ThS. Võ Thị Hoài
Trường Chính trị tỉnh Nghệ An
Tóm tắt: Bảo đảm quyền con người về giáo dục có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển con người, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật quốc tế, pháp luật Việt Nam, quan điểm của Đảng và thực tiễn đời sống chính trị xã hội, bài viết làm rõ nội hàm của quyền con người về giáo dục, phân tích những định hướng của Đại hội XIV của Đảng đối với lĩnh vực giáo dục, đồng thời đánh giá việc bảo đảm quyền con người về giáo dục ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, chính sách và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng.
Từ khoá: Đại hội XIV; giáo dục; quyền con người; Việt Nam.
Abstract: Ensuring human rights in education is of great significance to human development, the improvement of human resource quality, and the promotion of social progress and equity. Based on an analysis of international human rights law, Vietnamese law, the Party’s viewpoints and socio-political practices, this article clarifies the concept and scope of human rights in education, examines the educational orientations set forth in the Resolution of the 14th National Congress of the Communist Party of Viet Nam and assesses the current implementation of human rights in education in Viet Nam. On this basis, the article proposes recommendations for improving the legal framework, public policies and implementation mechanisms in order to meet the requirements for educational development in accordance with the spirit of the 14th National Congress of the Communist Party of Viet Nam.
Keywords: Keywords: education; human rights; the 14th National Congress; Viet Nam.

Các em học sinh DTTS Trường Tiểu học Liêng Srônh, Lâm Đồng học bài sau giờ đến lớp
Nguồn: tapchigiaoduc.edu.vn
Đặt vấn đề
Quyền con người về giáo dục là một trong những lĩnh vực phản ánh tập trung mức độ bảo đảm quyền con người của mỗi quốc gia. Giáo dục không chỉ là phương tiện truyền thụ tri thức mà còn là điều kiện để mỗi cá nhân phát triển toàn diện, thực hiện các quyền và tự do cơ bản, đồng thời tham gia bình đẳng vào đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội. Vì vậy, bảo đảm quyền con người về giáo dục vừa là yêu cầu của pháp luật quốc tế về quyền con người, vừa là tiêu chí quan trọng đánh giá hiệu lực quản trị quốc gia và mức độ phát triển bền vững.
Ở Việt Nam, bảo đảm quyền con người về giáo dục luôn được đặt trong tổng thể đường lối phát triển đất nước và được thể chế hóa bằng Hiến pháp, pháp luật và các chính sách phát triển giáo dục qua các giai đoạn. Bước vào giai đoạn phát triển mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục xác định phát triển giáo dục và đào tạo là động lực quan trọng của phát triển đất nước (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026); đồng thời nhấn mạnh yêu cầu phát triển con người toàn diện, xây dựng xã hội học tập, thúc đẩy chuyển đổi số, bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Những định hướng này tạo cơ sở chính trị cho việc đổi mới giáo dục và đặt ra những yêu cầu tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền con người về giáo dục trong điều kiện phát triển mới. Cùng với những yêu cầu mới của chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế tri thức, việc bảo đảm quyền con người về giáo dục cần được tiếp cận toàn diện hơn, không chỉ dừng lại ở việc bảo đảm quyền được học mà được mở rộng hơn bao gồm việc xây dựng môi trường giáo dục an toàn, bình đẳng, bao trùm, tôn trọng nhân phẩm, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người học cũng như tạo điều kiện để mọi người được học tập suốt đời. Từ cách tiếp cận đó, bài viết tập trung làm rõ nội hàm của quyền con người về giáo dục; phân tích các định hướng của Đại hội XIV đối với việc bảo đảm quyền con người về giáo dục; đánh giá thực trạng ở Việt Nam và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật, chính sách và cơ chế tổ chức thực hiện nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục trong giai đoạn mới.
1. Nhận thức về quyền con người về giáo dục
Quyền con người về giáo dục là bộ phận cấu thành của hệ thống quyền con người, phản ánh những nhu cầu, lợi ích và khả năng phát triển chính đáng của cá nhân trong quá trình giáo dục. Nội hàm của quyền này bao quát cơ hội tiếp cận, tham gia và thụ hưởng giáo dục trên cơ sở bình đẳng, an toàn, liên tục, có chất lượng và phù hợp với phẩm giá con người. Giáo dục vừa là quyền cơ bản, vừa tạo nền tảng để cá nhân nâng cao nhận thức, phát triển năng lực, hình thành nhân cách và thực hiện các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.
Cần phân biệt rõ quyền con người về giáo dục với quyền được giáo dục. Quyền được giáo dục chủ yếu đề cập khả năng tiếp cận và thụ hưởng các cấp học, trình độ đào tạo và hình thức học tập. Quyền con người về giáo dục có phạm vi rộng hơn, gồm quyền được giáo dục, sự tôn trọng các quyền con người trong quá trình giáo dục và quyền được trang bị tri thức, kỹ năng, thái độ cần thiết để nhận biết, thực hiện và bảo vệ quyền con người. Cách tiếp cận này cho phép xem xét giáo dục trên ba phương diện gắn kết: Bảo đảm cơ hội học tập; Bảo vệ quyền, lợi ích và phẩm giá của người học; Phát huy vai trò của giáo dục trong xây dựng văn hóa tôn trọng quyền con người.
Nội dung trước hết của quyền con người về giáo dục là quyền tiếp cận giáo dục trên cơ sở bình đẳng. Mọi người dân phải có cơ hội học tập mà không bị phân biệt đối xử bởi giới tính, dân tộc, ngôn ngữ, tín ngưỡng, tôn giáo, hoàn cảnh kinh tế, tình trạng khuyết tật, nơi cư trú hoặc địa vị xã hội. Bình đẳng trong lĩnh vực giáo dục không đồng nhất với việc áp dụng một phương thức chung cho mọi chủ thể trong giáo dục. Yêu cầu đặt ra là nhận diện sự khác biệt về điều kiện sống, năng lực và khả năng tiếp cận, từ đó áp dụng các biện pháp hỗ trợ phù hợp đối với người học thuộc nhóm yếu thế, người khuyết tật, đồng bào dân tộc thiểu số và người sinh sống tại địa bàn khó khăn.
Quyền con người về giáo dục còn bao hàm quyền được thụ hưởng nền giáo dục có chất lượng, quyền được bảo vệ đời sống riêng tư, dữ liệu cá nhân và danh dự trong môi trường giáo dục số, đồng thời bảo đảm cơ hội học tập suốt đời. Việc hiện thực hóa quyền này đòi hỏi chương trình, phương pháp giảng dạy, đội ngũ nhà giáo và điều kiện học tập phải đáp ứng yêu cầu phát triển toàn diện người học; hoạt động thu thập, sử dụng dữ liệu phải đúng mục đích, an toàn; các hình thức giáo dục thường xuyên, đào tạo từ xa, học tập trực tuyến và công nhận kết quả học tập cần được mở rộng phù hợp với nhu cầu phát triển của mỗi cá nhân.
Giáo dục về quyền con người là thành tố có tính đặc thù, thông qua giáo dục, người học được trang bị kiến thức về quyền, nghĩa vụ, pháp luật, giá trị bình đẳng, tự do, khoan dung và trách nhiệm xã hội. Pháp luật quốc tế đã hình thành khuôn khổ chuẩn mực tương đối toàn diện về quyền con người trong lĩnh vực giáo dục. Điều 13 Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966 khẳng định quyền của mọi người được hưởng giáo dục, đồng thời xác định giáo dục phải hướng tới sự phát triển đầy đủ nhân cách, củng cố ý thức về phẩm giá và nâng cao khả năng tham gia có trách nhiệm vào một xã hội tự do. Trên cơ sở đó, Công ước đặt ra nghĩa vụ của quốc gia trong việc bảo đảm giáo dục tiểu học bắt buộc và miễn phí, từng bước mở rộng khả năng tiếp cận giáo dục trung học, giáo dục đại học cũng như không ngừng cải thiện các điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục.
Tại Việt Nam, Hiến pháp năm 2013 tại các Điều 39 và Điều 61 khẳng định công dân có quyền và nghĩa vụ học tập đồng thời xác định phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Nhà nước có trách nhiệm ưu tiên đầu tư, bảo đảm giáo dục tiểu học bắt buộc, từng bước phổ cập giáo dục, phát triển giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp và ưu tiên các địa bàn, nhóm dân cư có điều kiện khó khăn (Quốc hội, 2013). Điều 4, Luật Giáo dục năm 2019 tiếp tục cụ thể hóa nguyên tắc bình đẳng về cơ hội học tập, thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục an toàn và bảo đảm quyền của người học được tôn trọng, đối xử bình đẳng, cung cấp thông tin và hưởng các chính sách hỗ trợ theo quy định (Quốc hội, 2019).
Từ những phân tích trên, quyền con người về giáo dục có thể được hiểu là tổng thể các quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của con người trong việc tiếp cận, tham gia và thụ hưởng giáo dục trên cơ sở bình đẳng, chất lượng, an toàn, tôn trọng phẩm giá và phù hợp với nhu cầu phát triển; đồng thời được trang bị năng lực nhận thức, thực hành và bảo vệ quyền con người. Cách hiểu này tạo cơ sở lý luận và pháp lý để tiếp tục phân tích những định hướng của Đại hội XIV của Đảng đối với việc bảo đảm quyền con người về giáo dục ở Việt Nam.
2. Bảo đảm quyền con người về giáo dục theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng
Đại hội XIV của Đảng tiếp tục phát triển tư duy về vị trí của giáo dục và đào tạo trong chiến lược phát triển đất nước, gắn chặt giáo dục với phát triển con người, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và củng cố nền tảng cho phát triển nhanh, bền vững. Báo cáo chính trị tại Đại hội xác định nhiệm vụ xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới: “Thực hiện có hiệu quả các quyết sách chiến lược nhằm xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, công bằng theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế”(Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, T. 1, tr.100). Thực hiện đổi mới, hoàn thiện đồng bộ pháp luật, cơ chế, chính sách; nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực trọng điểm, chiến lược. Định hướng ấy đặt việc bảo đảm quyền con người về giáo dục trong mối quan hệ trực tiếp với mục tiêu phát triển toàn diện con người Việt Nam và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Tinh thần Đại hội XIV cho thấy yêu cầu bảo đảm quyền con người về giáo dục cần được tiếp cận theo hướng toàn diện và thực chất hơn. Cơ hội học tập phải được mở rộng gắn với chất lượng thụ hưởng, khả năng phát triển năng lực và sự tôn trọng phẩm giá của người học. Giáo dục cần tạo điều kiện để mỗi cá nhân được phát triển phù hợp với khả năng, nhu cầu và hoàn cảnh; đồng thời khắc phục những rào cản về kinh tế, địa lý, điều kiện xã hội và năng lực tiếp cận công nghệ. Quan điểm xây dựng nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế tạo cơ sở để củng cố các yếu tố bình đẳng, bao trùm, thích ứng và trách nhiệm giải trình trong tổ chức giáo dục. Đại hội XIV cũng đặt ra yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy phát triển giáo dục chủ yếu dựa trên mở rộng quy mô sang phát triển chất lượng, hiệu quả và năng lực sáng tạo. Theo đó, quyền con người về giáo dục phải được bảo đảm trong môi trường học tập an toàn, lành mạnh, tôn trọng sự khác biệt và khuyến khích tư duy độc lập. Nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục cần hướng đến hình thành phẩm chất, năng lực, ý thức công dân, khả năng thích ứng và trách nhiệm xã hội. Quản trị giáo dục phải bảo đảm công khai, minh bạch, tăng cường sự tham gia của người học, gia đình và xã hội; đồng thời đề cao trách nhiệm của cơ sở giáo dục trong bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người học.
Yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được Đại hội XIV của Đảng xác định là động lực chính của mô hình tăng trưởng mới, có vai trò tạo ra lực lượng sản xuất, phương thức quản lý và không gian phát triển mới cho đất nước. Trong lĩnh vực giáo dục, Đại hội khẳng định: “Chuyển đổi số toàn diện, phổ cấp và ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong giáo dục và đào tạo” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, T. 1, tr.102). Định hướng này đặt ra yêu cầu chuyển đổi đồng bộ từ phương thức quản lý, tổ chức dạy học, kiểm tra, đánh giá đến xây dựng học liệu và cung cấp dịch vụ giáo dục. Việc phát triển cơ sở dữ liệu ngành, nền tảng học tập trực tuyến, học liệu số, lớp học thông minh và ứng dụng trí tuệ nhân tạo có thể mở rộng khả năng tiếp cận tri thức, cá thể hóa quá trình học tập, khắc phục một phần trở ngại về thời gian và khoảng cách địa lý, qua đó tạo thêm cơ hội học tập cho người dân ở vùng khó khăn, người khuyết tật và những người có nhu cầu học tập thường xuyên. Chuyển đổi số còn góp phần thúc đẩy liên thông giữa các cấp học, đa dạng hóa hình thức đào tạo, công nhận kết quả học tập và từng bước hình thành xã hội học tập, phù hợp với yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao mà Đại hội XIV đặt ra.
Tuy nhiên, nhìn từ phương diện quyền con người, ứng dụng công nghệ trong giáo dục không thể chỉ được đánh giá thông qua số lượng thiết bị, phần mềm hoặc dịch vụ trực tuyến. Hiệu quả chuyển đổi số phải được thể hiện ở mức độ người học có thể tiếp cận và thụ hưởng giáo dục một cách bình đẳng, an toàn, thuận lợi và có chất lượng. Sự chênh lệch về hạ tầng viễn thông, thiết bị học tập, năng lực số và điều kiện kinh tế giữa các vùng, miền và các nhóm dân cư có thể tạo ra khoảng cách số, làm cho một bộ phận người học gặp khó khăn trong tiếp cận các hình thức giáo dục mới. Việc thu thập, kết nối và xử lý dữ liệu học tập cũng làm phát sinh trách nhiệm bảo vệ thông tin cá nhân, đời sống riêng tư, danh dự và sự an toàn của người học; đồng thời phải phòng ngừa nguy cơ lạm dụng dữ liệu, giám sát quá mức, bạo lực mạng, thông tin độc hại và sự lệ thuộc thiếu kiểm soát vào công nghệ. Vì vậy, chuyển đổi số trong giáo dục cần được thực hiện theo nguyên tắc lấy con người làm trung tâm, bảo đảm công nghệ hỗ trợ sự phát triển toàn diện của người học, tăng cường năng lực của nhà giáo và nâng cao chất lượng quản trị giáo dục. Nhà nước và các cơ sở giáo dục phải đồng thời đầu tư hạ tầng, hỗ trợ thiết bị, phát triển kỹ năng số, hoàn thiện cơ chế bảo vệ dữ liệu và duy trì những phương thức học tập phù hợp đối với người chưa có điều kiện tiếp cận công nghệ. Cách tiếp cận này giúp chuyển đổi số thực sự trở thành công cụ mở rộng và nâng cao mức độ thụ hưởng quyền con người về giáo dục, thay vì tạo thêm rào cản hoặc làm sâu sắc hơn sự bất bình đẳng xã hội.
Từ những định hướng nêu trên, bảo đảm quyền con người về giáo dục theo tinh thần Đại hội XIV đòi hỏi sự thống nhất giữa phát triển giáo dục và phát triển con người; “phát trển hài hòa giáo dục giữa các vùng miền, có chính sách ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn, các đối tượng chính sách.” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, T. 1, tr.102); giữa mở rộng cơ hội học tập và nâng cao chất lượng thụ hưởng; giữa đổi mới giáo dục và bảo vệ quyền của người học. Trách nhiệm này thuộc về Nhà nước, cơ sở giáo dục, gia đình và toàn xã hội, trong đó Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế, phân bổ nguồn lực, kiểm tra, giám sát và bảo đảm mọi người có cơ hội tiếp cận một nền giáo dục công bằng, hiện đại, nhân văn và phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
3. Thực tiễn kết quả công tác bảo đảm quyền con người về giáo dục tại Việt Nam hiện nay
Việc bảo đảm quyền con người về giáo dục ở Việt Nam thời gian qua đã có những chuyển biến quan trọng, thể hiện trên các phương diện mở rộng cơ hội học tập, nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục, hỗ trợ người học có hoàn cảnh khó khăn, phát triển giáo dục hòa nhập và từng bước xây dựng môi trường học đường an toàn. Hệ thống giáo dục quốc dân tiếp tục được củng cố; mạng lưới trường, lớp được duy trì ở các vùng, miền; các phương thức giáo dục thường xuyên, đào tạo từ xa và học tập trên môi trường số ngày càng phát triển. Nhiều chính sách hỗ trợ học phí, chi phí học tập, sách giáo khoa và điều kiện đến trường góp phần giảm bớt rào cản kinh tế đối với người học, nhất là trẻ em thuộc hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, người khuyết tật và người sinh sống tại địa bàn khó khăn. Những kết quả này phản ánh nỗ lực của Nhà nước trong việc chuyển các quyền được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật thành khả năng thụ hưởng thực tế của người dân.
Việc thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong giáo dục đã tạo thêm động lực quan trọng để bảo đảm quyền con người về giáo dục ở Việt Nam. Những năm gần đây, ngành giáo dục đẩy mạnh xây dựng cơ sở dữ liệu ngành, triển khai học bạ số, tuyển sinh trực tuyến, thanh toán không dùng tiền mặt, phát triển học liệu số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý, dạy học. Nhiều cơ sở giáo dục đã khai thác hiệu quả các nền tảng số, góp phần đa dạng hóa phương thức học tập, mở rộng khả năng tiếp cận tri thức và tạo điều kiện để người học được học tập mọi lúc, mọi nơi. Việc thực hiện Đề án tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục cùng với việc triển khai Đề án 06 của Chính phủ trong lĩnh vực giáo dục đã từng bước hình thành hệ sinh thái giáo dục số, nâng cao hiệu quả quản trị, giảm thủ tục hành chính và tăng tính công khai, minh bạch trong cung cấp dịch vụ giáo dục. Những kết quả này đã góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động giáo dục và hiện thực hóa quyền tiếp cận giáo dục trên cơ sở bình đẳng, tạo điều kiện để mọi người dân có thêm cơ hội học tập, phát triển năng lực và thích ứng với yêu cầu của nền kinh tế số, xã hội số theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng.
Ngày 26/6/2025, Quốc hội thông qua nghị quyết Nghị quyết 217/2025/QH15 về miễn, hỗ trợ học phí áp dụng cho trẻ em mầm non, học sinh phổ thông tại các cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân. Từ năm học 2025-2026, trẻ em mầm non, học sinh phổ thông và người học chương trình giáo dục phổ thông trong cơ sở giáo dục công lập được miễn học phí; người học tại cơ sở dân lập, tư thục được hỗ trợ học phí theo mức do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định trong khung quy định của Chính phủ. Chính sách này có ý nghĩa trực tiếp trong việc giảm rào cản kinh tế, mở rộng cơ hội học tập và bảo đảm sự bình đẳng trong tiếp cận giáo dục.
Đối với người khuyết tật, khuôn khổ pháp lý về giáo dục chuyên biệt và giáo dục hòa nhập tiếp tục được bổ sung. Thông tư số 27/2024/TT-BGDĐT ngày 26/12/2024 ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của trường, lớp dành cho người khuyết tật, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, quy định cụ thể, tạo cơ sở để bảo đảm điều kiện học tập phù hợp với đặc điểm và nhu cầu của từng nhóm người học. Cùng với việc phát triển giáo dục thường xuyên, đào tạo từ xa và học tập trên môi trường số, các chính sách trên phản ánh quá trình chuyển từ việc ghi nhận quyền trong Hiến pháp và pháp luật sang thiết lập những điều kiện vật chất, tài chính và tổ chức cần thiết để người dân có thể thụ hưởng quyền con người về giáo dục trên thực tế.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc bảo đảm quyền con người về giáo dục ở Việt Nam vẫn còn một số hạn chế. Sự chênh lệch về điều kiện cơ sở vật chất, chất lượng đội ngũ nhà giáo, khả năng tiếp cận công nghệ và môi trường học tập giữa các vùng còn ảnh hưởng đến cơ hội phát triển của người học. Tình trạng bạo lực học đường, vi phạm đạo đức nhà giáo, sai phạm trong kiểm tra, thi cử và quản lý giáo dục tại một số nơi làm tổn hại quyền được học tập trong môi trường an toàn, công bằng, tôn trọng nhân phẩm. Các hạn chế này cho thấy khoảng cách giữa quy định pháp luật và hiệu quả thực thi vẫn tồn tại, đòi hỏi việc đánh giá quyền con người về giáo dục phải dựa trên chất lượng thụ hưởng thực tế, thay vì chỉ căn cứ vào số lượng trường, lớp hoặc tỷ lệ người đi học.
Bạo lực học đường vẫn là một trong những thách thức đáng quan tâm trong quá trình bảo đảm quyền con người về giáo dục ở Việt Nam. Các hành vi bạo lực về thể chất, tinh thần, bạo lực trên không gian mạng và xâm phạm danh dự, nhân phẩm người học vẫn xảy ra ở nhiều cấp học với tính chất ngày càng phức tạp. Những vụ việc này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tâm lý và kết quả học tập của học sinh mà còn làm suy giảm quyền được học tập trong môi trường an toàn, lành mạnh và tôn trọng nhân phẩm theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Thực tiễn cho thấy, nguyên nhân của bạo lực học đường xuất phát từ nhiều yếu tố như hạn chế trong giáo dục kỹ năng sống, sự phối hợp chưa chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội, tác động tiêu cực của mạng xã hội cũng như những biến đổi về tâm lý lứa tuổi. Do đó, cùng với việc phòng ngừa và xử lý kịp thời các vụ việc phát sinh, cần tiếp tục nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, xây dựng văn hóa học đường và chủ động đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc về tình hình bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực giáo dục ở Việt Nam.
Vụ gian lận trong Kỳ thi trung học phổ thông quốc gia năm 2018 tại Hà Giang, Sơn La, Hòa Bình là trường hợp điển hình cho sự xâm hại nguyên tắc bình đẳng trong giáo dục. Hành vi can thiệp, nâng điểm cho một số thí sinh đã làm sai lệch kết quả đánh giá, tạo lợi thế trái quy định và ảnh hưởng trực tiếp đến cơ hội tuyển sinh của những thí sinh khác. Từ góc độ quyền con người, vụ việc không đơn thuần là vi phạm quy chế thi mà còn xâm phạm quyền được đối xử bình đẳng, quyền được đánh giá khách quan và quyền tiếp cận giáo dục trên cơ sở năng lực thực chất. Những sai phạm năm 2018 cũng bộc lộ hạn chế trong kiểm soát quyền lực, quản lý dữ liệu, giám sát quy trình chấm thi và xác định trách nhiệm của người có thẩm quyền. Bộ Giáo dục và Đào tạo sau đó đã nhấn mạnh yêu cầu rút kinh nghiệm từ các địa phương để xảy ra sai phạm, tăng cường thanh tra, giám sát và bảo đảm kỳ thi nghiêm túc, an toàn. Các vụ việc liên quan đến kỳ thi năm 2026 tại Tuyên Quang và Quảng Trị tiếp tục cho thấy nguy cơ xâm phạm công bằng giáo dục chưa được loại trừ hoàn toàn. Do quá trình điều tra chưa kết thúc, mọi nhận định về trách nhiệm cá nhân phải dựa trên kết luận chính thức của cơ quan có thẩm quyền. Về phương diện quản lý, vụ việc đặt ra yêu cầu rà soát chặt chẽ quy trình coi thi, bảo quản đề thi, chấm thi, nhập điểm và kiểm soát dữ liệu, qua đó bảo vệ quyền lợi chính đáng của toàn bộ thí sinh.
Các vụ việc tiêu cực trong giáo dục thường bị một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí khai thác để quy kết rằng hệ thống giáo dục Việt Nam không bảo đảm công bằng, Nhà nước xem nhẹ quyền học tập hoặc những sai phạm riêng lẻ phản ánh bản chất của chế độ. Cách lập luận này cố tình tách vụ việc khỏi tổng thể chính sách, pháp luật và nỗ lực khắc phục của cơ quan chức năng; đồng thời đánh đồng sai phạm của cá nhân với đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Việc nhận diện sai phạm, công khai thông tin, điều tra, khởi tố và xử lý người vi phạm lại cho thấy cơ chế pháp luật đang được vận hành nhằm bảo vệ quyền lợi của người học, củng cố kỷ cương và khắc phục những biểu hiện tiêu cực. Công tác phản bác các quan điểm xuyên tạc cần dựa trên thông tin chính xác, kết luận của cơ quan có thẩm quyền và những thành tựu thực tế trong bảo đảm quyền con người, tránh né khuyết điểm hoặc tuyệt đối hóa kết quả đều không phù hợp với yêu cầu khoa học.
Môi trường số tiếp tục làm cho cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng trong giáo dục trở nên phức tạp hơn. Các thông tin chưa được kiểm chứng, hình ảnh cắt ghép hoặc bình luận cực đoan về một vụ việc có thể được lan truyền nhanh chóng, gây hoang mang, làm giảm niềm tin của phụ huynh và người học. Một số luận điệu thù địch, cơ hội chính trị còn lợi dụng những hạn chế trong giáo dục để phủ nhận thành tựu phát triển đất nước, kích động tâm lý bất mãn và tác động đến nhận thức chính trị của học sinh, sinh viên, dẫn tới nguy cơ thông tin xuyên tạc lấp vào khoảng trống nhận thức nếu hoạt động giáo dục, định hướng và cung cấp thông tin chính thống không được tiến hành kịp thời.
4. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền con người về giáo dục ở Việt Nam theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về giáo dục theo hướng thể chế hóa đầy đủ quan điểm của Đại hội XIV về phát triển con người toàn diện và bảo đảm quyền con người. Quá trình hoàn thiện pháp luật cần bảo đảm tính thống nhất giữa Hiến pháp năm 2013, Luật Giáo dục năm 2019 và các văn bản có liên quan; rà soát, sửa đổi các quy định còn chồng chéo hoặc chưa theo kịp yêu cầu chuyển đổi số, giáo dục mở, học tập suốt đời và hội nhập quốc tế. Đồng thời, cần cụ thể hóa hơn trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước, cơ sở giáo dục và đội ngũ nhà giáo trong việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người học; bổ sung cơ chế kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm nhằm hạn chế những khoảng trống pháp lý phát sinh trong thực tiễn.
Thứ hai, nâng cao hiệu quả quản trị giáo dục theo hướng công khai, minh bạch và lấy người học làm trung tâm. Cơ quan quản lý giáo dục cần tăng cường ứng dụng công nghệ số trong quản lý, tuyển sinh, kiểm tra, đánh giá và lưu trữ dữ liệu; hoàn thiện cơ chế kiểm soát nội bộ, thanh tra, kiểm tra và trách nhiệm giải trình đối với các cơ sở giáo dục. Đối với hoạt động kiểm tra, thi cử và tuyển sinh, cần tiếp tục chuẩn hóa quy trình, tăng cường giám sát độc lập, ứng dụng công nghệ để hạn chế sự can thiệp trái quy định, qua đó bảo đảm quyền được đánh giá khách quan, công bằng của người học.
Thứ ba, xây dựng môi trường giáo dục an toàn, nhân văn và tôn trọng quyền con người. Bên cạnh việc nâng cao chất lượng dạy học, các cơ sở giáo dục cần chú trọng xây dựng văn hóa học đường, phòng ngừa bạo lực học đường, xâm hại trẻ em, phân biệt đối xử và các hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm người học. Công tác tư vấn tâm lý học đường, hỗ trợ pháp lý, tiếp nhận và xử lý phản ánh, kiến nghị của người học cần được tổ chức thường xuyên, bảo đảm mọi hành vi vi phạm quyền con người trong môi trường giáo dục đều được phát hiện, xử lý kịp thời và đúng quy định của pháp luật.
Thứ tư, bảo đảm quyền tiếp cận giáo dục bình đẳng cho mọi công dân. Nhà nước cần tiếp tục ưu tiên nguồn lực đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo và địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; phát triển giáo dục hòa nhập đối với người khuyết tật; mở rộng cơ hội học tập cho các nhóm yếu thế; đồng thời thúc đẩy học tập suốt đời thông qua đa dạng hóa phương thức đào tạo, phát triển giáo dục thường xuyên, đào tạo từ xa và học tập trên nền tảng số. Việc thu hẹp khoảng cách về điều kiện học tập giữa các vùng, miền có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm bình đẳng thực chất về quyền con người trong lĩnh vực giáo dục.
Thứ năm, tăng cường giáo dục quyền con người và nâng cao nhận thức pháp luật trong hệ thống giáo dục quốc dân. Nội dung quyền con người cần được tích hợp phù hợp vào chương trình giáo dục, hoạt động trải nghiệm và công tác giáo dục chính trị, tư tưởng nhằm hình thành ý thức tôn trọng pháp luật, trách nhiệm công dân và văn hóa ứng xử trong môi trường học đường. Cùng với đó, cần nâng cao năng lực của đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục trong việc nhận diện, phòng ngừa và xử lý các hành vi xâm phạm quyền con người; phát huy vai trò phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong bảo vệ người học.
Thứ sáu, chủ động đấu tranh với các quan điểm sai trái, xuyên tạc về quyền con người trong lĩnh vực giáo dục. Các cơ quan quản lý, cơ sở giáo dục và cơ quan báo chí cần kịp thời cung cấp thông tin chính xác, khách quan về những vấn đề phát sinh trong giáo dục; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật; đồng thời làm rõ sự khác biệt giữa những sai phạm cá biệt của tổ chức, cá nhân với chủ trương, chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước về bảo đảm quyền con người. Việc đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc phải dựa trên cơ sở pháp lý, thực tiễn và kết quả bảo đảm quyền con người ở Việt Nam, góp phần củng cố niềm tin xã hội, giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng và tạo môi trường thuận lợi để thực hiện hiệu quả quyền con người về giáo dục trong kỷ nguyên mới của dân tộc.
Kết luận
Bảo đảm quyền con người về giáo dục là yêu cầu quan trọng đối với phát triển con người, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội. Theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng, nhiệm vụ này cần được triển khai đồng bộ trên các phương diện hoàn thiện pháp luật, đổi mới quản trị giáo dục, bảo đảm cơ hội tiếp cận bình đẳng, nâng cao chất lượng thụ hưởng và xây dựng môi trường học tập an toàn, nhân văn, tôn trọng phẩm giá người học. Thực tiễn cho thấy Việt Nam đã đạt nhiều kết quả tích cực, song vẫn còn những hạn chế trong quản lý, thi cử, bảo vệ người học và xử lý thông tin trên môi trường số. Vì vậy, cần tiếp tục nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện, tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm vi phạm và chủ động phản bác các luận điệu xuyên tạc, qua đó góp phần xây dựng nền giáo dục hiện đại, công bằng, chất lượng và đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập 1, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
Quốc hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ngày 28/11/2013, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2014.
Quốc hội (2019), Luật Giáo dục số 43/2019/QH14 , ngày 14/6/2019, có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2020.