế hồng”, ước lượng đạt 3,9 triệu tỷ đô mỗi năm (Saravi, 2022). Thị phần du lịch này được dự đoán sẽ mở rộng nhanh chóng trong tương lai (Madinga et al., 2025a) bởi vì khách du lịch “gay” đi du lịch thường xuyên hơn và sẵn sàng chi tiêu (Madinga et al., 2025b). Bên cạnh đó, Hiệp hội Du lịch và Lữ hành Thế giới (WTTC, 2021) báo cáo rằng lực lượng khách du lịch này phân bổ cao hơn mức trung bình của mức thu nhập khả dụng của họ để đi du lịch và gắn liền với tần suất du lịch cao. Trong phạm vi bài viết, tiếp cận quyền con người được sử dụng ở mức độ diễn giải, tập trung vào các giá trị và nguyên tắc gắn với nhân phẩm, bình đẳng, không phân biệt đối xử, tự chủ cá nhân và an toàn của người LGBTQ+ trong trải nghiệm du lịch. Cách tiếp cận này không thay thế các mô hình hành vi du lịch mà bổ sung một lăng kính để xem xét vì sao các yếu tố thân thiện, bao trùm và tôn trọng bản dạng có thể ảnh hưởng đến thái độ và ý định lựa chọn điểm đến.

b) Mô hình kích thích-cơ chế-phản hồi (S-O-R)

Mô hình SOR được phát triển bởi Mehrabian và Russell (1974). Theo mô hình, các yếu tố môi trường xung quanh (stimuli) ảnh hưởng đến nhận thức và cảm xúc (organism), dẫn tới các phản ứng hành vi (responses). Trong bối cảnh du lịch, thuyết này được ứng dụng để giải thích tại sao du khách chọn hay né tránh các điểm đến. Nghiên cứu trước chỉ ra rằng các yếu tố như hình ảnh điểm đến, chất lượng dịch vụ và môi trường xã hội ảnh hưởng đến các hành vi tiếp cận và tránh né (Bui, 2023a; Hoang et al., 2025). Lý thuyết này còn bổ sung cho thuyết động lực kéo và đẩy trong việc giải thích ý định lựa chọn điểm đến của du khách bằng cách xem xét các yếu tố đẩy và kéo ảnh hưởng đến ý định tiếp cận hay né tránh của du khách (Aggarwal & Hajra, 2023). Nghiên cứu này sử dụng lý thuyết tiếp cận và né tránh để giải thích cách mà các yếu tố đẩy và kéo, và hình ảnh điểm đến ảnh hưởng đến ý định lựa chọn hay né tránh của du khách LGBTQ+.

c) Thuyết động lực kéo đẩy

Động lực du lịch được nảy sinh khi các yếu tố nội tại như nhu cầu thoát khỏi môi trường hiện tại (các yếu tố đẩy), cùng với các thuộc tính hấp dẫn của điểm đến (yếu tố kéo) (Yuan & McDonald, 1990). Tương tự, Uysal & Jurowski (1994) mô tả khung lý thuyết động lực đẩy và kéo là sự tương tác giữa các nhu cầu nội tại và nhu cầu ngoại tại. Thuyết động lực đẩy và kéo đã và đang được ứng dụng rộng rãi và tích hợp vào các lý thuyết khác để khám phá các động lực nội tại và ngoại tại trong bối cảnh du lịch hiện đại (Duong et al., 2023; Kim et al., 2022; Tham et al., 2024; Randrianirina et al., 2025). Nhiều tác giả khoa học xác định các chiều hướng khác biệt của các động lực nội tại bao gồm mong muốn giải trí, thư giãn, phấn khích, và mạo hiểm; sự thoát ly khỏi lịch trình căng thẳng hằng ngày và đám đông, sự khẳng định bản thân, cơ hội để tạo dựng các mối quan hệ xã hội, sự mới mẻ, kiến thức mới, và các phong cách sống và văn hóa hấp dẫn (Ayoub & Mohamed, 2024; Bui, 2024; Carvalho, 2022; Kim et al., 2022; Loi et al., 2024; ). Các động cơ này không trực tiếp gắn liền với các thuộc tính của điểm đến mà ăn sâu vào trạng thái tâm lý và nhu cầu bên trong của du khách (Pratiwi et al., 2022; Salazar & Osorio, 2024).

Đối với du khách LGBTQ+, cùng với các nhu cầu và mong muốn nêu trên, mong muốn giảm bớt những áp lực và kỳ vọng xã hội liên quan đến giới và tính dục; được thoải mái thể hiện bản dạng giới và xu hướng tính dục, và các cơ hội kết nối với cộng đồng thiểu số về giới tính địa phương và cảm được thuộc về cũng phản ảnh đúng động cơ chuyên biệt đối với hành vi du lịch củanhững người có thể gặp rào cản, kỳ thị hoặc phân biệt đối xử trong một số bối cảnh (Alguero-Boronat et al., 2024b; Monaco et al., 2024; Prayag et al., 2024;  Wong & Lai, 2024).

Nghiên cứu thực nghiệm trước đây đã cho thấy động lực đẩy tác động tích cực lên thái độ bởi vì hành vi du lịch thỏa mãn những khát khao và mong đợi tâm lý này (Pratiwi et al., 2022; Bui, 2024; Loi et al., 2024). Thêm vào đó, Pratiwi et al. (2022) xác nhận rằng các động lực đẩy gián tiếp tác động lên ý định du lịch thông qua thái độ tích cực. Trong khi đó, các nghiên cứu thực nghiệm khác nhau cung cấp bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ trực tiếp, tích cực giữa các động lực đẩy và ý định lựa chọn điểm đến (Ayoub & Mohamed, 2024; Pratiwi et al., 2022; Tham et al., 2024).

Trong nghiên cứu này, dựa trên các bằng chứng thực nghiệm, tác giả đề xuất hai giả thuyết: (H1a) các động lực đẩy tác động ý nghĩa và tích cực lên thái độ của du khách và (H1b) các động lực đẩy tác động ý nghĩa và tích cực lên ý định du lịch.  Xét từ góc độ quyền con người, các động cơ đặc thù của du khách LGBTQ+ đồng thời phản ánh nhu cầu được tôn trọng nhân phẩm, tự chủ và không bị kỳ thị, phân biệt đối xử trong quá trình du lịch.

Ngược lại với các động cơ nội tại, các yếu tố kéo liên quan chặt chẽ với các đặc điểm hữu hình và thuộc tính nhận thức của một điểm đến (Kyriakaki et al., 2020). Các thành phần chủ chốt của động lực kéo bao gồm các cảnh đẹp và phong cảnh tự nhiên, cơ sở hạ tầng và tiện nghi phù hợp, các địa điểm văn hóa và lịch sử đa dạng, an toàn và an ninh, các hoạt động và sự kiện sôi động, các sản phẩm và dịch vụ chất lượng, chi phí du lịch hợp lý, và người dân chào đón và hiếu khách (Bui, 2024; Ha, 2024; Loi et al., 2024). Ngoài những đặc tính hấp dẫn nêu trên, du khách LGBTQ+ còn bị thu hút bởi các thuộc tính thân thiện với cộng đồng LGBTQ+ của một điểm đến, bao gồm các môi trường pháp lý và chính sách liên quan đến việc bảo đảm an toàn, bình đẳng và không phân biệt đối xử đối với người LGBTQ+; mức độ công nhận pháp lý đối với các quan hệ cùng giới tùy thuộc pháp luật từng quốc gia (Monaco, 2022; Wong & Vongvisitsin, 2025), an toàn xã hội và tính bao trùm (sự thân thiện với cộng đồng LGBTQ+, thái độ chào đón và sự bao dung của người dân địa phương, và danh tiếng quốc tế) (Hattingh & Spencer, 2017), cơ sở vật chất và tiện nghi phù hợp với cộng đồng LGBTQ+ (dịch vụ lưu trú thân thiện với LGBTQ+, quán bar đồng tính, phòng xông hơi và các chuyến du lịch đặc thù) (Hattingh & Spencer, 2017), các sự kiện pride (Hattingh & Spencer, 2018), và sự có mặt của các cộng đồng thiểu số về giới tính địa phương (các ngôi làng và văn hóa “gay” địa phương) (Hattingh & Spencer, 2018).

Các tác giả Pratiwi et al. (2022), Bui (2024), và Loi et al. (2024) xác nhận mối quan hệ ý nghĩa giữa các động lực kéo và thái độ du khách, trong khi đó nhiều nhà nghiên cứu khác phát hiện ra các động lực kéo tác động tích cực lên ý định lựa chọn điểm đến và tham gia vào các hoạt động du lịch của du khách (Ayoub & Mohamed, 2024; Nguyen et al., 2024; Randrianirina et al., 2025). Song song đó, Pratiwi et al. (2022) kết luận rằng các động lực kéo không tác động trực tiếp lên ý định du khách mà tác động gián tiếp thông qua việc hình thành thái độ tích cực của du khách. Dựa vào các kết quả nghiên cứu thực nghiệm, tác giả đề xuất hai giả thuyết: (H2a) các động lực kéo tác động ý nghĩa và tích cực lên thái độ của du khách và (H2b) các động lực kéo tác động ý nghĩa và tích cực lên ý định lựa chọn điểm đến của khách du lịch hồng. Những thuộc tính này đồng thời phản ánh mức độ mà điểm đến tạo ra một môi trường bình đẳng, an toàn, bao trùm và không phân biệt đối xử đối với du khách LGBTQ+.

d) Thuyết hành vi dự định

Thuyết hành vi dự định (TPB) được phát triển bởi Ajzen (1991) để giải thích hành vi có chủ đích bị ảnh hưởng bởi ba yếu tố: thái độ đối với hành vi (nhận thức tích cực hoặc tiêu cực của một cá nhân về việc thực hiện hành vi), chuẩn chủ quan (nhận thức của một cá nhân về áp lực xã hội hay mong đợi từ những người khác như bạn bè, gia đình, và đồng nghiệp về việc thực hiện hành vi), và kiểm soát hành vi nhận thức (nhận thức của một cá nhân về khả năng thực hiện hành vi, bao gồm các nguồn lực sẵn có, các rào cản, và các yếu tố kiểm soát). Nghiên cứu này tập trung vào các tiền đề tâm lý và đánh giá xã hội để giải thích quy trình hình thành ý định, nên yếu tố thái độ và chuẩn chủ quan đại diện cho sự đánh giá về mức độ mong muốn và sự chấp nhận của xã hội đối với một hành vi.

Các nhà nghiên cứu Pratiwi et al. (2022) và Bui (2024) lập luận rằng thái độ của du khách là kết quả của các động lực tâm lý và trong mô hình của họ, động lực đẩy và kéo là những yếu tố quan trọng hình thành thái độ. Trong nghiên cứu này, tác giả đồng quan điểm với Pratiwi et al. (2022) và Bui (2024). Các nghiên cứu thực nghiệm xác nhận rằng thái độ của du khách là một biến dự báo ý nghĩa về ý định viếng thăm của du khách ở Việt Nam (Bui, 2024; Liang & Nguyen, 2024; Loi et al., 2024). Yếu tố này được phát hiện có mối liên quan ý nghĩa và tích cực đến ý định du khách ở Indonesia (Pratiwi et al., 2022), thành phố Thượng Hải, Trung Quốc (Hu et al., 2023), và thành phố Sarajevo (Bouarar, 2025). Thêm vào đó, thái độ của du khách đóng vai trò là biến trung gian trong các mối quan hệ giữa hình ảnh điểm đến và ý định hành vi (Tham et al., 2024). Vì vậy, trong nghiên cứu này, tác giả đề xuất giả thuyết (H3a): thái độ du lịch ảnh hưởng tích cực và ý nghĩa lên ý định lựa chọn và (H3b): thái độ đóng vai trò trung gian giữa hình ảnh điểm đến và ý định du lịch.

Fishbein & Ajzen (1975) và Ajzen (1991) định nghĩa chuẩn chủ quan là nhận thức của cá nhân về áp lực xã hội từ những người quan trọng. Trong du lịch LGBTQ+, Wong et al. (2025) xác định các nhóm ảnh hưởng xã hội như gia đình, bạn bè và các cộng đồng LGBTQ+ mà ảnh hưởng của họ có thể khuyến khích hay không ủng hộ các cá nhân chuyển giới đi du lịch. Bouarar et al. (2025) lập luận rằng các du khách có xu hướng tìm kiếm lời khuyên và ý kiến từ các nhóm tham khảo cho kế hoạch du lịch của họ bởi vì họ tự tin rằng những thành viên này có thể cung cấp thông tin hữu ích dựa vào các trải nghiệm quá khứ. Nhiều nghiên cứu thực nghiệm xác nhận chuẩn chủ quan tác động ý nghĩa và tích cực lên ý định lựa chọn điểm đến (Bui, 2023a; Le et al., 2023), trong khi đó Liu et al. (2021), Hu et al. (2023), Liang & Nguyen (2024), và Bouarar et al. (2025) phát hiện ra rằng các ảnh hưởng xã hội có tác động tích cực lên ý định du lịch nước ngoài. Dựa vào các nghiên cứu thực nghiệm, nghiên cứu này đề xuất giả thuyết (H4): các chuẩn chủ quan ảnh hưởng ý nghĩa và tích cực lên ý định chọn lựa điểm đến của du khách LGBTQ+.

e) Hình ảnh điểm đến

Trong bối cảnh du lịch LGBTQ+, hình ảnh điểm đến nhấn mạnh sự thân thiện với cộng đồng LGBTQ+ được hình dung là một môi trường bao trùm và an toàn (Ram et al., 2019; Madinga et al., 2025a).  Ram et al. (2019) lập luận rằng một điểm đến bao trùm LGBTQ+ truyền tải một hình ảnh chào đón, tiến bộ và an toàn. Xây dựng một hình ảnh như vậy không chỉ thu hút du khách LGBTQ+ mà còn thúc đẩy tính thân thiện đối với những nhóm khách có thể đặc biệt quan tâm đến sự công bằng, an toàn và tôn trọng (Ram et al., 2019).  Vì vậy, hình ảnh điểm đến thân thiện có thể được xem không chỉ như một yếu tố marketing mà còn như nhận thức của du khách về mức độ tôn trọng, an toàn và không phân biệt đối xử tại điểm đến.

Nhiều nghiên cứu thực nghiệm cho thấy rằng một hình ảnh điểm đến tích cực có thể ảnh hưởng ý nghĩa lên ý định và hành vi của du khách (Nazir et al., 2021; Randrianirina et al., 2025). Mặt khác, hình ảnh điểm đến liên quan mật thiết đến thái độ du khách, trong khi đó nó không có mối hệ ý nghĩa nào với chuẩn chủ quan và kiểm soát hành vi nhận thức (Tran et al., 2021; Liang & Nguyen, 2024; Loi et al., 2024). Hình ảnh điểm đến có thể ảnh hưởng đến ý nghĩa và thái độ của du khách, hoặc là cố gắng thay đổi nhận thức hiện tại, hoặc thậm chí tạo ra thái độ mới (Jalilvand et al., 2012; Loi et al., 2024). Kết luận từ những nghiên cứu thực nghiệm trước đây, tác giả đề xuất hai giả thuyết: (H5a) hình ảnh điểm đến thân thiện với LGBTQ+ ảnh hưởng ý nghĩa và tích cực lên ý định lựa chọn điểm đến của du khách LGBTQ+, và (H5b) hình ảnh điểm đến thân thiện với LGBTQ+ ảnh hưởng ý nghĩa và tích cực lên thái độ của du khách LGBTQ+.

Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất. Nguồn: Nhóm tác giả (2026)

2. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng phương pháp hỗn hợp, 

kết hợp giữa định tính và định lượng để đảm bảo tính khoa học và phù hợp với đặc thù của cộng đồng LGBTQ+. Giai đoạn định tính được thực hiện qua tổng quan tài liệu và phỏng vấn chuyên sâu 05 chuyên gia và 10 du khách LGBTQ+ để hiệu chỉnh thang đo phù hợp với bối cảnh văn hóa Việt Nam. Giai đoạn định lượng sử dụng bảng hỏi khảo sát để thu thập dữ liệu và kiểm định các giả thuyết trong mô hình. Các ứng viên tham gia nghiên cứu là các cá nhân tự nhận định mình thuộc cộng đồng LGBTQ+ đang sinh sống và làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh và có trải nghiệm du lịch trong vòng 03 năm qua. . Lực lượng nghiên cứu này có thể cung cấp sự đánh giá dựa trên trải nghiệm thực tế (Wong & Vongvisitsin, 2025). Nghiên cứu được thực hiện tại Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 01/01/2026 đến ngày 30/06/2026. Do các thành viên LGBTQ+ là “mẫu ẩn”, nghiên cứu sử dụng phương pháp lấy mẫu quả cầu tuyết và lấy mẫu có chủ đích (Hendijani, 2023; Monaco et al., 2025) thông qua các hội nhóm trực tuyến và trực tiếp tại các không gian dành cho cộng đồng LGBTQ+. Trong 391 phiếu thu về, có 292 mẫu hợp lệ được sử dụng, thỏa mãn yêu cầu mẫu cho phân tích mô hình phức tạp (Hair et al., 2021). Khảo sát trực tuyến qua Google Forms với thang đo Likert 7 điểm. Thang đo được kế thừa từ các nghiên cứu quốc tế uy tín và được hiệu chỉnh qua phỏng vấn chuyên gia. Dữ liệu được xử lý bằng SPSS 26.0 cho thống kê mô tả và nhân tố khám phá EFA. Sau đó, được xử lý bằng SMART PLS 4.0 để kiểm định phương trình cấu trúc (PLS-SEM). Quy trình bao gồm đánh giá mô hình đo lường và kiểm định mô hình cấu trúc qua kỹ thuật Bootstrapping 5.000 mẫu để xác định hệ số đường dẫn (β) và mức ý nghĩa (P-value).

3. Kết quả và thảo luận

a) Kết quả

* Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu

Bảng 1. Thống kê mô tả đặc điểm mẫu (N=292

Độ tuổi

292

100%

Từ 18 – 24 tuổi

58

19,9%

Từ 25 – 34 tuổi

149

51,0%

Từ 35 – 44 tuổi

72

24,7%

Từ 45 – 54 tuổi

10

3,4%

Từ 55 – 64 tuổi

3

1,0%

Bản dạng giới tính

292

100%

Nam

205

70,2%

Nữ

39

13,4%

Phi nhị nguyên

15

5,1%

Chuyển giới nữ

20

6,8%

Chuyển giới nam

8

2,7%

Tôi không muốn tiết lộ

5

1,7%

Xu hướng tính dục

292

100%

Đồng tính nam

188

64,4%

Đồng tính nữ

30

10,3%

Song tính

44

15,1%

Toàn tính

9

3,1%

Vô tính

9

3,1%

Khác

2

0.7%

Tôi không muốn tiết lộ

10

3,4%

Trình độ giáo dục

292

100%

Trung học phổ thông

41

14,0%

Giáo dục nghề nghiệp

19

6,5%

Cao đẳng/ Đại học

165

56,5%

Sau đại học

66

22,6%

Khác

1

0,3%

Thu nhập

292

100%

05 -10 triệu đồng

56

19,2%

10-20 triệu đồng

106

36,3%

20-30 triệu đồng

64

21,9%

30-40 triệu đồng

32

11,0%

trên 40 triệu đồng

34

11,6%

Kinh nghiệm du lịch

292

100%

0-1 chuyến mỗi năm

77

26,4

2-3 chuyến mỗi năm

156

53,4

4-5 chuyến mỗi năm

36

12,3

Trên 05 chuyến mỗi năm

23

7,9

Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp (2026)

Nghiên cứu thu thập được 292 mẫu hợp lệ. Thế hệ trẻ trong độ tuổi 25-34 là đối tượng chủ yếu, chiếm 51%. Về bản dạng giới tính và xu hướng tính dục, 70,2% là nam giới và đồng tính nam chiếm 64,4%. Các ứng viên tham gia có trình độ học vấn cao, 56,5% tốt nghiệp đại học, cao đẳng và mức thu nhập phổ biến từ 10-20 triệu đồng, chiếm 36,3%.

* Phân tích nhân tố khám phá

Phân tích nhân tố khám phá (EFA) được thực hiện trên phần mềm SPSS 26 cho 34 biến quan sát thuộc 06 nhân tố của mô hình nghiên cứu. Hệ số KMO đạt 0,907 (>0,7) cho thấy kích thước mẫu hoàn toàn phù hợp để phân tích nhân tố. Kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê cao (Sig. = 0,000), chứng minh các biến quan sát có tương quan với nhau và thỏa mãn điều kiện phân tích. Bằng phương pháp Principal Component Analysis và phép quay promax, có 06 nhân tố được trích ra với giá trị Eigenvalue > 1,594.

Về tổng phương sai trích, 06 nhân tố giải thích được 68,639% sự biến thiên của dữ liệu, vượt xa tiêu chuẩn 50%, khẳng định mô hình EFA có giá trị giải thích tốt. Tất cả các biến quan sát đều có hệ số tải nhân tố (Factor loading) > 0,615, đạt tiêu chuẩn hội tụ (>0,5). Đồng thời, không có hiện tượng chéo (cross-loading) vi phạm giá trị phân biệt, các biến quan sát hội tụ rõ ràng vào đúng các nhân tố lý thuyết trong mô hình nghiên cứu. Kết quả EFA này là cơ sở vững chắc để tiếp tục đánh giá mô hình đo lường và kiểm định mô hình cấu trúc bằng phương pháp PLS-SEM.

* Kết quả kiểm định mô hình đo lường

Bảng 2. Các chỉ số mô hình đo lường

Biến quan sát

Hệ số tải ngoài (OL)

Hệ số tin cậy (CA)

Độ tin cậy tổng hợp (rho_c)

Giá trị trung bình của phương sai (AVE)

VIFs

PU

0,925

0,928

0,657

PU1

0,829

2,382

PU2

0,791

2,091

PU3

0,786

2,200

PU4

0,825

2,477

PU5

0,824

2,458

PU6

0,805

2,349

PU7

0,793

2,160

PU8

0,829

2,561

PM

0,926

0,929

0,658

PM1

0,821

2,390

PM2

0,815

2,287

PM3

0,764

1,958

PM4

0,794

2,140

PM5

0,795

2,228

PM6

0,823

2,498

PM7

0,823

2,496

PM8

0,851

2,670

AT

0,858

0,861

0,701

AT1

0,834

1,848

AT2

0,831

1,983

AT3

0,837

2,025

AT4

0,847

2,095

SN

0,891

0,913

0,691

SN1

0,883

SN2

0,835

SN3

0,780

SN4

0,835

SN5

0,820

DI

0,885

0,900

0,682

DI1

0,800

2,067

DI2

0,842

2,307

DI3

0,818

1,800

DI4

0,822

2,234

DI5

0,845

2,217

DCI

0,868

0,872

0,715

DCI1

0,852

2,069

DCI2

0,847

2,081

DCI3

0,829

2,059

DCI4

0,855

2,078

Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp (2026)

Tất cả các biến tiềm ẩn đều có hệ số tin cậy (Cronbach’s Alpha) > 0,858 và độ tin cậy tổng hợp (rho_c) > 0,904, vượt xa ngưỡng quy định (0,7), cho thấy mô hình đạt độ tin cậy và giá trị khoa học rất cao (Hair et al., 2021). Hệ số tải ngoài (Outer Loading) của tất cả các biến quan sát đều lớn hơn 0,764 và giá trị phương sai trích trung bình (AVE) đều lớn hơn 0,657, vượt qua ngưỡng tiêu chuẩn (Hair et al., 2022), cho thấy thang đo có tính ổn định tốt, các câu hỏi sử dụng là phù hợp và đo lường tập trung vào các khái niệm nghiên cứu. Hệ số VIF của các biến quan sát < 2,67 cho thấy không có hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng.

Bảng 3. Chỉ số tương quan đồng tính-dị tính (HTMT)

AT

DCI

DI

PM

PU

SN

AT

DCI

0,501

DI

0,395

0,272

PM

0,475

0,494

0,205

PU

0,335

0,286

0,147

0,111

SN

0,129

0,184

0,057

0,314

0,082

Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp (2026)

Chỉ số HTMT < 0,501 (nhỏ hơn ngưỡng 0,85) (Henseler, Ringle, & Sarstedt, 2015), khẳng định các khái niệm trong mô hình là riêng biệt.

Bảng 4. Mức độ phù hợp của mô hình

Mô hình bảo hòa

(Saturated model)

Mô hình ước tính

(Estimated model)

SRMR

0,046

0,046

NFI

0,875

0,875

Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp (2026)

Theo Hu & Bentler (1999) và Hair et al. (2021), mô hình được coi là phù hợp nếu chỉ số SRMR nhỏ hơn 0,08. Như vậy, với mức 0,046, mô hình nghiên cứu này đạt mức phù hợp tốt; sai số giữa ma trận tương quan quan sát và ma trận tương quan dự báo là thấp. Chỉ số NFI (Normed Fit Index) đánh giá mức độ cải thiện của mô hình so với mô hình cơ sở. NFI càng gần 1 càng tốt. Tuy nhiên, trong các nghiên cứu thực tế hoặc các mô hình phức tạp, mức trên 0,80 (lớn hơn ngưỡng 0,7) vẫn thường được chấp nhận.

- Kết quả mô hình cấu trúc

Bảng 5. Các chỉ số kiểm định giả thuyết

 

Giả thuyết

Mối quan hệ

Hệ số đường dẫn (β)

Khoảng tin cậy

Độ lệch chuẩn

T

statistics

Pvalue

VIF

Kết luận

H1a

PU -> AT

0,228

(0,131 – 0,328)

0,050

4,550

0,000

1,026

Chấp nhận

H1b

PU -> DCI

0,144

(0,049 – 0,246)

0,050

2,887

0,004

1,106

Chấp nhận

H2a

PM -> AT

0,357

(0,266 – 0,448)

0,047

7,650

0,000

1,043

Chấp nhận

H2b

PM -> DCI

0,310

(0,189 – 0,425)

0,061

5,097

0,000

1,323

Chấp nhận

H3a

AT -> DCI

0,223

(0,106 – 0,336)

0,059

3,784

0,000

1,458

Chấp nhận

H3b

DI -> AT -> DCI

0,058

(0,024 – 0,100)

0,020

2,940

0,003

Chấp nhận

H4

SN -> DCI

0,045

(-0,037 – 0,151)

0,049

0,925

0,355

1,096

Bác bỏ

H5a

DI -> DCI

0,090

(-0,018 – 0,194)

0,054

1,667

0,096

1,152

Bác bỏ

H5b

DI -> AT

0,259

(0,164 – 0,361)

0,049

5,265

0,000

1,052

Chấp nhận

R2 hiệu chỉnh

Mối quan hệ

f2

Mối quan hệ

f2

AT

0,314

PU -> AT

0,074

AT -> DCI

0,049

DCI

0,304

PU -> DCI

0,027

SN -> DCI

0,003

PM -> AT

0,178

DI -> AT

0,093

PM -> DCI

0,104

DI -> DCI

0,010

Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp (2026) 

 

Số liệu ở Bảng số 5 cho thấy mô hình giải thích được 31,4% sự biến thiên của biến Thái độ (AT) và 30,4% sự biến thiên của Ý định lựa chọn điểm đến (DCI). Động lực kéo (PM) là yếu tố tác động mạnh mẽ nhất đến cả thái độ (β = 0,357) và ý định lựa chọn (β = 0,310). Bên cạnh đó, động lực đẩy (PU) cũng có tác động tích cực đến thái độ (β = 0,228) và ý định (β = 0,144). Hình ảnh điểm đến (DI) tác động tích cực đến ý thái độ (AT) với β = 0,259 và P-value = 0,000. Thái độ (AT) tác động tích cực đến ý định lựa chọn (DCI) với β = 0,223 và P-value = 0,000. Qua đó, chấp nhận các giả thuyết H1a, H1b, H2a, H2b, H3a và H5b. Ngược lại, chủ chuẩn quan (SN) không tác động đáng kể đến ý định (DCI) với P-value = 0,355. Song song đó, nghiên cứu cũng phát hiện ra không có mối liên hệ trực tiếp ý nghĩa giữa hình ảnh điểm đến (DI) và ý định lựa chọn (DCI) với P-value = 0,096. Qua đó, bác bỏ giả thuyết H4 và H5a. Trong khi đó, thái độ (AT) đóng vai trò trung gian toàn phần giữa hình ảnh điểm đến và ý định lựa chọn (β = 0,058 và P-value = 0,003). Vì vậy, giả thuyết H3b cũng được chấp nhận.

* Khả năng dự báo của mô hình

Bảng 6. Chỉ số dự báo của mô hình

Q²predict

PLS-SEM_MAE

LM_MAE

AT1

0,240

0,978

1,005

AT2

0,167

0,882

0,909

AT3

0,193

0,882

0,923

AT4

0,223

0,917

0,962

DCI1

0,211

0,971

1,013

DCI2

0,159

0,963

0,984

DCI3

0,122

1,044

1,084

DCI4

0,199

0,796

0,843

Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp (2026)

Kết quả Bảng 6 cho thấy tất cả các biến quan sát đều có chỉ số Qpredict2 > 0 và sai số PLS-SEM_MAE nhỏ hơn LM_MAE, khẳng định có khả năng dự báo tốt ngoài mẫu.

b) Thảo luận

Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy động lực đẩy (PU) và động lực kéo (PM) đều có tác động tích cực đến thái độ (AT) và ý định lựa chọn (DCI). Phát hiện này cũng củng cố lý thuyết về động lực kinh điển của Dan (1977) và Crompton (1979) về vai trò song hành của nhu cầu bên trong của du khách và sức hút bên ngoài của điểm đến. Tuy nhiên, một điều đáng lưu ý là động lực kéo (PM) tác động mạnh mẽ đến cả thái độ và ý định so với động lực đẩy. Điều này tương đồng với các nghiên cứu chuyên biệt về LGBTQ+ của Hattingh & Spencer (2017) và Alguero-Boronat et al. (2024b), nhấn mạnh rằng đối với cộng đồng LGBTQ+, các thuộc tính an toàn và thân thiện tại điểm đến là những yếu tố quan trọng dẫn dắt đến sự lựa chọn. Trong khi Carvalho (2022) hay Ayoub & Mohamed (2024) phát hiện ra động lực đẩy như thoát ly áp lực hằng ngày là động lực chính đối với nhóm du khách đại trà thì nghiên cứu này chỉ ra du khách LGBTQ+ tại Việt Nam bị thu hút mạnh mẽ bởi sự bao dung và sự hiện diện của văn hóa LGBTQ+ địa phương.  Từ góc độ quyền con người, kết quả này cho thấy sức hấp dẫn của điểm đến đối với du khách LGBTQ+ gắn chặt với cảm nhận về an toàn, bao dung và khả năng thể hiện bản dạng mà không bị kỳ thị hay phân biệt đối xử; do đó, tính thân thiện với LGBTQ+ không chỉ là một lợi thế thị trường mà còn phản ánh chất lượng của môi trường xã hội tại điểm đến.

Một phát hiện quan trọng và gây ngạc nhiên nhất trong nghiên cứu này là bác bỏ giả thuyết chuẩn chủ quan tác động lên ý định lựa chọn. Kết quả này hoàn toàn đối lập với các nghiên cứu trước đây ở đối tượng du lịch phổ thông tại Việt Nam như Tran et al. (2021), Bui (2024), và Liang & Nguyen (2024), vốn khẳng định ý kiến từ gia đình và bạn bè ảnh hưởng đến việc hình thành ý định. Sự khác biệt này phản ánh tâm lý đặc thù của cộng đồng LGBTQ+ tại Việt Nam. Kết quả cho thấy trong mẫu nghiên cứu này, ảnh hưởng của nhóm tham chiếu xã hội không có ý nghĩa thống kê đối với ý định lựa chọn điểm đến. Phát hiện này gợi ý rằng quyết định du lịch của người tham gia có thể mang tính tự chủ tương đối cao hơn so với dự kiến của mô hình, song cần thận trọng khi khái quát cho toàn bộ cộng đồng LGBTQ+. Kết quả này cũng có thể được diễn giải từ góc độ quyền con người như một biểu hiện đáng chú ý của tính tự chủ cá nhân trong việc lựa chọn trải nghiệm và không gian du lịch phù hợp với bản dạng của mình.

Nghiên cứu xác nhận hình ảnh điểm đến (DI) tác động tích cực đến thái độ (AT), nhưng không tác động trực tiếp đến ý định lựa chọn mà thông qua thái độ để tác động đến ý định. Kết quả này trái ngược với nghiên cứu của Nazir et al. (2021) hay Loi et al. (2024), vốn tìm thấy mối quan hệ trực tiếp giữa hình ảnh và ý định. Tuy nhiên, nó lại ủng hộ mạnh mẽ quan điểm của Pratiwi et al. (2022) rằng nhận thức về hình ảnh điểm đến cần phải được chuyển hóa thành cảm xúc yêu thích và đánh giá tích cực (AT) trước khi hình thành ý định viếng thăm cụ thể. Đối với du khách LGBTQ+, một hình ảnh đẹp và nổi tiếng là chưa đủ mà họ cần sự cảm nhận về tính an toàn và bao dung của hình ảnh đó trước khi thực hiện mong muốn viếng thăm.  Điều này hàm ý rằng danh tiếng “thân thiện” chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành cảm nhận thực tế về an toàn, tôn trọng và không phân biệt đối xử.

Cuối cùng, thái độ (AT) là biến trực tiếp tác động lên ý định (DCI). Kết quả này hoàn toàn thống nhất với cốt lõi của thuyết hành vi dự định (TPB) của Ajzen (1991) và các nghiên cứu của Bui (2023a), Liang & Nguyen (2024). Điều này khẳng định niềm tin vào một điểm đến an toàn, thân thiện và bao dung là chìa khóa để thu hút phân khúc “du lịch hồng” tại Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Kết luận và hàm ý

a) Kết luận

Nghiên cứu đã giải mã thành công cơ chế tâm lý hình thành ý định lựa chọn điểm đến của du khách LGBTQ+ tại Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả khẳng định sự an toàn, bao dung và hiện diện của văn hóa LGBTQ+ địa phương là những nhân tố thúc đẩy mạnh mẽ nhất đối với cả thái độ và ý định lựa chọn điểm đến, vượt qua cả nhu cầu thoát ly nội tại. Một phát hiện đáng chú ý là chuẩn chủ quan không có tác động có ý nghĩa thống kê đến ý định lựa chọn điểm đến, cho thấy mức độ tự chủ tương đối trong quyết định của những người tham gia nghiên cứu. Ngoài ra, nghiên cứu còn xác nhận thái độ đóng vai trò trung gian toàn phần, chuyển hóa nhận thức từ hình ảnh điểm đến thành ý định thực tế. Một  hình ảnh đẹp chưa đủ sức hút nếu không có sự kết nối về mặt cảm xúc và an toàn bản sắc.  Từ góc độ quyền con người, các kết quả cho thấy lựa chọn điểm đến của du khách LGBTQ+ không chỉ gắn với tiện ích du lịch mà còn với cảm nhận về an toàn, sự tôn trọng bản dạng, tính bao trùm và không phân biệt đối xử. Điều này cho thấy môi trường du lịch tôn trọng quyền có thể trở thành một thành tố quan trọng của hình ảnh điểm đến.

b) Hàm ý chính sách và quản trị

Các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, chính quyền địa phương, nhà quản lý điểm đến và doanh nghiệp du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh cần ưu tiên xây dựng môi trường thân thiện với LGBTQ+, tôn trọng nhân phẩm và bình đẳng, đào tạo nhân viên về tính đa dạng và công khai cam kết chống phân biệt đối xử. Những biện pháp này vừa là động lực kéo quan trọng đối với nhóm du khách LGBTQ+ vừa góp phần hình thành môi trường du lịch tôn trọng quyền con người.

Do ảnh hưởng của nhóm tham chiếu xã hội không có ý nghĩa thống kê trong mẫu nghiên cứu này, hoạt động truyền thông có thể chú trọng hơn đến thông điệp về an toàn, tôn trọng sự đa dạng, chất lượng trải nghiệm và quyền lựa chọn của du khách, thay vì phụ thuộc chủ yếu vào tác động của các nhóm tham chiếu xã hội.

Với đặc điểm mẫu là nhóm khách hàng trẻ, có trình độ học vấn cao và thu nhập ổn định, các doanh nghiệp nên thiết kế các sản phẩm linh hoạt, giàu trải nghiệm văn hóa LGBTQ+ địa phương và phù hợp với nhu cầu đa dạng của nhóm du khách này.

Hình ảnh điểm đến cũng cần được khắc họa gắn liền với sự tôn trọng bản dạng giới và xu hướng tính dục. Việc tạo ra các không gian nơi du khách có thể thể hiện bản dạng, cách ăn mặc và cử chỉ một cách tự nhiên mà không bị kỳ thị hay soi xét sẽ góp phần chuyển hóa nhận thức tích cực về điểm đến thành thái độ yêu thích và ý định viếng thăm.

c) Hạn chế và hướng nghiên cứu tương lai

Mẫu nghiên cứu có sự áp đảo của nam giới đồng tính (70,2%) và phần lớn đối tượng tham gia nghiên cứu là thế hệ trẻ từ 25-34 tuổi (51%). Các nhóm như nữ đồng tính, người chuyển giới và người song tính có tỷ lệ tham gia thấp hơn, làm hạn chế tính khái quát hóa cho toàn bộ cộng đồng LGBTQ+ của nghiên cứu. Vì vậy, các nghiên cứu sau nên tập trung vào các nhóm này.

Nghiên cứu chỉ thực hiện tại Thành phố Hồ Chí Minh, một địa bàn đô thị có những đặc điểm kinh tế - xã hội và văn hóa riêng; vì vậy kết quả chưa thể khái quát cho các địa bàn có điều kiện và bối cảnh xã hội – văn hóa khác. Do đó, nghiên cứu tương lai nên so sánh đối chiếu giữa các thành phố lớn như Hà Nội, Đà Nẵng và các nước khu vực Đông Nam Á.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Aggarwal, A., & Hajra, V. (2023). Senior citizen tourists’ push and pull motivations: an approach–avoidance perspective. Tourism Review, 80(10), 1717–1722. https://doi.org/10.1108/tr-07-2023-0482.

Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50(2), 179–211. https://doi.org/10.1016/0749-5978(91)90020-T.

Algueró Boronat, M., Rodríguez Artola, R. M., & Moliner Tena, M. Á. (2024a). Queer-friendly tourist destinations: how are they perceived by the LGBTIQ+ communities? Current Issues in Tourism, 1–19. https://doi.org/10.1080/13683500.2024.2378137.

Alguero-Boronat, M., Moliner-Tena, M. A., & Rodríguez-Artola, R. M. (2024b). LGBTIQ+ tourist motivations and memorable destination experience: The moderating effect of gender identity and sexual orientation. Journal of Vacation Marketing, 1–20. https://doi.org/10.1177/13567667241268696.

Ayoub, D., & Mohamed, D. N. H. S. (2024). The impact of push-pull motives on internal tourists’ visit and revisit intentions to Egyptian domestic destinations: the mediating role of country image. Humanities & Social Sciences Communications. Available at: https://doi.org/10.1057/s41599-024-02835-7.

Bouarar, A. C., Mouloudj, K., Čaušević, A., & Mouloudj, S. (2025). Investigating intentions to visit Sarajevo City: Expanding the theory of planned behavior. Tourism and Hospitality Management, 31(3). https://doi.org/10.20867/thm.31.3.4.

Bui, B. (2024). Examining a new model of destination choice behavior: an empirical study from Vietnam. Tourism and Hospitality Management, 30(4), 501–514. https://doi.org/10.20867/thm.30.4.4.

Bui, T. T. B. (2023a). Applying the extended theory of planned behavior to understand domestic tourists’ behaviors in post-COVID-19 era, Cogent Social Sciences, 9:1, 2166450, DOI: 10.1080/23311886.2023.2166450.

Carvalho, M. A. (2022). Domestic and European leisure travel intentions: assessing the role of push motivations, destination safety, travel risk, safety concerns, and social risk. European Journal of Tourism Research, 32(3214), 3214. https://doi.org/10.54055/ejtr.v32i.2535.

Duong, L. N., Pham, L. H., & Hoang, T. T. P. (2023). Applying push and pull theory to determine domestic visitors’ tourism motivations. Journal of Tourism and Services, 14(27), 136-160. https://doi.org/10.29036/jots.v14i27.554.

Fishbein, M., & Ajzen, I. (1975). Belief, attitude, intention and behavior: An introduction to theory and research. Addison-Wesley.

Ha, N. T. V. (2024). Destination characteristics influence domestic tourists' decision to choose a destination: Empirical study in Phu Yen, Vietnam. Journal of Tourism Management Research, 11(1), 111-122. https://doi.org/10.18488/31.v11i1.3781.

Hair, J. F., Hult, G. T. M., Ringle, C. M., Sarstedt, M., Danks, N. P., & Ray, S. (2021). Partial least squares structural equation modeling (PLS-SEM) using R: a workbook. Springer.

Hair, J., Jr, Hult, G. T. M., Ringle, C. M., & Sarstedt, M. (2022). A Primer on Partial Least Squares Structural Equation Modeling (PLS-SEM). 3rd Edition, SAGE Publications, Inc.

Hattingh, C., & Spencer, J. P. (2017). Salient factors influencing gay travellers’ holiday motivations: a push-pull approach. African Journal of Hospitality, Tourism and Leisure, 6(4), 1–25. http://www.ajhtl.com.

Hattingh, C., & Spencer, J. P. (2018). Homosexual not Homogeneous: A Motivation-Based Typology of Gay Leisure Travelers Holidaying in Cape Town, South Africa. Journal of Homosexuality. https://doi.org/10.1080/00918369.2018.1555393.

Hendijani, R. B. (2023). Gay domestic tourists’ motivation: The case of Bali. Tourism & Management Studies, 19 (2), 39-49. https://doi.org/10.18089/tms.2023.190203.

Henseler, J., Ringle, C. M., & Sarstedt, M. (2015). A new criterion for assessing discriminant validity in variance-based structural equation modeling. Journal of the Academy of Marketing Science, 43(1), 115–135. DOI 10.1007/s11747-014-0403-8.

Hoang, L., Nguyen, N. T. T., Duong, H. H., & Tran, B. T. (2025). Cultural contact and future behavioral intention: A case study of foreign tourists visiting cultural and historical sites in Vietnam. International journal of innovative research and scientific studies, 8 (6). https://doi.org/10.53894/ijirss.v8i6.10123.

Hu, A., Li, H., Pang, J., & Zhang, H. (2023). A Study on the Intention of Shanghai Residents to Travel Abroad in the Post-Pandemic Era Based on the Theory of Planned Behavior. Sustainability, 15(15), 12050. https://doi.org/10.3390/su151512050.

Hu, L. T., & Bentler, P. M. (1999). Cutoff criteria for fit indexes in covariance structure analysis: Conventional criteria versus new alternatives. Structural equation modeling: a multidisciplinary journal, 6(1), 1-55. https://doi.org/10.1080/10705519909540118.

Jalilvand, M. R., & Samiei, N. (2012). The impact of electronic word of mouth on a tourism destination choice: Testing the theory of planned behavior (TPB). Internet Research, 22(5), 591-612.https://doi.org/10.1108/10662241211271563.

Kim, J.-J., Lee, B.-C., & Byun, H.-J. (2022). In the COVID-19 Era, When and Where Will You Travel Abroad? Prediction through Application of PPM Model. Sustainability, 14(18), 11485. https://doi.org/10.3390/su141811485.

Kyriakaki, A., Stavrinoudis, T., & Daskalopoulou, G. (2020). Investigating the Key Factors Influencing the International Tourists’ Decision-Making on Choosing a Destination. In V. Katsoni & T. Spyriadis (Eds.), Cultural and Tourism Innovation in the Digital Era (pp. 335–352). Springer Proceedings in Business and Economics. Springer Nature Switzerland AG. https://doi.org/10.1007/978-3-030-36342-0_27.

Lai, I. K. W., Wong, J. W. C., & Hitchcock, M. (2022). A study of how LGBTQ tourists’ perceptions of residents’ feelings about them affect their revisit intentions: an emotional solidarity perspective. Journal of Sustainable Tourism, 30(8).https://doi.org/10.1080/09669582.2022.2130339.

Le, T.D., Le, T.A., Nguyen, P.H., Ho, Y.T.P., & Le, B.H.P. (2023). Factors affecting the decision of selecting a destination for international tourists at the Hoi An world cultural heritage site. GeoJournal of Tourism and Geosites, 51(4spl), 1663–1675. https://doi.org/10.30892/gtg.514spl08-1163.

Lewis, C., Prayag, G., & Pour, S. (2021). Linking travel motives to identity and travel behavior of the Australian LGBT market during COVID-19. Journal of Travel & Tourism Marketing, 38(7), 725–741. https://doi.org/10.1080/10548408.2021.1985039.

Liang, C.-C., & Nguyen, T. D. (2024). Integrating Pandemic Awareness with the Theory of Planned Behavior: A Travel Intention Study. Journal of Quality Assurance in Hospitality & Tourism. https://doi.org/10.1080/1528008X.2024.2386587.

Liu, Y., Shi, H., Li, Y., & Amin, A. (2021). Factors influencing Chinese residents’ post-pandemic outbound travel intentions: An extended theory of planned behavior model based on the perception of COVID-19. Tourism Review, 76(4), 871-891. https://doi.org/10.1108/TR-09-2020-0458.

Loi, N. A., Nguyen, Q. N., & Nguyễn, T. L. H. (2024). The Impact of Decision-Shaping Factors and the Moderating Role of Perceived Risk on International Tourists' Destination Choice: The Case of the Mekong Delta, Vietnam. Geojournal of Tourism and Geosites, 57(4 supplement), 1964–1973.https://doi.org/10.30892/gtg.574spl10-1363.

Madinga, N. W., Marle, V. E., & Amoah, F. (2025a). LGBT tourism: a systematic literature review and research agenda. Tourism Critiques: Practice and Theory, 6(2), 225–246. https://doi.org/10.1108/trc-09-2024-0050.

Madinga, N. W., Marle, V. E., & Amoah, F. (2025b). The Influence of Perceived Sacrifices on Behavioral Intentions in The LGBT Tourism Sector. SAGE Open, 15(1), 1–13. https://doi.org/10.1177/21582440241310654.

Mehrabian, A., & Russell, J. A. (1974). An approach to environmental psychology. Cambridge, MA: MIT Press.

Monaco, S. (2022). LGBT tourist decision-making and behaviours. A study of Millennial Italian tourists. International Journal of Sociology and Social Policy, 42(13/14), 81–97. https://doi.org/10.1108/IJSSP-05-2022-0112.

Monaco, S., Cataldo, R., & Corbisiero, F. (2025). Travel behavior of Italian gay and lesbian tourists: destination selection, safety considerations, and preferences. Journal of Tourism and Cultural Change, 1–15. https://doi.org/10.1080/14766825.2025.2460735.

Muñoz, K. E., Chen, L.-H., & Pham Thi, P. T. (2024). Do residents support LGBTIQ+ tourism development? Insights from Ho Chi Minh, Vietnam. Tourism and Hospitality Research, 0(0), 1–9.https://doi.org/10.1177/14673584241298771.

Najar, P. A. (2025). Tourism Risks and Tourist Intentions at a Destination in Conflict. Polish Journal of Sport and Tourism, 32(2), 48–56. DOI: 10.2478/pjst-2025-0013.

Nazir, M. U., Yasin, I., & Tat, H. H. (2021). Destination image's mediating role between perceived risks, perceived constraints, and behavioral intention. Heliyon, e07613. https://doi.org/10.1016/j.heliyon.2021.e07613.

Nguyen, T. T., Phan, Q. A., & Ha, K. O. (2023). Recreation matters: An exploratory analysis of domestic LGBT tourism in Vietnam. Humanities, Arts and Social Sciences Studies, 23(3), 491–503. https://doi.org/10.14456/hasss.2023.42

Nguyen, X. H., Nguyen, T. C. L., Khuu, M. D., & Nguyen, V. P. (2024). Factors Affecting Tourist Destination Choice: The Case of Destinations in Ho Chi Minh City, Vietnam. International Journal of Religion, 5(9), 843–855. https://doi.org/10.61707/jdw35227.

Pratiwi, I. C., Novani, S., & Suryana, L. A. (2022). Tourists’ Intentions During COVID-19: Push and Pull Factors in Extended Theory of Planned Behaviour. Pertanika J. Soc. Sci. & Hum., 30(2), 699–721. https://doi.org/10.47836/pjssh.30.2.15.

Qiu, L., Li, X., & Bavik, A. (2025). Gender and sexuality diversity in tourism: A systematic review of LGBT+ tourism literature. International Journal of Tourism Research. Advance online publication. https://doi.org/10.1002/jtr.70110.

Ram, Y., Kama, A., Mizrachi, I., & Hall, C. M. (2019). The benefits of an LGBT-inclusive tourist destination. Journal of destination marketing & management, 14, 100374. https://doi.org/10.1016/j.jdmm.2019.100374.

Randrianirina, L. J., Yuliana, F., S., & Hermansyah. (2025). Destination Image, Tourist Intention, Motivation, and Constraints: An Analysis of their Influence on Visit Decision to Mentawai Islands. Salud, Ciencia y Tecnología, 5, 2353. https://doi.org/10.56294/saludcyt20252353.

Ro, H., & Khan, M. (2022). The impact of LGBT friendliness on sexual minority customers’ perceptions and intentions to stay. International Journal of Hospitality Management, 102. https://doi.org/10.1016/j.ijhm.2022.103181.

Salazar Duque, D., & Osorio Espín, M. A. (2024). The influence of personality and desires on motivation for selecting tourist destinations. Mercados y Negocios, 25(53), 51-80. https://doi.org/10.32870/myn.vi53.7747.

Saravi, N. (2022). A study of the LGBTQ community’s perspective regarding Finland as a tourist destination (Master's thesis, Itä-Suomen yliopisto).

Tham, H. T., Trang, B. T. Q., Phuong, V. T. H., & Huong, K. T. (2024). Factors affecting the millennial generation’s intention to choose spiritual tourism in Vietnam: The mediating role of attitude and motivation. GeoJournal of Tourism and Geosites, 54(2 supplement), 860–871. https://doi.org/10.30892/gtg.542spl10-1261.

Tran, T. P., Phan, T. Nghia, & Nguyen, H. Thinh. (2021). Critical Factors Affecting Selection of Travel Destinations: A Case Study in Vietnam. Journal of Asian Finance, Economics and Business, Vol 8(No 9), 0341–0349. https://doi.org/10.13106/JAFEB.2021.VOL8.NO9.034.

Uysal, M., & Jurowski, C. (1994). Testing the push and pull factors. Annals of Tourism Research, 21(4), 844–846. https://doi.org/10.1016/0160-7383(94)90091-4.

Wong, A. K. F., Vongvisitsin, T. B., & Alegre, B. R. (2025). Medical tourism for gender identity affirmation: Transgender perspectives. International Journal of Tourism Research. https://doi.org/10.1002/jtr.2805.

Wong, J. W. C., & Lai, I. K. W. (2024). Same-sex romantic cruise experiences: the moderating effect of the personal openness trait. Leisure Studies. https://doi.org/10.1080/02614367.2024.2302358.

WTTC. (2021). LGBTQ+ Travel. World Travel & Tourism Council.

Yuan, S., & McDonald, C. (1990). Motivational Determinants of International Pleasure Time. Journal of Travel Research, 29(1), 42–44. https://doi.org/10.1177/004728759002900109.