ThS. Bùi Thị Dung
Trường Cao đẳng Ngoại ngữ và Công nghệ Hà Nội
Bài viết được đăng trên Tạp chí Pháp luật về quyền con người số 53 (4/2026)
Tóm tắt: Bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự là yêu cầu cốt lõi của Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Trong các vụ án có nguy cơ oan, sai, vi phạm như ép cung, mớm cung, hạn chế quyền bào chữa hoặc dùng chứng cứ trái pháp luật thường khó nhận diện. Bài viết làm rõ vai trò của cơ chế tố cáo trong phát hiện, kiểm soát và khắc phục các vi phạm này, trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và đánh giá thực chứng từ các cơ quan tố tụng: (i) khuôn khổ pháp lý về tố cáo đã tiến bộ hơn nhưng vẫn thiếu tính độc lập; (ii) phương pháp xác minh còn nặng về hồ sơ; (iii) cơ chế bảo vệ người tố cáo chưa hiệu quả; và (iv) mức độ minh bạch còn hạn chế. Từ đó, đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền con người.
Từ khóa: Quyền con người; tố cáo; tố tụng hình sự; vi phạm tố tụng; nguy cơ oan, sai.
Abstract: Ensuring human rights in criminal procedure is a core requirement of arule-of-law state in Vietnam. In cases involving a risk of wrongful convictions, violations such as coercion, leading interrogations, restrictions on the right to defense, or the use of unlawfully obtained evidence are often difficult to detect. This article clarifies the role of the denunciation mechanism in detecting, controlling, and remedying such violations, based on analytical, comparative legal methods and empirical assessments from reports of procedural authorities. It identifies that:(i) the legal framework on denunciation has improved but still lacks independence; (ii) verification methods remain overly dependent on documentary evidence; (iii) mechanisms for protecting whistleblowers are not yet effective; and (iv) transparency remains limited. Accordingly, the article proposes solutions to improve the legal framework and enhance the effectiveness of human rights protection in criminal proceedings
Keywords: Human rights; complaint mechanism; criminal procedure; procedural violations; wrongful conviction risk.

Ảnh minh họa. Nguồn: lsvn.vn
Đặt vấn đề
Trong tố tụng hình sự, quyền con người chỉ được bảo đảm thực chất khi các vi phạm tố tụng được phát hiện và xử lý kịp thời. Nhiều sai lệch trong điều tra, truy tố và xét xử không thể hiện trong hồ sơ, mà chỉ bộc lộ qua phản ánh hoặc tố cáo của người tham gia tố tụng. Do đó, tố cáo không chỉ là quyền hiến định mà còn là cơ chế kiểm soát quyền lực tư pháp, đặc biệt quan trọng trong các vụ án phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ oan, sai.
Các hành vi vi phạm tố tụng thường diễn ra kín đáo, trong giai đoạn mà quyền của người bị buộc tội dễ bị xâm hại nhất. Khi họ hoặc những người liên quan lựa chọn tố cáo, sự khách quan và minh bạch của cơ quan có thẩm quyền trở thành yếu tố quyết định để bảo vệ quyền con người và ngăn ngừa hậu quả oan, sai. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy cơ chế giải quyết tố cáo vẫn còn hạn chế về tính độc lập, phương pháp xác minh và khả năng bảo vệ người tố cáo.
Vì vậy, việc nghiên cứu mức độ bảo đảm quyền con người trong hoạt động giải quyết tố cáo, cả về lý luận, thực tiễn và yêu cầu hoàn thiện pháp luật, ngoài ra còn có ý nghĩa cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa oan, sai và tăng cường liêm chính trong hoạt động tư pháp.
1. Lý luận về bảo đảm quyền con người trong giải quyết tố cáo vi phạm tố tụng ở các vụ án có nguy cơ oan, sai
Trong dòng chảy tư tưởng về Nhà nước pháp quyền hiện đại, quyền con người không chỉ là những giá trị tuyên ngôn mà là giới hạn pháp lý tối thượng đối với sự vận hành của quyền lực nhà nước. GS.TS. Đào Trí Úc (2015) khẳng định rằng, một hệ thống tư pháp văn minh phải thiết lập được các thiết chế kiểm soát quyền lực tư pháp hữu hiệu nhằm bảo vệ các quyền tự do cá nhân trước sự lạm quyền. Đặc biệt, trong tố tụng hình sự, lĩnh vực mà Nhà nước nhân danh công lý để thực thi các biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất thì quyền tố cáo đối với hành vi vi phạm tố tụng chính là một cơ chế kiểm soát quyền lực tư pháp từ phía cá nhân. Học thuyết về Sự công bằng trong tố tụng của John Rawls chỉ ra rằng, tính chính danh của một hệ thống công lý không chỉ nằm ở phán quyết cuối cùng, mà còn ở việc thiết lập các quy trình cho phép những chủ thể yếu thế có cơ hội phản kháng hữu hiệu trước các sai phạm về mặt thủ tục (Rawl, 1971).
Từ Hiến pháp năm 2013 đến Bộ luật Tố tụng hình sự năm năm 2015, đã từng bước nội luật hóa các tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người, khẳng định mọi hành vi xâm pháp nhân phẩm, thân thể người bị buộc tội đều bị nghiêm cấm. Dưới góc độ tiếp cận quyền con người, việc giải quyết tố cáo vi phạm tố tụng cần được nhận diện bản chất là sự vận hành của cơ chế phục hồi quyền lợi thực chất theo các chuẩn mực quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đây là một nghĩa vụ tích cực đòi hỏi Nhà nước không chỉ ghi nhận quyền trên văn bản, mà phải thiết lập được các thiết chế xác minh độc lập, có thực quyền để sửa chữa các sai lầm tư pháp ngay từ khi chúng mới phát sinh (UN, 1996, Điều 3). PGS.TS. Nguyễn Ngọc Chí (2014) cũng cho rằng, bảo vệ quyền con người trong tố tụng phải là một hệ thống các biện pháp bảo vệ có hiệu lực, trong đó quyền tố cáo đóng vai trò là then chốt để phát hiện các vi phạm ngầm như bức cung, nhục hình. Đây vốn là những góc khuất thường bị che đậy bởi các hồ sơ được làm sạch và là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến những vụ án oan, sai nghiêm trọng.
Từ sự kết hợp giữa học thuyết về kiểm soát quyền lực và thực tế bảo vệ quyền lợi trên, có thể xác lập khái niệm “Bảo đảm quyền con người trong hoạt động giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm tố tụng là tổng thể các điều kiện pháp lý và cơ chế thực thi do Nhà nước thiết lập nhằm nhận diện, ngăn chặn và xử lý các hành vi lạm quyền trong tố tụng, qua đó phòng ngừa oan, sai và bảo vệ,phục hồi quyền của người bị xâm phạm”. Khái niệm này bao gồm các nội dung rất cụ thể, trước hết là tính độc lập của cơ quan giải quyết tố cáo để đảm bảo quyền lợi của người dân không bị gạt sang một bên vì lợi ích cục bộ của các cơ quan điều tra. Tiếp theo là việc xác minh phải dựa trên các chứng cứ thực tế, thay vì chỉ kiểm tra hồ sơ giấy tờ vốn dễ bị sai lệch. Cơ quan chức năng cần đối soát các nguồn tin khách quan như dữ liệu ghi âm, ghi hình hoặc kết quả giám định sức khỏe độc lập (Trần Quang Tiệp, 2016). Cuối cùng, kết quả giải quyết phải có giá trị thực tế, bao gồm việc loại bỏ chứng cứ thu thập trái pháp luật và khắc phục hậu quả của vi phạm tố tụng. Do đó, mức bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự có thể được phản ánh trực tiếp thông qua hiệu quả của cơ chế giải quyết tố cáo vi phạm tố tụng.
Vai trò của cơ chế này trong hệ thống tư pháp là vô cùng then chốt, đóng vai trò như một kênh cảnh báo sớm các sai lệch của bộ máy thực thi pháp luật. Thực tế cho thấy nhiều vụ án oan, sai chỉ được phát hiện khi người dân kiên trì tố cáo những sai phạm trong quá trình điều tra (Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, 2023). Khi quyền tố cáo được thực hiện một cách thực chất, nó tạo ra áp lực buộc những người tiến hành tố tụng phải làm việc trách nhiệm và tuân thủ pháp luật hơn. Hơn thế nữa, việc giải quyết tố cáo công bằng còn giúp củng cố niềm tin của nhân dân vào công lý, khẳng định rằng quyền con người là trung tâm của mọi hoạt động tư pháp và bất kỳ hành vi xâm phạm nào cũng đều bị xử lý nghiêm minh (Quốc hội, 2013, Điều 30, 31).
2. Thực trạng việc giải quyết tố cáo vi phạm tố tụng trong các vụ án có nguy cơ oan, sai ở Việt Nam
Trong thực tiễn tố tụng hình sự, các vụ án có nguy cơ oan, sai thường gắn với những vi phạm nghiêm trọng ngay từ giai đoạn điều tra như ép cung, mớm cung, hạn chế quyền bào chữa hoặc thu thập chứng cứ trái pháp luật. Trước những sai phạm này, bị can, bị cáo hoặc người thân thường sử dụng tố cáo như một cơ chế tự vệ nhằm yêu cầu xem xét lại tính hợp pháp của quá trình tố tụng.
Tố cáo thường xuất hiện sớm, phản ánh những sai lệch mà hồ sơ không thể hiện và đã góp phần phát hiện nhiều vụ án oan trong thực tiễn. Tuy nhiên, hiệu quả của cơ chế này còn hạn chế do tâm lý e ngại, sự bất cân xứng quyền lực và việc xác minh còn mang tính hình thức, chưa đáp ứng yêu cầu bảo vệ quyền con người
a) Những kết quả đạt được trong giải quyết tố cáo vi phạm tố tụng
Mặc dù còn nhiều khó khăn, hoạt động giải quyết tố cáo vi phạm tố tụng trong thời gian qua đã ghi nhận một số kết quả tích cực, thể hiện sự thay đổi trong tư duy tư pháp và việc tăng cường bảo đảm quyền con người.
Thứ nhất, khung pháp lý về giải quyết tố cáo trong tố tụng được hoàn thiện và rõ ràng hơn. BLTTHS năm 2015 lần đầu tiên dành một chương riêng (Chương XXXIII) quy định về tố cáo trong hoạt động tố tụng hình sự, đánh dấu bước tiến quan trọng so với BLTTHS năm 2003 vốn chưa có quy định chuyên biệt. Nhờ đó, trình tự thụ lý, thời hạn giải quyết và trách nhiệm thông báo cho người tố cáo được xác định rõ ràng và minh bạch hơn.
Điều 183 BLTTHS năm 2015 quy định việc ghi âm, ghi hình bắt buộc khi hỏi cung. Khi người bị buộc tội tố cáo bị ép cung hoặc ghi âm, ghi hình không đúng quy định, cơ quan tố tụng phải tiến hành kiểm tra lại băng ghi âm/ghi hình (Quốc hội, 2015).
Thứ hai, Viện kiểm sát tăng cường trách nhiệm giám sát hoạt động điều tra thông qua giải quyết tố cáo. Phần lớn tố cáo vi phạm tố tụng (đặc biệt trong giai đoạn điều tra) được chuyển đến Viện kiểm sát để xác minh. Nhiều năm trở lại đây, VKSND tối cao đã ban hành các kết luận yêu cầu hủy bỏ quyết định tố tụng, thay đổi điều tra viên hoặc yêu cầu điều tra lại khi phát hiện sai phạm qua đơn tố cáo: (1) Điển hình, một số vụ án phức tạp như vụ Nguyễn Văn Oai (Nghệ An), vụ Vườn điều Bình Phước, vụ Đặng Văn Hiến từng được xem xét lại một số nội dung tố tụng sau khi có đơn phản ánh vi phạm tố tụng (Báo Lào Cai, 2015); (2) Các báo cáo công tác kiểm sát hàng năm liên tục ghi nhận việc phát hiện lập biên bản không đúng thực tế, vi phạm thời hạn tạm giữ, hỏi cung không đúng thủ tục thông qua giải quyết đơn thư.
Thứ ba, một số vụ án có dấu hiệu oan, sai được phát hiện từ tố cáo của người trong cuộc. Trong nhiều vụ án có dấu hiệu oan, sai, tố cáo của người trong cuộc là yếu tố then chốt giúp làm lộ những vi phạm tố tụng mà hồ sơ không phản ánh. Nhiều trường hợp chỉ được phát hiện và xem xét lại nhờ các tố cáo kéo dài, kiên trì của bị cáo hoặc gia đình họ. Minh chứng điển hình là vụ Huỳnh Văn Nén và vụ Nguyễn Thanh Chấn: tố cáo về ép cung, điều tra thiếu khách quan đã tạo áp lực buộc cơ quan tố tụng rà soát, dẫn đến điều tra lại và minh oan. Dù xảy ra trước năm 2015, các vụ án này cho thấy tố cáo đóng vai trò như một “kênh phản hồi” đặc biệt quan trọng trong phát hiện vi phạm tố tụng và phòng ngừa oan, sai trong hệ thống tư pháp (Quốc hội, 2018).
Thứ tư, một số địa phương đã chú trọng kiểm tra thực tế khi xác minh tố cáo. Một chuyển biến đáng ghi nhận là nhiều cơ quan tiến hành tố tụng đã tăng cường kiểm tra thực tế thay vì chỉ dựa vào hồ sơ do người bị tố cáo lập. Việc xác minh trực tiếp thường bao gồm: làm việc với người tố cáo và người tham gia tố tụng; kiểm tra phòng hỏi cung và dữ liệu ghi âm, ghi hình; đối chiếu thời gian, địa điểm lập biên bản và lời khai; và tham khảo ý kiến luật sư hoặc người chứng kiến trong các trường hợp có mâu thuẫn.
Tuy nhiên, hiệu quả phát hiện và xử lý vi phạm tố tụng thông qua tố cáo tuy đã được cải thiện nhưng chưa tương xứng với vai trò của cơ chế này trong bảo vệ quyền con người, đặc biệt trong các vụ án có nguy cơ oan, sai.
b) Những hạn chế, bất cập trong giải quyết tố cáo vi phạm tố tụng
Mặc dù đạt được kết quả nhất định, thực tiễn cho thấy việc giải quyết tố cáo vi phạm tố tụng vẫn còn một số hạn chế, bất cập.
Thứ nhất, tính độc lập và khách quan chưa được bảo đảm đầy đủ. Trong một số trường hợp, cơ quan bị tố cáo cũng chính là cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố cáo hoặc có quan hệ phối hợp chặt chẽ với cơ quan giải quyết, dẫn đến nguy cơ thiếu khách quan và làm giảm hiệu quả kiểm soát quyền lực. Không ít phản ánh cho thấy có tình trạng giải quyết tố cáo mang tính hình thức, chủ yếu dựa trên hồ sơ giấy tờ do chính người bị tố cáo lập ra, trong khi bản chất vi phạm lại diễn ra ngoài hồ sơ.
Thứ hai, quy trình xác minh còn hạn chế, thiếu chiều sâu. Việc xác minh tố cáo trong lĩnh vực tố tụng có đặc thù là rất khó khăn: một số hành vi vi phạm (ép cung, mớm cung, gây áp lực) không để lại dấu vết. Tuy nhiên, trong thực tế, khâu xác minh đôi khi chỉ dừng ở việc “đối chiếu hồ sơ”, không tiến hành tiếp xúc độc lập với người tố cáo, luật sư, nhân chứng, hoặc không kiểm tra điều kiện vật chất (như phòng hỏi cung, ghi âm ghi hình). Điều này khiến nhiều tố cáo bị kết luận là “không có căn cứ”.
Thứ ba, cơ chế bảo vệ người tố cáo chưa hiệu quả. Dù Luật Tố cáo năm 2018 đã quy định về bảo vệ người tố cáo, nhưng trong thực tế, người tố cáo trong tố tụng hình sự, đặc biệt là bị can, bị cáo vẫn thường lo ngại bị trả thù, bị gây khó khăn trong quá trình hỏi cung, giám định, hoặc bị đánh giá là “thiếu hợp tác” (Bộ Tư pháp, 2024). Tâm lý sợ hãi khiến nhiều người từ bỏ quyền tố cáo hoặc không dám phản ánh sai phạm.
Thứ tư, thiếu cơ chế giám sát độc lập. Việc giám sát giải quyết tố cáo hiện nay chủ yếu giao cho cấp trên trực tiếp của cơ quan bị tố cáo hoặc giao cho Viện kiểm sát. Tuy nhiên, Viện kiểm sát vừa thực hiện chức năng giám sát, vừa có thể là đối tượng bị tố cáo, dẫn đến hạn chế về tính độc lập. Thiếu sự tham gia của các thiết chế giám sát độc lập (như luật sư, hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội) khiến quy trình thiếu tính minh bạch.
Thứ năm, tiếp cận thông tin và thiếu minh bạch trong trả lời tố cáo. Một số trường hợp người tố cáo không được biết rõ quá trình giải quyết, không được cung cấp kết quả xác minh đầy đủ, hoặc không có cơ chế khiếu nại đối với kết luận giải quyết tố cáo. Điều này làm giảm hiệu quả của tố cáo như một cơ chế kiểm soát quyền lực.
Những hạn chế trên cho thấy cơ chế giải quyết tố cáo chưa thực sự phát huy vai trò trong việc phòng ngừa oan, sai. Trong khi các vi phạm tố tụng thường diễn ra kín đáo và xuất hiện từ sớm, việc xử lý tố cáo chưa kịp thời và thiếu thực chất có thể dẫn đến kéo dài sai lệch, làm gia tăng nguy cơ oan, sai và xâm phạm quyền con người.
3. Giải pháp bảo đảm quyền con người trong giải quyết tố cáo vi phạm tố tụng
Từ những hạn chế đã phân tích, để cơ chế tố cáo thực sự phát huy vai trò trong bảo vệ quyền con người và phòng ngừa oan, sai, cần triển khai đồng bộ các giải pháp về pháp lý, tổ chức, nghiệp vụ và văn hóa tư pháp. Dưới đây là các nhóm giải pháp trọng tâm.
Một là, tăng cường tính độc lập và khách quan trong giải quyết tố cáo. Tính độc lập trong giải quyết tố cáo còn hạn chế khi cơ quan hoặc người bị tố cáo trực tiếp tham gia xác minh, dễ dẫn tới thiên lệch và bỏ lọt vi phạm, nhất là trong các vụ án có nguy cơ oan, sai. Vì vậy, tố cáo đối với điều tra viên, kiểm sát viên và thẩm phán cần được chuyển cho cơ quan cấp trên hoặc bộ phận độc lập thụ lý; quá trình xác minh phải dựa trên kiểm tra thực tế như đối chiếu dữ liệu hỏi cung, làm việc với người tố cáo, luật sư và người làm chứng, thay vì chỉ căn cứ vào hồ sơ do chính người bị tố cáo lập. Điều này giúp phản ánh đúng bản chất sự việc, bảo vệ quyền con người và giảm thiểu nguy cơ oan, sai.
Hai là, đổi mới phương pháp xác minh theo hướng dựa vào kiểm tra thực tế. Việc xác minh tố cáo hiện vẫn nặng về hồ sơ, trong khi nhiều vi phạm tố tụng trong các vụ án có nguy cơ oan, sai lại diễn ra “ngoài hồ sơ”, như ép cung, mớm cung hoặc lập biên bản không đúng thực tế. Do đó, cần chuyển mạnh sang kiểm tra thực tế: đối chiếu dữ liệu ghi âm, ghi hình, kiểm tra phòng hỏi cung, làm việc với người tố cáo và luật sư, đồng thời rà soát các dữ liệu liên quan như thời điểm trích xuất bị can. Tiếp cận từ nhiều nguồn độc lập giúp phát hiện vi phạm mà hồ sơ không thể phản ánh, làm cho việc giải quyết tố cáo thực chất hơn và tăng cường bảo vệ quyền con người.
Ba là, bảo vệ người tố cáo trong các vụ án có nguy cơ oan, sai. Trong các vụ án hình sự nhạy cảm, người tố cáo, đặc biệt là bị can, bị cáo và người thân thường chịu áp lực lớn, lo ngại bị trả thù hoặc gây khó khăn trong tố tụng nên dễ từ bỏ quyền tố cáo. Vì vậy, cần bảo vệ danh tính và an toàn của họ, tách thông tin cá nhân khỏi hồ sơ và hạn chế việc người bị tố cáo tiếp xúc trực tiếp với người tố cáo. Đồng thời, họ phải được tiếp cận luật sư hoặc trợ giúp pháp lý ngay từ đầu để tránh bị gây áp lực. Bảo vệ hiệu quả người tố cáo không chỉ giúp họ yên tâm phản ánh sai phạm mà còn giúp cơ quan tố tụng tiếp cận thông tin chính xác, kịp thời trong các vụ án có nguy cơ oan, sai.
Bốn là, nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong giải quyết tố cáo. Tính minh bạch trong giải quyết tố cáo còn hạn chế khi nhiều kết luận không nêu rõ căn cứ, phương pháp xác minh hay biện pháp khắc phục, khiến người tố cáo khó theo dõi và tạo dư địa cho xử lý hình thức. Để khắc phục, cơ quan có thẩm quyền cần công khai nội dung và các bước xác minh trong phạm vi cho phép, đồng thời bảo đảm kết luận thể hiện rõ chứng cứ đã kiểm tra và trách nhiệm của người vi phạm. Việc tăng cường giám sát của luật sư và các tổ chức nghề nghiệp cũng giúp nâng cao trách nhiệm giải trình, tính liêm chính và hiệu quả bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự.
Năm là, hoàn thiện pháp luật để tăng hiệu lực của cơ chế giải quyết tố cáo. Hoàn thiện pháp luật là điều kiện then chốt để nâng cao hiệu lực của cơ chế giải quyết tố cáo. Cần quy định rõ trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng khi xác minh có vi phạm, như hủy bỏ chứng cứ trái pháp luật, thay đổi người tiến hành tố tụng hoặc yêu cầu điều tra bổ sung. Đồng thời, cần hoàn thiện quy định về ghi âm, ghi hình bắt buộc khi hỏi cung và mở rộng áp dụng cho các vụ án phức tạp hoặc có tố cáo, với dữ liệu được lưu trữ độc lập để bảo đảm khách quan. Pháp luật cũng phải làm rõ trách nhiệm của người tiến hành tố tụng khi để xảy ra vi phạm nghiêm trọng hoặc gây oan, sai, bảo đảm mọi hành vi xâm phạm quyền con người đều được xử lý tương xứng. Đây là nền tảng để cơ chế tố cáo trở thành công cụ hiệu quả trong bảo vệ quyền con người.
Sáu là, xây dựng văn hóa tư pháp tôn trọng quyền con người và coi trọng tố cáo. Xây dựng văn hóa tư pháp tôn trọng quyền con người đòi hỏi coi việc tiếp nhận và giải quyết tố cáo như một trách nhiệm nghề nghiệp và chỉ số đánh giá liêm chính của cán bộ tư pháp. Đào tạo nghiệp vụ cần tích hợp nội dung về chuẩn mực hỏi cung, đánh giá chứng cứ và phòng ngừa oan, sai; đồng thời việc đánh giá cán bộ phải gắn với thái độ và trách nhiệm trong xử lý tố cáo. Khi văn hóa tư pháp đề cao minh bạch và trách nhiệm giải trình được hình thành, tố cáo sẽ được tiếp nhận cầu thị và chuyên nghiệp hơn, qua đó tăng hiệu quả bảo vệ quyền con người và củng cố niềm tin xã hội vào hoạt động tư pháp.
Kết luận
Giải quyết tố cáo vi phạm tố tụng trong các vụ án có nguy cơ oan, sai không chỉ là yêu cầu pháp lý, mà còn là cơ chế cốt lõi bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự. Những phân tích trên cho thấy, tố cáo đóng vai trò như một “kênh cảnh báo sớm” giúp phát hiện sai phạm, khắc phục kịp thời những lệch lạc trong điều tra, truy tố và xét xử. Tuy nhiên, hiệu quả của cơ chế này vẫn bị hạn chế bởi tính độc lập chưa đầy đủ, phương pháp xác minh nặng hình thức, người tố cáo thiếu được bảo vệ và quy trình còn thiếu minh bạch.
Để tố cáo thực sự trở thành công cụ ngăn ngừa oan, sai, cần đồng bộ các giải pháp nhằm tăng cường tính độc lập, đổi mới phương pháp xác minh, bảo vệ người tố cáo, hoàn thiện pháp luật và xây dựng văn hoá tư pháp tôn trọng quyền con người. Khi những giải pháp này được triển khai một cách hiệu quả, cơ chế tố cáo sẽ góp phần củng cố sự liêm chính của hoạt động tư pháp và bảo đảm quyền con người được tôn trọng trong mọi giai đoạn tố tụng.
---
Tài liệu tham khảo
Báo Lào Cai. (2015). Hai vụ án oan đặc biệt trong lịch sử tố tụng năm 2015. Truy cập từ https://baolaocai.vn/hai-vu-an-oan-dac-biet-trong-lich-su-to-tung-nam-2015-post254623.html.
Bộ Tư pháp. (2024). Báo cáo công tác bồi thường nhà nước năm 2023, nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp năm 2024.
Đào Trí Úc chủ biên. (2015). Giáo trình Nhà nước pháp quyền. Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 145-168.
Nguyễn Ngọc Chí. (2014). Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật tố tụng hình sự. Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, số 4.
Quốc hội. (2013). Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Quốc hội. (2015). Bộ luật Tố tụng hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Quốc hội. (2018). Luật Tố cáo.
Rawls, J. (1971). A theory of justice. Harvard University Press.
Trần Quang Tiệp. (2016). Bảo đảm quyền của người bị buộc tội trong luật tố tụng hình sự. Nxb. Chính trị Quốc gia.
United Nations. (1966). International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR).
Viện Kiểm sát nhân dân tối cao. (2023). Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát và kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp.