ThS. Nguyễn Bé Lê

Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

Bài viết được đăng trên Tạp chí Pháp luật về quyền con người số 53 (4/2026)

Tóm tắt: Bài viết phân tích việc áp dụng tập quán trong giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình là vấn đề có ý nghĩa quan trọng, góp phần dung hòa giữa pháp luật hiện đại và các giá trị văn hóa truyền thống, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền con người. Qua việc nghiên cứu các quy định pháp luật, các nguyên tắc, vị trí của tập quán và những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng tập quán. Từ đó, bài viết đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật, tăng cường việc áp dụng tập quán được thống nhất, khách quan, phù hợp với quyền con người, bình đẳng giới và yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Từ khóa: Áp dụng tập quán; hôn nhân gia đình; Tòa án; quyền con người.

Abstract: The application of customary practices in the resolution of marriage and family cases plays a significant role in harmonizing modern law with traditional cultural values, thereby contributing to the better protection of human rights. This article examines the legal framework, principles, and role of customary practices, as well as the challenges arising in their practical application. Based on this analysis, it proposes recommendations for improving the legal framework and enhancing the consistent and objective application of customary practices, ensuring compatibility with human rights standards, gender equality, and the requirements of a socialist rule-of-law state in Viet Nam

Keywords: Customary practices; marriage and family; courts; human rights.

 Quang cảnh phiên toà xét xử vụ án hôn nhân và gia đình. Nguồn: baovephapluat.vn.

Đặt vấn đề

Trong quá trình giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình, việc áp dụng tập quán (ADTQ) là một yêu cầu khách quan, xuất phát từ đặc thù văn hóa - xã hội đa dạng của Việt Nam. Thực tiễn cho thấy, tại nhiều địa phương, tập quán vẫn có ảnh hưởng nhất định đến việc xác lập, thực hiện và chấm dứt các quan hệ hôn nhân và gia đình. Việc ADTQ trong giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình không thể tách rời yêu cầu tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người theo tinh thần Hiến pháp năm 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Điều này đặt ra đòi hỏi phải có những giải pháp phù hợp nhằm tăng cường ADTQ một cách chọn lọc, có kiểm soát, bảo đảm sự hài hòa giữa pháp luật và các giá trị truyền thống, đồng thời không làm suy giảm các nguyên tắc về bình đẳng, tự do và nhân phẩm con người.

1. Cơ sở pháp lý của việc áp dụng tập quán trong giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình theo tiếp cận quyền con người

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, quyền con người được ghi nhận là giá trị nền tảng và xuyên suốt, được hiến định với 21 điều quy định về quyền con người trong Hiến pháp năm 2013, đặc biệt khoản 1 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 đã quy định: “Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” (Quốc hội, 2013). Theo đó, Nhà nước tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người; mọi quyền cơ bản của cá nhân, bao gồm quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, chỉ có thể bị hạn chế bằng luật trong những trường hợp thật sự cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội hoặc sức khỏe của cộng đồng. Cách tiếp cận này tạo cơ sở hiến định quan trọng để việc ADTQ trong giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình không được làm phương hại đến quyền con người, mà phải phục vụ mục tiêu bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ gia đình, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em và các nhóm yếu thế khác.

Trên cơ sở đó, pháp luật Việt Nam ghi nhận tập quán như một nguồn bổ trợ trong điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình, đồng thời đặt ra những giới hạn pháp lý chặt chẽ nhằm bảo đảm việc ADTQ phù hợp với các chuẩn mực về quyền con người. Khoản 4 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 xác định tập quán về hôn nhân và gia đình là các quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng về quyền, nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hôn nhân và gia đình, được hình thành, lặp đi lặp lại trong thời gian dài và được thừa nhận rộng rãi trong một vùng, miền hoặc cộng đồng (Quốc hội, 2014). Quy định này thể hiện quan điểm nhất quán của Nhà nước trong việc tôn trọng, kế thừa các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp, song chỉ thừa nhận những tập quán phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật và tiến bộ xã hội.

Điều 7 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 tiếp tục khẳng định nguyên tắc ADTQ theo hướng bảo vệ quyền con người, khi quy định rằng tập quán chỉ được áp dụng trong trường hợp pháp luật không có quy định và các bên không có thỏa thuận, đồng thời tập quán đó phải là tập quán tốt đẹp, không trái với các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình và không vi phạm điều cấm của Luật (Quốc hội, 2014). Như vậy, tập quán chỉ có giá trị pháp lý khi đáp ứng đồng thời ba điều kiện: pháp luật chưa điều chỉnh; các bên không có thỏa thuận và nội dung tập quán không xâm phạm các nguyên tắc nền tảng của chế độ hôn nhân và gia đình. Cách tiếp cận này cho thấy sự dung hòa giữa yêu cầu tôn trọng đa dạng văn hóa và nghĩa vụ bảo vệ quyền con người trong khuôn khổ pháp lý thống nhất của Nhà nước.

Trong tổng thể hệ thống pháp luật, khoản 1 Điều 5 Bộ luật Dân sự năm 2015 khẳng định tập quán được áp dụng khi các bên không có thỏa thuận và pháp luật không có quy định, với điều kiện tập quán đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự (Quốc hội, 2015a). Đồng thời, khoản 1 Điều 45 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 cho phép đương sự viện dẫn tập quán khi yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, trong đó có các vụ việc hôn nhân và gia đình; trường hợp tồn tại nhiều tập quán khác nhau thì ADTQ được thừa nhận tại nơi phát sinh quan hệ tranh chấp (Quốc hội, 2015b). Các quy định này vừa bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự, vừa đặt Tòa án vào vị trí trung tâm trong việc kiểm soát tính hợp pháp, hợp lý của tập quán nhằm ngăn ngừa nguy cơ xâm phạm quyền con người.

2. Nguyên tắc áp dụng tập quán trong giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình góp phần bảo vệ quyền con người

Về nguyên tắc, tập quán chỉ được áp dụng với vai trò bổ trợ khi pháp luật không có quy định và các bên không có thỏa thuận. Theo Linh T. M. Nguyen, đây là biểu hiện của tính linh hoạt trong một hệ thống pháp luật “lai ghép”, tập quán không phủ định luật thành văn mà góp phần hoàn thiện và nhân văn hóa pháp luật, đặc biệt trong các quan hệ hôn nhân và gia đình gắn với phong tục, tập quán của cộng đồng dân tộc thiểu số (Linh T. M. Nguyen, 2020, pp.138).

Tuy nhiên, tập quán chỉ được thừa nhận khi không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc gia, nhất là các nguyên tắc về tự nguyện, bình đẳng, tôn trọng danh dự, nhân phẩm và bảo vệ quyền phụ nữ, trẻ em. Quan điểm này phù hợp với lập luận của Menski (2006, pp.214-216) về đa hệ pháp luật, theo đó mọi tập quán đều phải được soi chiếu dưới các giá trị nền tảng của nhà nước pháp quyền nhằm bảo đảm công lý và trật tự công.

Bên cạnh đó, việc áp ADTQ dụng tập quán phải tôn trọng bản sắc văn hóa và bảo đảm sự tương thích xã hội. Như Griffiths (1986, pp.39-40) chỉ ra, trong các xã hội đa tộc người luôn tồn tại song song nhiều trật tự pháp lý, trong đó tập quán là một dạng pháp luật phi chính thức có hiệu quả điều chỉnh cao trong cộng đồng truyền thống. Thực tiễn xét xử ở Việt Nam cho thấy, khi được vận dụng phù hợp, tập quán góp phần tăng tính chính danh xã hội của các quyết định tư pháp.

Một nguyên tắc quan trọng khác là sự hài hòa giữa luật nhà nước và luật phi chính thức. Theo Gillespie và Tran (2022, pp.1-42), khả năng dung hòa hai trật tự pháp lý này tạo nên đặc trưng của mô hình pháp luật, giúp việc giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình vừa tuân thủ pháp luật, vừa phù hợp với đời sống xã hội.

Từ đó, các nguyên tắc chung khi ADTQ có thể được khái quát qua những khía cạnh sau: (1) chỉ áp dụng khi pháp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận; (2) tập quán không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật; (3) phải tôn trọng bản sắc văn hóa, phù hợp với đạo đức xã hội và trật tự công; (4) bảo đảm công bằng, bình đẳng và quyền con người và (5) hướng đến sự hài hòa giữa luật nhà nước và luật phi chính thức. Những nguyên tắc này không chỉ được xác lập trong pháp luật Việt Nam mà còn có cơ sở vững chắc trong các học thuyết và kinh nghiệm quốc tế về đa hệ pháp luật (legal pluralism).

Nguyên tắc có ý nghĩa nền tảng trong việc ADTQ là nguyên tắc bổ trợ, theo đó tập quán chỉ được xem xét áp dụng khi pháp luật không có quy định điều chỉnh và các bên trong quan hệ hôn nhân và gia đình không có thỏa thuận. Nguyên tắc này phản ánh đặc trưng của hệ thống pháp luật Việt Nam - một hệ thống pháp luật đa tầng, kết hợp giữa luật thành văn và các chuẩn mực xã hội truyền thống. Như nhiều nghiên cứu đã chỉ ra, việc thừa nhận tập quán không làm suy giảm vai trò của pháp luật thành văn mà góp phần hoàn thiện và nhân văn hóa pháp luật, giúp pháp luật thích ứng linh hoạt hơn với sự đa dạng văn hóa  xã hội.

Pháp luật hôn nhân và gia đình hiện hành đã cụ thể hóa nguyên tắc này thông qua việc xác lập rõ phạm vi và điều kiện ADTQ. Khoản 4 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 định nghĩa tập quán về hôn nhân và gia đình là các quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng về quyền, nghĩa vụ của các bên, được lặp đi, lặp lại trong thời gian dài và được thừa nhận rộng rãi trong một vùng, miền hoặc cộng đồng. Quy định này khẳng định địa vị pháp lý của tập quán như một nguồn bổ trợ của pháp luật, đồng thời đặt nền tảng cho việc sàng lọc những tập quán phù hợp với các giá trị pháp lý và nhân văn của xã hội hiện đại (Quốc hội, 2014).

Điều 7 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 tiếp tục xác lập nguyên tắc áp dụng có điều kiện, theo đó chỉ cho phép áp dụng những tập quán tốt đẹp, thể hiện bản sắc dân tộc, không trái với các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 2 và không vi phạm các điều cấm của Luật (Quốc hội, 20114). Như vậy, tập quán chỉ được thừa nhận khi bảo đảm các giá trị cốt lõi về quyền con người như hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, bình đẳng giữa vợ và chồng, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của con cái. Các nguyên tắc này chính là “hàng rào pháp lý” nhằm loại trừ các tập quán lạc hậu, phân biệt đối xử hoặc xâm phạm quyền con người, đồng thời khẳng định giá trị của những tập quán tiến bộ, phù hợp với yêu cầu phát triển xã hội.

3. Những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng tập quán từ góc độ bảo vệ quyền con người

Thực tiễn xét xử tại Việt Nam cho thấy, việc áp dụng tập quán vẫn còn nhiều vướng mắc. Một bộ phận thẩm phán chưa am hiểu sâu sắc tập quán địa phương, dẫn đến tâm lý e dè, ngại áp dụng. Sự thiếu vắng các công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống và cập nhật về tập quán cũng làm giảm khả năng nhận diện, phân loại và đánh giá tính hợp pháp của tập quán trong xét xử (Nguyễn Văn Cương, 2018). Ở góc nhìn hệ thống Tòa án, chưa có cách hiểu thực sự thống nhất về tập quán, do vậy, rất khó xác định những tập quán nào là tập quán phù hợp để Tòa án nhân dân các cấp áp dụng (Nguyễn Thị Tuyết Mai, 2014). 

Theo Báo cáo tổng kết 10 năm thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 (UBND xã Gia Phúc, 2025) cho thấy, dù pháp luật chỉ cho phép áp ADTQ dụng tập quán tốt đẹp, song trên thực tế, việc đánh giá tập quán nào là “tốt đẹp” vẫn phụ thuộc nhiều vào nhận thức chủ quan của từng địa phương và người thực thi pháp luật. Vì vậy tiềm ẩn nguy cơ xâm phạm nghiêm trọng quyền con người.

ADTQ trong thực tiễn xét xử có xu hướng ngày càng ít, do pháp luật hiện đại ngày càng hoàn thiện và tâm lý e ngại của thẩm phán khi lo ngại bản án bị sửa, hủy ở cấp trên (Nguyễn Tấn Hoàng Hải & Nguyễn Phương Ân, 2024). Quy định về ADTQ trong Bộ luật Dân sự năm 2015 mang tính tùy nghi, trong khi Bộ luật Tố tụng dân sự lại trao quyền viện dẫn tập quán cho đương sự, đã dẫn đến sự thiếu thống nhất trong thực tiễn xét xử giữa các cấp Tòa án. Cũng không ít trường hợp, khi xét xử Tòa án đã không xem xét tập quán, làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự (Lê Văn Sua, 2016).

Đáng chú ý, để việc ADTQ được thực hiện thống nhất trên phạm vi toàn quốc, Điều 6 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP quy định rõ trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: “Trong thời hạn ba năm kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm xây dựng, trình Hội đồng nhân dân cùng cấp phê duyệt danh mục các tập quán về hôn nhân và gia đình được áp dụng tại địa phương” (Chính phủ, 2014). Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy đến nay, phần lớn các địa phương vẫn chưa hoàn tất việc lập và phê duyệt danh mục này. Đây là một khoảng trống pháp lý cần sớm được khắc phục để bảo đảm tính đồng bộ và hiệu quả của chính sách pháp luật. Vừa qua, Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Tuy nhiên về vấn đề ADTQ vẫn chưa được sửa đổi bổ sung hoàn thiện.

Từ những phân tích trên có thể khẳng định rằng, những vướng mắc trong ADTQ hiện nay còn xuất phát từ các nguyên nhân sau:

Thứ nhất, nhận thức và cách hiểu chưa thống nhất về phạm vi và điều kiện ADTQ trong giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình. Sự thiếu thống nhất này dẫn đến tình trạng cùng một loại tập quán nhưng được áp dụng ở vụ việc này, địa phương này, trong khi lại bị bác bỏ ở vụ việc hoặc địa phương khác, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc bảo đảm công bằng và bình đẳng trong thụ hưởng quyền con người (Nguyễn Bé Lê, 2021a).

Thứ hai, khó khăn trong việc chứng minh sự tồn tại và nội dung của tập quán. Khác với pháp luật thành văn, tập quán chủ yếu tồn tại dưới dạng bất thành văn, được truyền miệng và thực hành lâu dài trong cộng đồng. Trong quá trình giải quyết vụ việc, đương sự thường gặp nhiều trở ngại trong việc chứng minh tính ổn định, phổ biến và nội dung cụ thể của tập quán, trong khi cơ quan tiến hành tố tụng chưa có cơ chế thống nhất, rõ ràng để thu thập, thẩm định và đánh giá chứng cứ về tập quán. Điều này có thể dẫn đến việc tập quán không được xem xét đầy đủ, làm hạn chế khả năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể, nhất là đối với những nhóm yếu thế trong xã hội (Nguyễn Bé Lê, 2021b).

Thứ ba, nguy cơ xung đột giữa tập quán và các chuẩn mực quyền con người hiện đại. Không phải mọi tập quán đều mang giá trị nhân văn; trên thực tế vẫn tồn tại những tập quán lạc hậu. Việc phân định giữa tập quán cần được bảo tồn với tập quán cần loại bỏ trong thực tiễn áp dụng còn gặp nhiều lúng túng, nếu không được nhận diện và xử lý đúng đắn có thể dẫn đến việc hợp thức hóa những hành vi vi phạm quyền con người dưới danh nghĩa tôn trọng truyền thống văn hóa.

4. Giải pháp tăng cường áp dụng tập quán trong giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình nhằm bảo vệ quyền con người

Thứ nhất, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về áp dụng tập quán theo hướng lấy quyền con người làm tiêu chí trung tâm.

Pháp luật cần tiếp tục cụ thể hóa các nguyên tắc đã được ghi nhận trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Bộ luật Dân sự năm 2015, trong đó nhấn mạnh yêu cầu sàng lọc tập quán trên cơ sở bảo đảm các quyền cơ bản của con người, đặc biệt là quyền bình đẳng giới, quyền của phụ nữ, trẻ em và các nhóm yếu thế. Việc hoàn thiện pháp luật không nhằm “luật hóa” toàn bộ tập quán, mà xác lập rõ các tiêu chí đánh giá tính hợp pháp, tính nhân văn và tính phù hợp với chuẩn mực quyền con người của tập quán được viện dẫn trong tố tụng.

Thứ hai, nâng cao năng lực và trách nhiệm của Tòa án trong việc nhận diện, đánh giá và áp dụng tập quán.

Tòa án giữ vai trò trung tâm trong việc quyết định tập quán nào được áp dụng và mức độ áp dụng ra sao. Do đó, việc ADTQ phải gắn với nghĩa vụ giải trình tư pháp, bảo đảm rằng mọi quyết định viện dẫn tập quán đều được lý giải rõ ràng, minh bạch và đặt dưới sự kiểm soát của các nguyên tắc bảo vệ quyền con người.

Thứ ba, xây dựng cơ chế hướng dẫn và tham chiếu tập quán một cách thống nhất.

Một trong những khó khăn lớn hiện nay là sự thiếu thống nhất trong việc xác định nội dung và giá trị pháp lý của tập quán. Vì vậy, cần từng bước hình thành hệ thống cơ sở dữ liệu hoặc các hướng dẫn mang tính tham chiếu về tập quán trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, nhất là những tập quán tốt đẹp, tiến bộ đã được thực tiễn xét xử thừa nhận. Cơ chế này không làm mất đi tính linh hoạt của tập quán, mà giúp hạn chế sự tùy nghi, bảo đảm tính dự đoán được của pháp luật và qua đó bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể.

Kết luận

Việc ADTQ trong giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình là một biểu hiện quan trọng của tư duy pháp luật nhân văn, phản ánh sự kết hợp hài hòa giữa pháp luật thành văn và các giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng. Tập quán khi được thừa nhận và vận dụng đúng nguyên tắc không chỉ góp phần lấp đầy những khoảng trống pháp lý mà còn tăng cường khả năng bảo vệ các quyền con người cơ bản, nhất là quyền của phụ nữ, trẻ em và các nhóm yếu thế khác. Vì vậy, tập quán được sàng lọc, kiểm soát và vận dụng thống nhất trong khuôn khổ pháp luật, thì mới thực sự trở thành công cụ hỗ trợ hiệu quả cho công lý và góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam lấy con người làm trung tâm./.

---

Tài liệu tham khảo

Nguyễn Văn Cương (2018). Báo cáo tổng hợp kết quả nhiệm vụ: Các tập quán điển hình điều chỉnh quan hệ dân sự, thương mại, hôn nhân và gia đình ở Việt Nam và thực tiễn áp dụng của các cơ quan có thẩm quyền. Viện Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp.

Gillespie, J., & Tran, H. T. Q. (2022). Legal pluralism and the struggle for customary law in the Vietnamese highlands. American Journal of Comparative Law, 70(1), 1-42.

Griffiths, J. (1986). What is legal pluralism? Journal of Legal Pluralism and Unofficial Law, 24, 39–40.

Nguyễn Tấn Hoàng Hải và Nguyễn Phương Ân. Hoàn thiện quy định về áp dụng tập quán trong giải quyết vụ việc dân sự. Truy cập ngày 28/3/2024, từ https://kiemsat.vn/hoan-thien-quy-dinh-ve-ap-dung-tap-quan-trong-giai-quyet-vu-viec-dan-su-68769.html

Nguyễn Bé Lê. (2021a). Điều kiện áp dụng tập quán trong giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình tại Tòa án nhân dân. Tạp chí Công Thương, (4).

Nguyễn Bé Lê (2021b). Xác định và áp dụng tập quán trong giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình tại Tòa án nhân dân. Tạp chí Tòa án nhân dân, (6).

Nguyễn Thị Tuyết Mai (2014). Áp dụng tập quán trong giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay (Luận án Tiến sĩ). Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

Menski, W. F. (2006). Comparative law in a global context: The legal systems of Asia and Africa. Cambridge University Press.

Lê Văn Sua. Áp dụng tập quán trong pháp luật dân sự - những vướng mắc, bất cập cần hoàn thiện. Truy cập ngày 01/9/2025, từ https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1927

Nguyễn, T. M. L. (2020). General principles of family law and their impact on the matrimonial property law in Vietnam. JURA, (4), 138.

Quốc hội. (2013). Hiến pháp.

Quốc hội. (2014). Luật Hôn nhân và Gia đình.

Quốc hội. (2015a). Bộ luật Dân sự.

Quốc hội. (2015b). Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Ủy ban nhân dân xã Gia Phúc. (2025). Báo cáo tổng kết 10 năm thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 (ngày 05/9/2025).