ThS. Nguyễn Ngọc Ánh
Khoa Đào tạo bồi dưỡng công chức, viên chức Toà án, Học viện Toà án
Nguyễn Mạnh Cường
Sinh viên Học viện Toà án
Bài viết được đăng trên Tạp chí Pháp luật về quyền con người số 53 (4/2026)
Tóm tắt: Cách mạng - công nghiệp 4.0 với đặc điểm “Internet kết nối vạn vật” đã và đang đặt ra yêu cầu mới đối với các lĩnh vực trong cuộc sống nói chung và trong các tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra nói riêng đối với tất cả các quốc gia trên thế giới. Sự xuất hiện của các tác phẩm được tạo ra bởi AI- đã đặt ra thách thức mới đối với pháp luật quyền tác giả tại Việt Nam. Bài viết phân tích thực trạng quy định về quyền tác giả đối với tác phẩm do AI tạo ra, chỉ ra những hạn chế và đề xuất các định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng công nhận vai trò của con người trong quá trình thiết kế, vận hành hoặc kiểm soát AI, nhằm xây dựng cơ chế bảo hộ quyền tác giả linh hoạt, minh bạch và phù hợp với xu thế quốc tế.
Từ khóa: Quyền tác giả; tác phẩm; trí tuệ nhân tạo (AI).
Abstract: The Fourth Industrial Revolution, characterized by the "Internet of Things," has placed new demands on all aspects of life in general and on works created by artificial intelligence (AI) in particular, for all countries worldwide. The emergence of AI-generated works has posed new challenges to copyright law in Vietnam. This article analyzes the current state of copyright regulations for AI-generated works, out identifies its existing limitations, and proposes directions for legal reform. In particular, the article emphasizes the recognition of the role of humans in the design, operation, or control of AI, with the aim of establishing a flexible, transparent, and internationally oriented copyright protection mechanism.
Keywords: Copyright; works; artificial intelligence (AI).

Ảnh minh họa. Nguồn: baochinhphu.vn
Đặt vấn đề
Sự ra đời của Nghị quyết số 66 NQ/TW ngày 30/4/2025 của Ban Chấp hành Trung ương đặt ra yêu cầu mạnh mẽ về bảo đảm hiệu quả thi hành pháp luật nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và trong các lĩnh vực dân sinh quan trọng khác. Trong đó, vấn đề quyền tác giả đối với các tác phẩm do trí tuệ nhân tạo - tạo ra ngày càng trở thành một yêu cầu cấp bách trong thực tiễn hoàn thiện và bảo đảm hiệu quả thực thi pháp luật.
Trí tuệ nhân tạo đang trở thành công cụ tiên phong trong nhiều lĩnh vực, mang lại lợi ích to lớn cho đời sống và sản xuất. Nếu trước đây sáng tạo nghệ thuật, văn học, âm nhạc hay các sản phẩm truyền thống đều gắn chặt với chủ thể là con người, thì hiện nay, với khả năng tự học hỏi và mô phỏng tư duy sáng tạo, AI có thể tạo ra những tác phẩm có giá trị thẩm mỹ và kinh tế tương đương, thậm chí vượt trội so với tác phẩm của con người. Tuy nhiên, việc AI tham gia sáng tạo tác phẩm đặt ra thách thức lớn đối với pháp luật quyền tác giả, vốn dựa trên giả định “tác giả” phải là con người. Khi tác phẩm do AI tạo ra, câu hỏi về chủ thể được bảo hộ cũng như quyền và nghĩa vụ của nhà phát triển, người sử dụng và tổ chức sở hữu dữ liệu trở nên cấp thiết. Bối cảnh này đòi hỏi pháp luật phải có cơ chế điều chỉnh phù hợp, vừa khuyến khích sáng tạo, vừa bảo vệ quyền lợi hợp pháp và lợi ích công cộng.
Tại Việt Nam, khi xuất hiện các tác phẩm do AI tạo ra, việc xác định ai là tác giả, ai là chủ sở hữu quyền tài sản, phạm vi bảo hộ và cơ chế xử lý tranh chấp trở nên phức tạp. Khoảng trống pháp lý này có thể dẫn đến xung đột lợi ích giữa các chủ thể tham gia vào quá trình thiết kế, vận hành và sử dụng AI. Trong bối cảnh đó, việc hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm quyền tác giả đối với các tác phẩm do AI tạo ra không chỉ là yêu cầu của thực tiễn mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc cân bằng giữa bảo hộ thành quả sáng tạo với quyền tiếp cận tri thức của xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá và đề xuất các định hướng hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này là cần thiết, góp phần xây dựng một khuôn khổ pháp lý minh bạch, linh hoạt và phù hợp với xu thế phát triển công nghệ cũng như các chuẩn mực quốc tế.
1. Một số vấn đề lý luận của quyền tác giả đối với các tác phẩm do trí tuệ nhân tạo tạo ra
a) Khái quát về quyền tác giả
Khái niệm về quyền tác giả
Lịch sử phát triển của loài người cho thấy, từ xa xưa, thời kỳ Cổ đại và Thời kỳ Trung cổ chưa biết đến quyền tác giả. Trong các thời kỳ đó, một cuốn sách có thể bị sao chép. Tác phẩm có thể bị người khác lấy, sửa đổi. Nhiều người có thể cùng làm việc trong một đề tài nào đó mà không bị, không có sự ngăn cản nào từ phía pháp luật. Thời điểm đó, khi không muốn tác phẩm của mình bị thay đổi có tác giả đã gắn một lời nguyền rủa vào cuốn sách của mình. Nguyền rủa những người giả mạo tác phẩm sẽ bị chết (Trung tâm quyền tác giả Việt Nam, 2020). Trải qua một thời gian dài với rất nhiều những sự thay đổi và biến động, năm 1440 sáng chế về máy in ra đời, tạo khả năng sao chép tác phẩm số lượng lớn. Từ đó, lịch sử của quyền tác giả đã phát triển sang một bước mới và thừa nhận các “đặc quyền” liên quan đến việc in ấn, sao chép, nhân bản, phân phối các bản sao tác phẩm. Thời kỳ này, tác phẩm tinh thần vẫn chưa được nhìn nhận và bảo vệ một cách độc lập vì đặc quyền cho tác giả gắn liền với điều kiện tác phẩm phải được in. Tuy nhiên, các đặc quyền in ấn có tính chất giống với quyền sở hữu, đã đặt nền móng cho việc bảo hộ quyền tác giả (Vũ Thị Hải Yến, 2024, tr.37).
Đến giữa thế kỉ XVI, sự phát triển mạnh mẽ của phong trào Phục Hưng, các quyền tự do của con người dần dần trở nên quan trọng, vì thế “đặc quyền tác giả” được chính quyền một số khu vực ban phát để thưởng cho những người sáng tạo. Đến đầu thế kỷ XVIII, Luật Bản quyền hoàn chỉnh ở Anh đã ra đời – lần đầu tiên đạo luật ghi nhận quyền “độc quyền sao chép của tác giả” (Trần Văn Nam, 2014, tr.12). Như vậy, quyền tác giả đã được hình thành dựa trên ý niệm về quyền sở hữu, ban đầu là quyền sở hữu với vật thể chứa đựng tác phẩm, sau đó quyền của chủ thể sáng tạo mới được ghi nhận một cách độc lập với quyền sở hữu vật chất hữu hình chứa đựng tác phẩm.
Tại Việt Nam, thuật ngữ “Quyền tác giả” lần đầu tiên được giải thích tại Điều 2 Pháp lệnh Bảo hộ quyền tác giả năm 1994 là “các quyền về tinh thần và vật chất của tác giả”. Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung) (Quốc hội, 2005, 2009, 2019, 2022) đưa ra định nghĩa về quyền tác giả như sau: “Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu”. Trong đó, đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa. Như vậy, chủ thể sở hữu quyền tác giả hiện tại đề cập đến quyền của hai nhóm chủ thể: (i) tác giả có quyền tác giả với tác phẩm do chính mình tạo ra và (ii) chủ sở hữu có quyền tác giả đối với tác phẩm thuộc quyền sở hữu của mình. Cả hai nhóm chủ thể được hiểu là cá nhân hoặc tổ chức, trong đó yếu tố sáng tạo gắn với con người.
Điều kiện một tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả
Nội dung của quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản (theo Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung)) hay quyền tinh thần và quyền kinh tế (theo công ước Berne năm 1886). Quyền nhân thân mang tính chất cá nhân, gắn liền vĩnh viễn với tác giả, không được chuyển nhượng trừ một số trường hợp ngoại lệ, được quy định tại Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ. Quyền tài sản được quy định tại Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ. Quyền tác giả có các đặc điểm sau:
(i) Bảo hộ hình thức thể hiện tác phẩm mà không phụ thuộc vào nội dung. Pháp luật sở hữu trí chỉ bảo hộ hình thức chứa đựng tác phẩm đó mà không phụ thuộc vào giá trị nội dung hay giá trị nghệ thuật của tác phẩm. Do đó, các ý tưởng sáng tạo của tác giả nhưng chưa thể hiện ra bằng một hình thức cụ thể thì cũng không được bảo hộ quyền tác giả theo pháp luật SHTT.
(ii) Quyền tác giả được bảo hộ tự động. Công ước Berne năm 1886 ghi nhận tại khoản 2 Điều 5 quy định như sau: “Việc hưởng và thực hiện các quyền này không lệ thuộc vào một thể thức, thủ tục nào; việc hưởng và thực hiện này hoàn toàn độc lập không tùy thuộc vào việc tác phẩm có được bảo hộ hay không ở quốc gia gốc của tác phẩm. Do đó, ngoài những quy định của Công ước này, mức độ bảo hộ cũng như các biện pháp khiếu nại dành cho tác giả trong việc bảo hộ quyền của mình sẽ hoàn toàn do quy định của Luật pháp của nước công bố bảo hộ tác phẩm đó”. Như vậy, tác giả sáng tạo ra tác phẩm thì ngay tại thời điểm tác phẩm hoàn thành thì quyền tác giả được tự động xác lập, không phụ thuộc vào một thủ tục xem xét, cấp văn bằng bảo hộ. Việc đăng ký bảo hộ quyền tác giả chỉ có giá trị là chứng cứ chứng minh khi tranh chấp xảy ra, chứ không phải là căn cứ để xác lập quyền tác giả.
(iii) Quyền tác giả không được bảo hộ một cách tuyệt đối. Quyền tác giả có giới hạn trong việc bảo hộ. Đối với các tác phẩm đã được công bố, cá nhân, tổ chức được phép sử dụng, khai thác sản phẩm mà không xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả.
Bảo hộ quyền tác giả là việc Nhà nước công nhận quyền của tác giả, đồng tác giả đối với tác phẩm, xác lập hệ thống các quy định và bảo vệ các quyền cụ thể của tác giả, đồng tác giả đối với tác phẩm, tạo điều kiện để tác giả đồng tác giả thụ hưởng các lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần từ tác phẩm. Điều kiện bảo hộ quyền tác giả được tuân thủ theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ bao gồm: điều kiện về chủ thể phải là tác giả, đồng tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả có tác phẩm được bảo hộ; điều kiện về loại hình tác phẩm được bảo hộ; không thuộc các đối tượng không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả. Các điều kiện này được ghi nhận tại Điều 13, Điều 14 và Điều 15 Luật Sở hữu trí tuệ.
b) Tác phẩm do trí tuệ nhân tạo tạo ra
Khái niệm về trí tuệ nhân tạo
Ngày nay, Trí tuệ nhân tạo đang góp phần thay đổi sâu sắc nhiều khía cạnh của cuộc sống, dần trở thành một yếu tố quan trọng trong hoạt động muôn màu muôn vẻ của nhân loại. Nhiều bức tranh về tương lai xán lạn do Trí tuệ nhân tạo mang tới cho loài người đã được khắc họa. Riêng về mặt kinh tế, một nghiên cứu của PwC (PwC: PricewaterhouseCoopers: Công ty kiểm toán hàng đầu thế giới) cho thấy Trí tuệ nhân tạo trở thành cơ hội thương mại lớn nhất ngày nay trong nền kinh tế toàn cầu đang thay đổi nhanh chóng với phần đóng góp của Trí tuệ nhân tạo lên tới 15.700 tỷ đô-la Mỹ vào năm 2030. Đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về trí tuệ nhân tạo, nhưng có khá nhiều định nghĩa tạm thời tuỳ theo cách tiếp cận khác nhau. Theo Russell và Norvig (2010), “AI được định nghĩa là máy tính hoặc máy móc tìm cách hành động hợp lý, suy nghĩ hợp lý, hành động như con người hoặc suy nghĩ như con người” (Stuart J.Russell and Peter Norvig, 2010).
Như vậy từ quan điểm nêu trên, tác giả đưa ra khái niệm về trí tuệ nhân tạo như sau: Trí tuệ nhân tạo là một lĩnh vực của khoa học máy tính nhằm tạo ra những hệ thống có khả năng tư duy, học hỏi và xử lý thông tin giống như con người. Nó cho phép máy có thể học hỏi từ dữ liệu, suy nghĩ và đưa ra quyết định. Có thể hiểu một cách ngắn gọn, AI chính là “trí thông minh do con người tạo ra” để giúp máy móc hoạt động một cách thông minh và hiệu quả hơn.
Khái quát về tác phẩm do trí tuệ nhân tạo tạo ra
Tác phẩm được định nghĩa là sản phẩm sáng tạo từ trí tuệ của tác giả. Hiện nay, pháp luật về sở hữu trí tuệ của nhiều quốc gia (trong đó có Việt Nam) mới chỉ chứng nhận tác giả là cá nhân (con người tự nhiên) (Quốc hội, 2005, khoản 1, Điều 13), chứ chưa ghi nhận máy móc hay con vật có trí tuệ để được coi là tác giả. Ứng dụng công nghệ để sáng tạo nội dung trong báo chí truyền thông là xu hướng tất yếu. Các ứng dụng công nghệ AI có khả năng tự tạo ra nội dung dựa trên yêu cầu đầu vào, được lập trình để tự học dựa vào dữ liệu và tương tác với con người nên càng nhiều người sử dụng ứng dụng công nghệ AI càng khiến cho các AI này ngày càng thông minh, tự hoàn thiện, và rất khó để phân biệt giữa kết quả được tạo bởi các AI này với kết quả được tạo bởi con người. Điều này thúc đẩy người dùng nâng cao khả năng tiếp cận các ứng dụng công nghệ AI này, cũng như có các kỹ năng đặt câu hỏi, tìm kiếm thông tin, kỹ năng phân tích và đánh giá thông tin đối với các nội dung được tạo ra. Năm 2016, một dự án hợp tác giữa Microsoft và Bảo tàng Rembrandt đã công bố một tác phẩm là bức chân dung 3D có tên “The Next Rembrandt” do máy tính tạo ra dựa trên thuật toán nhận dạng khuôn mặt bằng việc quét dữ liệu từ 346 bức tranh được biết đến của họa sĩ người Hà Lan Rembrandt thế kỷ XVII (Nguyễn Ngọc Hồng Dương, 2022). Như vậy, chúng ta thấy rằng, AI đang phát triển và đưa ra những tác phẩm có giá trị về nội dung lẫn nghệ thuật. Tuy nhiên, cách mà máy tính tạo ra tác phẩm sẽ không giống cách con người sáng tác ra tác phẩm văn học, khoa học và nghệ thuật. AI hiện thường hoạt động dựa trên việc thu thập và xử lý hệ thống thông tin khổng lồ, từ đó sẽ đưa ra một sản phẩm là tranh vẽ, âm nhạc, giọng nói dựa trên phân tích từ khối dữ liệu đó.
c) Pháp luật quốc tế về quyền tác giả đối với các tác phẩm cho trí tuệ nhân tạo tạo ra
Hiện nay, chưa tồn tại một điều ước quốc tế chuyên biệt điều chỉnh quyền tác giả đối với các tác phẩm do AI tạo ra. Tuy nhiên, các chuẩn mực quốc tế hiện hành, đặc biệt là Công ước Berne năm 1886, Hiệp định TRIPS và các hướng dẫn của WIPO, đều được xây dựng trên cơ sở coi tác giả là con người. Trên nền tảng đó, xu hướng chung của pháp luật quốc tế là chưa công nhận trí tuệ nhân tạo là chủ thể quyền tác giả, đồng thời nhấn mạnh vai trò trung tâm của con người trong quá trình sáng tạo. Điều này đặt ra yêu cầu các quốc gia cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật theo hướng thích ứng với sự phát triển của công nghệ nhưng vẫn bảo đảm các nguyên tắc cơ bản của hệ thống sở hữu trí tuệ. Trên thực tiễn có thể khảo cứu kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia tiên phong như Hoa Kỳ và Vương quốc Anh.
Hoa Kỳ
Hoa Kỳ là quốc gia tiên phong trong việc xây dựng cơ chế pháp lý bảo hộ quyền bản quyền trên môi trường số. Dấu mốc quan trọng trong quá trình này là sự ra đời của Digital Millennium Copyright Act (DMCA) năm 1998 - đạo luật sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật bản quyền Hoa Kỳ nhằm thích ứng với sự phát triển nhanh chóng của Internet và công nghệ số, trên nền tảng của Copyright Act of 1976. Trước hết, pháp luật Hoa Kỳ ghi nhận và bảo hộ các quyền độc quyền của chủ sở hữu quyền tác giả trong môi trường số, bao gồm quyền sao chép, phân phối, truyền đạt tới công chúng và tạo lập tác phẩm phái sinh. Một trong những nội dung cốt lõi của DMCA là thiết lập cơ chế “vùng an toàn pháp lý” (safe harbor) đối với các nhà cung cấp dịch vụ trực tuyến (Online Service Providers - OSP). Theo cơ chế này, các chủ thể trung gian như nhà cung cấp dịch vụ Internet, mạng xã hội hay nền tảng chia sẻ nội dung sẽ được miễn hoặc giới hạn trách nhiệm pháp lý đối với hành vi xâm phạm bản quyền do người dùng thực hiện, với điều kiện họ tuân thủ quy trình “thông báo và gỡ bỏ” (notice and takedown). Bên cạnh đó, DMCA còn thiết lập cơ chế bảo vệ các biện pháp công nghệ (Digital Rights Management - DRM), theo đó nghiêm cấm mọi hành vi phá vỡ hoặc né tránh các biện pháp kỹ thuật nhằm kiểm soát truy cập hoặc sao chép tác phẩm. Đồng thời, pháp luật cũng cấm việc sản xuất, phân phối hoặc cung cấp các công cụ hỗ trợ cho hành vi vượt qua các biện pháp bảo vệ này. Quy định này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong môi trường số, nơi các hành vi vi phạm bản quyền có thể được thực hiện một cách tinh vi và trên quy mô lớn.
Ngoài ra, pháp luật Hoa Kỳ còn bảo vệ thông tin quản lý quyền tác giả (Copyright Management Information - CMI). Theo đó, các hành vi cố ý xóa bỏ, thay đổi hoặc cung cấp thông tin sai lệch về tác giả, chủ sở hữu quyền hoặc điều kiện khai thác tác phẩm đều bị nghiêm cấm. Trong bối cảnh số hóa, khi “metadata” đóng vai trò quan trọng trong việc xác định nguồn gốc và quyền sở hữu tác phẩm, quy định này góp phần bảo đảm tính minh bạch và khả năng truy xuất thông tin về quyền tác giả (Reuters, 2026).
Vương quốc Anh
Quốc gia này đã tiếp cận vấn đề sở hữu trí tuệ liên quan đến AI một cách cụ thể từ khá sớm. Tại Điều 9(3) Đạo luật Bản quyền, Thiết kế và Bằng sáng chế 1988 (Copyright, Designs and Patents Act 1988 - CDPA 1988) đã quy định cụ thể như sau: “Trong trường hợp tác phẩm văn học, kịch, âm nhạc hoặc nghệ thuật được tạo ra bằng máy tính, tác giả là người thực hiện những sắp xếp cần thiết cho việc tạo ra tác phẩm đó”. Nói một cách dễ hiểu hơn, tác giả của các tác phẩm AI sẽ là người thực hiện các sắp xếp cần thiết cho việc tạo ra tác phẩm. Bên cạnh đó, tại Điều 178 của CDPA 1988 đã cụ thể hóa khái niệm của tác phẩm do AI tạo ra trong định nghĩa “tác phẩm do máy tính tạo ra”, được hiểu là “tác phẩm được tạo ra bởi máy tính trong hoàn cảnh không có tác giả là con người của tác phẩm”. Những tác phẩm như vậy sẽ được bảo hộ trong 50 năm kể từ cuối năm dương lịch mà chúng được tạo ra (Điều 12 CDPA 1988) (Atabekov A. & Yastrebov O, 2018)). Do đó, cách tiếp cận của Vương quốc Anh tách biệt quyền tác giả và tính sáng tạo.
2. Thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền tác giả trong các tác phẩm do trí tuệ nhân tạo tạo ra
Tại Việt Nam, trong những năm qua, AI được nhắc đến nhiều và được xem như một động lực quan trọng cho định hướng phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, thực tế hiện nay, hệ thống pháp luật Việt Nam vẫn đang ở trạng thái điều chỉnh các quan hệ xã hội truyền thống liên quan đến thể nhân, pháp nhân, tổ chức không có tư cách pháp nhân. Không gian pháp lý dành cho các quan hệ pháp luật có sự tham gia của công nghệ còn hạn hẹp. Dù Việt Nam đã ban hành Luật Dữ liệu (2024), Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân (2025), Luật Giao dịch điện tử (2023), Luật Trí tuệ nhân tạo (2025) song vẫn cần tiếp tục hoàn thiện để vừa khuyến khích phát triển dữ liệu, vừa bảo đảm an toàn, bảo mật và bản quyền (Báo Điện tử Chính phủ, 2025).
Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung), là văn bản cốt lõi điều chỉnh quyền sở hữu trí tuệ. Theo khoản 1 Điều 13, tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm, và Điều 19 quy định quyền tác giả phát sinh khi tác phẩm được thể hiện dưới dạng vật chất nhất định. Tuy nhiên, luật chưa đề cập đến trường hợp tác phẩm do AI tạo ra, khi không có “tác giả con người” rõ ràng. Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ quy định quyền tài sản, bao gồm quyền sao chép, phân phối, và khai thác kinh tế, nhưng việc áp dụng cho nội dung số do AI sáng tạo vẫn mơ hồ do thiếu khái niệm pháp lý cụ thể. Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS 2015) cung cấp cơ sở cho quyền tài sản tại Điều 115, nhưng nội dung số do AI tạo ra chưa được công nhận rõ ràng là “tài sản” theo Điều 105, gây khó khăn trong việc bảo vệ quyền sở hữu (Phạm Minh Đô, 2026).
Nhiều báo cáo đánh giá cho thấy công tác thực thi còn hạn chế do nhiều nguyên nhân khác nhau. Trước hết, nguồn lực và năng lực của các cơ quan thực thi chưa đáp ứng kịp sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, dẫn đến việc phát hiện và xử lý vi phạm chưa kịp thời. Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng chưa đồng bộ, cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý còn thiếu, và ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận tổ chức, cá nhân trên không gian mạng chưa cao. Đặc biệt, tình trạng “bất bình đẳng thông tin” giữa cơ quan thực thi với các đối tượng vi phạm có trình độ công nghệ cao khiến việc xử lý các hành vi xâm phạm càng thêm khó khăn. Trong bối cảnh vi phạm có thể được thực hiện ẩn danh, xuyên biên giới, rõ ràng chỉ dựa vào công cụ pháp lý quốc gia là chưa đủ (Vương Tuyết Linh, 2025).
3. Một số kiến nghị cho Việt Nam trong xây dựng hành lang pháp lý về quyền tác giả cho các tác phẩm AI tạo ra
Như đã đề cập ở những phần trước, pháp luật Việt Nam hiện hành không bảo hộ quyền tác giả đối với các tác phẩm do AI tạo ra và cũng không thừa nhận tư cách pháp lý của các chủ thể không phải là con người tự nhiên. Trong bài viết này, các đề xuất hoàn thiện khung pháp lý dưới đây sẽ gắn với quan điểm thừa nhận việc bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm do AI tạo ra tại Việt Nam trong tương lai.
Thứ nhất, cần nghiên cứu khả năng xác định tư cách pháp lý của thực thể AI. Bản thân AI là một lĩnh vực khoa học, và do đó việc xác định tư cách pháp lý trong trường hợp này nên hướng tới một thực thể cụ thể, dù là vô hình hay hữu hình, mà chứa đựng công nghệ này, chẳng hạn như máy móc, chương trình máy tính hoặc phần mềm. Cho đến thời điểm hiện tại, tư cách pháp lý của AI có thể là:
(i) Một đối tượng của pháp luật, một số thực thể hữu hình có gắn AI như robot có thể được xem xét có quyền như con người, tuy nhiên số lượng quốc gia theo cách tiếp cận này rất ít.
(ii) Một đối tượng riêng biệt trong pháp luật và được kiểm soát bởi những quy định đặc biệt, các thực thể mang AI không được công nhận có quyền như một con người, bản chất là một tài sản, công cụ, hay sản phẩm.
Thứ hai, cần xây dựng quy định pháp luật nhằm xác định chủ thể của quyền tác giả đối với tác phẩm từ AI. Dựa trên tinh thần của các quy định pháp luật sở hữu trí tuệ hiện tại, việc xác định chủ thể của quyền tác giả cần xem xét đến mức độ đóng góp về mặt trí tuệ và vật chất của các cá nhân, tổ chức liên quan đến tác phẩm tạo ra từ AI. Dựa trên tinh thần xác định chủ thể của quyền tác giả đối với các tác phẩm do AI tạo ra là con người tự nhiên, chủ thể quyền phải tôn trọng, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, không được lạm dụng quyền để gây mất trật tự, an toàn xã hội, làm thiệt hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, lợi ích hợp pháp của người khác.
Thứ ba, cần có quy định pháp luật xác định các tiêu chí bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm do AI tạo ra. Tác phẩm được AI tạo ra không giống với các tác phẩm thông thường bởi chủ thể “sinh ra” chúng không phải là con người, và do đó đòi hỏi những tiêu chí khác biệt để đánh giá khả năng được bảo hộ.
Thứ tư, cần có quy định pháp luật cụ thể để giải quyết các tranh chấp liên quan đến tác phẩm do AI tạo ra. Cần lưu ý rằng, các tranh chấp xoay quanh AI chắc chắn sẽ phức tạp và khó giải quyết hơn các tranh chấp sở hữu trí tuệ và dân sự thông thường bởi có sự tham gia của máy móc và các chủ thể không phải là người. Do đó, điều quan trọng trước tiên là phải xác định chủ thể chịu trách nhiệm chính trong mỗi tranh chấp tùy thuộc vào các trường hợp khác nhau, đồng thời đặt ra nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cũng như các biện pháp khắc phục hậu quả tương ứng mà chủ thể chịu trách nhiệm phải tuân theo.
Kết luận
Việc xuất hiện các tác phẩm do trí tuệ nhân tạo tạo ra đã và đang đặt ra thách thức đáng kể đối với hệ thống pháp luật quyền tác giả tại Việt Nam. Khoảng trống pháp lý trong việc xác định chủ thể quyền, phạm vi bảo hộ và cơ chế giải quyết tranh chấp cho thấy khuôn khổ hiện hành chưa theo kịp sự phát triển của công nghệ số. Bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực này đòi hỏi phải cân bằng giữa bảo hộ lợi ích chính đáng của cá nhân, tổ chức tham gia vào quá trình sáng tạo với quyền tiếp cận tri thức và lợi ích công cộng. Trên cơ sở phân tích, có thể khẳng định rằng việc hoàn thiện pháp luật cần hướng tới việc ghi nhận vai trò sáng tạo hoặc đóng góp của con người trong các công đoạn thiết kế, vận hành, chỉ đạo hoặc khai thác AI; đồng thời xây dựng cơ chế xác lập và phân chia quyền tài sản rõ ràng, minh bạch. Điều này sẽ góp phần tạo lập môi trường pháp lý đồng bộ, bảo đảm quyền con người, khuyến khích đổi mới sáng tạo, đồng thời phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới./.
---
Tài liệu tham khảo
Atabekov, A., & Yastrebov, O. (2018). Legal status of artificial intelligence across countries: Legislation on the move. https://doi.org/10.35808/ersj/1245.
Báo Điện tử Chính phủ. (2025). Xây dựng hệ sinh thái thông tin KH&CN: Mở và thúc đẩy chia sẻ tri thức. https://baochinhphu.vn/xay-dung-he-sinh-thai-thong-tin-khcn-mo-va-thuc-day-chia-se-tri-thuc-10225090514210833.htm.
Nguyễn Ngọc Hồng Dương. (2022). Bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của trí tuệ nhân tạo. Tạp chí Công thương. https://tapchicongthuong.vn/bao-ve-quyen-tac-gia-doi-voi-tac-pham-cua-tri-tue-nhan-tao-89469.htm.
Phạm Minh Đô. (2026). Quyền sở hữu trí tuệ nội dung số do AI sáng tạo: Thực trạng pháp lý và giải pháp phát triển kinh tế số tại Việt Nam. https://phaply.net.vn/quyen-so-huu-tri-tue-noi-dung-so-do-ai-sang-tao-thuc-trang-phap-ly-va-giai-phap-phat-trien-kinh-te-so-tai-viet-nam-a260397.html.
Quốc hội. (2005). Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, 2019, 2022).
Reuters. (2026, March 16). Copyright law 2025: Courts begin to draw lines around AI training, piracy and market harm. https://www.reuters.com/legal/legalindustry/copyright-law-2025-courts-begin-draw-lines-around-ai-training-piracy-market-harm--pracin-2026-03-16/
Russell, S. J., & Norvig, P. (2010). Artificial intelligence: A modern approach (3rd ed.). Pearson.
Trần Văn Nam (Chủ biên). (2014). Quyền tác giả ở Việt Nam: Pháp luật và thực thi (tr. 12). Nxb. Tư pháp.
Trung tâm Quyền tác giả Việt Nam. (2020). Lịch sử phát triển của quyền tác giả. https://www.quyentacgia.org/phap-luat-viet-nam/lich-su-phat-trien-cua-quyen-tac-gia/.
Vũ Thị Hải Yến (Chủ biên). (2024). Giáo trình Luật sở hữu trí tuệ (tr. 37). Nxb. Tư pháp.
Vương Tuyết Linh. (2025, September 29). Bảo hộ quyền tác giả trong môi trường số ở Việt Nam hiện nay. Tạp chí điện tử Luật sư Việt Nam. https://lsvn.vn/bao-ho-quyen-tac-gia-trong-moi-truong-so-o-viet-nam-hien-nay-a163577.html.