Tóm tắt: Bài viết phân tích yêu cầu đổi mới tư duy và quy trình xây dựng luật ở Việt Nam trong bối cảnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2022). Trọng tâm nghiên cứu gồm ba nội dung: (i) đổi mới tư duy làm luật theo hướng kiến tạo phát triển và bảo đảm quyền, (ii) cải cách quy trình xây dựng pháp luật nhằm nâng cao chất lượng, tính minh bạch và khả thi của các văn bản quy phạm pháp luật, (iii) cơ chế nhận diện, xử lý xung đột lợi ích trong quá trình lập pháp, (iv) bảo đảm quyền trong xây dựng pháp luật. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất hướng tiếp cận mới về mô hình luật mang tính nguyên tắc, trong đó nghị định và thông tư đóng vai trò cụ thể hóa linh hoạt.
Từ khóa: Đổi mới tư duy làm luật; xung đột lợi ích; xây dựng pháp luật; bảo đảm quyền.
Abstract: This article analyzes the need for innovation in thinking and the process of lawmaking in Vietnam in the context of building and perfecting the socialist rule-of-law state (Communist Party of Vietnam, 2022). The research focuses on three main areas: (i) innovation in lawmaking thinking towards constructive development and assurance of rights, (ii) reform of the lawmaking process to improve the quality, transparency, and feasibility of legal documents, (iii) mechanisms for identifying and handling conflicts of interest in the legislative process, and (iv) ensuring rights in lawmaking. Based on this, the article proposes a new approach to a principled law model, in which decrees and circulars play a flexible role in concretizing the statutory regulations.
Keywords: Innovation in lawmaking thinking; conflicts of interest; lawmaking; assurance of rights.

Quang cảnh Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV. Nguồn: quochoi.vn.
1. Bối cảnh hiện tại đặt ra yêu cầu cần phải đổi mới xây dựng Luật
Hệ thống pháp luật, mà hạt nhân là các Luật do Quốc hội ban hành, được xem là công cụ thể chế hóa chủ trương của Đảng, điều chỉnh các quan hệ xã hội, tạo hành lang pháp lý cho sự phát triển bền vững của đất nước. Hoạt động xây dựng pháp luật luôn giữ vị trí trung tâm của quản trị quốc gia. Tuy nhiên, nhiều nhận định trong các báo cáo tổng kết cho thấy, tư duy làm luật và quy trình lập pháp vẫn còn nặng về quản lý, hành chính, thiếu tính dự báo, chưa chú trọng đầy đủ đến quyền và lợi ích của người dân, doanh nghiệp. Nghị quyết số 27-NQ/TW (2022) và Nghị quyết số 66-NQ/TW (2025) của Bộ Chính trị đã khẳng định yêu cầu cấp bách phải đổi mới toàn diện hoạt động xây dựng và thi hành pháp luật, xem đây là động lực quan trọng thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững đất nước. Mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; năm 2025 cơ bản xử lý xong các “điểm nghẽn” pháp luật; năm 2027 hoàn thiện việc sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản pháp luật bảo đảm cơ sở pháp lý đồng bộ cho bộ máy nhà nước theo mô hình chính quyền ba cấp; năm 2028 hoàn thiện pháp luật về đầu tư, kinh doanh, đưa môi trường đầu tư của Việt Nam vào nhóm ba quốc gia dẫn đầu ASEAN (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2025).
Hoạt động xây dựng pháp luật nói chung, hoạt động xây dựng luật cần được tiến hành nhanh chóng, kịp thời, phù hợp với thực tiễn và giải quyết hiệu quả các vấn đề đặt ra từ thực tiễn. Đồng thời, phải chú trọng nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật; bảo đảm quy trình thực hiện chuyên nghiệp, khoa học, khả thi và hiệu quả; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, cùng với sự tham gia của Nhân dân, chuyên gia và giới khoa học. Tư duy xây dựng pháp luật cũng cần đổi mới, định hướng theo hướng vừa bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước, vừa khuyến khích sáng tạo, giải phóng toàn bộ tiềm năng sản xuất và khai thông mọi nguồn lực phát triển. Công tác xây dựng pháp luật cần bảo đảm thể chế hóa đầy đủ, chính xác và kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng; đặt lợi ích chung của quốc gia lên hàng đầu; biến thể chế, pháp luật thành lợi thế cạnh tranh; kiên quyết loại bỏ tư duy “không quản được thì cấm”. Quá trình này phải phát huy dân chủ, tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân; đồng thời cân đối hợp lý giữa mức độ hạn chế quyền và lợi ích chính đáng đạt được. Cụ thể tập trung vào: (i) Hoàn thiện hệ thống pháp luật về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước cùng hệ thống chính trị; (ii) Phát huy dân chủ, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân; (iii) Xây dựng, hoàn thiện pháp luật về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo hướng tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi, minh bạch, an toàn, chi phí tuân thủ thấp; mạnh mẽ cắt giảm, đơn giản hóa các điều kiện đầu tư, kinh doanh, hành nghề và thủ tục hành chính bất hợp lý; đồng thời thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh ổn định. Bảo đảm thực chất các quyền về tự do kinh doanh, quyền sở hữu tài sản và quyền tự do hợp đồng, đồng thời duy trì sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế; xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia. Hoàn thiện cơ sở pháp lý để khu vực kinh tế tư nhân có thể tiếp cận hiệu quả các nguồn lực về vốn, đất đai và nhân lực chất lượng cao; khuyến khích hình thành, phát triển các tập đoàn kinh tế tư nhân có quy mô tầm khu vực và quốc tế; bảo đảm hỗ trợ thiết thực, hiệu quả đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đồng thời, ưu tiên xây dựng pháp luật về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tạo hành lang pháp lý cho các lĩnh vực mới, phi truyền thống như trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, khai thác nguồn lực dữ liệu, tài sản mã hóa..., nhằm tạo ra động lực tăng trưởng mới, thúc đẩy sự hình thành lực lượng sản xuất hiện đại và các ngành công nghiệp mới. Hoàn thiện cơ chế, chính sách mang tính đột phá, có ưu thế cạnh tranh vượt trội nhằm phát triển các trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do và các khu kinh tế trọng điểm; (iv) Hoàn thiện hệ thống thể chế, pháp luật nhằm thúc đẩy phát triển toàn diện các lĩnh vực: giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài; văn hóa, thông tin, truyền thông, thể thao, y tế, an sinh xã hội; bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu; tư pháp, quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; đối ngoại và hội nhập quốc tế.
Đa dạng hóa nguồn pháp luật và xác định rõ ràng, chính xác thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của từng cơ quan. Những vấn đề trọng yếu của quốc gia thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội cần được luật hóa tối đa. Đối với các bộ luật, luật liên quan đến quyền con người, quyền công dân và tố tụng tư pháp, nội dung cần được quy định cụ thể. Riêng các luật điều chỉnh nội dung về kiến tạo phát triển nên chỉ quy định khung, các nguyên tắc cơ bản thuộc thẩm quyền của Quốc hội, còn những vấn đề mang tính thực tiễn, thường xuyên thay đổi thì giao cho Chính phủ, bộ, ngành hoặc chính quyền địa phương quy định để bảo đảm tính linh hoạt và phù hợp thực tế. Đồng thời, đẩy mạnh ban hành các đạo luật có nội dung chi tiết, hiệu lực thi hành trực tiếp; khắc phục tình trạng luật thiếu ổn định hoặc chậm có văn bản hướng dẫn chi tiết. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và xử lý văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật; siết chặt kỷ luật, kỷ cương, đề cao trách nhiệm, đặc biệt là trách nhiệm của người đứng đầu, kiên quyết phòng chống tiêu cực và “lợi ích nhóm” trong quá trình xây dựng pháp luật.
Thực tiễn công tác xây dựng luật trong những năm qua đã bộc lộ nhiều hạn chế. Một số đạo luật chậm được ban hành, chưa kịp thời thể chế hóa đầy đủ các chủ trương lớn; nhiều quy định còn chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu khả thi, gây khó khăn cho quá trình thực thi. Đặc biệt, tư duy làm luật vẫn còn mang nặng tính quản lý hành chính, chưa thực sự cởi mở, kiến tạo. Quy trình làm luật còn thiếu chuyên nghiệp, đôi khi mang tính hình thức, chưa phát huy được đầy đủ trí tuệ tập thể và sự tham gia thực chất của các đối tượng chịu tác động. Các vấn đề này đã được đề cập trong một số văn bản quan trọng, như Nghị quyết số 66-NQ/TW và Thông báo số 108-TB/VPTW ngày 18/11/2024 của Văn phòng Trung ương Đảng về kết luận của Tổng Bí thư Tô Lâm tại buổi làm việc với Ban cán sự đảng Bộ Tư pháp. Cụ thể, vẫn còn tình trạng một số chủ trương, định hướng của Đảng chưa được thể chế hóa kịp thời, đầy đủ; tư duy xây dựng pháp luật ở một số lĩnh vực còn nặng về quản lý; chất lượng văn bản pháp luật chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn; tồn tại các quy định chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu rõ ràng, gây khó khăn cho việc thi hành, chưa tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, thu hút và khai thông nguồn lực đầu tư; việc phân cấp, phân quyền chưa đủ mạnh; thủ tục hành chính vẫn còn phức tạp, rườm rà.
Cùng với các chủ trương lớn về tinh gọn bộ máy của cả hệ thống chính trị, đẩy manh phân cấp, phân quyền trong các lĩnh vực, sắp xếp lại đơn vị hành chính, bỏ cấp huyện, đổi mới tư duy làm luật và xây dựng luật là sự cần thiết và có ý nghĩa quan trọng dẫn đến sự thành công của việc tổ chức thực hiện các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước.
2. Những vấn đề đặt ra trong quá trình đổi mới tư duy làm luật và quy trình xây dựng Luật trong bối cảnh Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
- Đổi mới tư duy làm luật đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia hiệu đại hiệu quả, kỷ nguyên mới
Tư duy làm luật hiện đại đòi hỏi chuyển từ mô hình “pháp luật điều hành” sang “pháp luật kiến tạo phát triển”. Đổi mới tư duy lập pháp phải đặt quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, tổ chức, doanh nghiệp làm trung tâm, đồng thời đề cao nguyên tắc minh bạch, trách nhiệm giải trình và tính khả thi của pháp luật. Tư duy mới coi pháp luật là công cụ bảo đảm tự do, sáng tạo, thay vì công cụ kiểm soát. Cần loại bỏ tư duy “không quản được thì cấm”, đồng thời phát huy vai trò phản biện xã hội, sự tham gia của người dân và các chủ thể xã hội trong quá trình lập pháp.
Nguyên tắc cốt lõi của lập pháp kiến tạo phải đặt quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, tổ chức, doanh nghiệp làm trung tâm. Pháp luật phải được xây dựng để bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân trước tiên. Các quy định hạn chế quyền phải được xem là ngoại lệ, chỉ được áp dụng khi thật sự cần thiết và phải được quy định rõ ràng, cụ thể trong Luật.
Một khía cạnh quan trọng của tư duy kiến tạo là tính dự báo và tương lai. Công tác xây dựng pháp luật cần tạo hành lang pháp lý cho các lĩnh vực mới, phi truyền thống như trí tuệ nhân tạo (AI), chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, khai thác nguồn lực dữ liệu, và tài sản mã hóa. Điều này đòi hỏi các nhà lập pháp phải có tầm nhìn chiến lược, tạo ra các quy định mang tính mở, khuyến khích sáng tạo để thúc đẩy sự hình thành lực lượng sản xuất hiện đại và các ngành công nghiệp mới.
Tuy nhiên, việc loại bỏ tư duy “không quản được thì cấm” đặt ra một thách thức lớn trong thực tiễn hành chính: làm thế nào để thể chế hóa khả năng chấp nhận rủi ro chính sách. Trong môi trường pháp lý cũ, cán bộ công chức thường sợ trách nhiệm cá nhân nếu các quy định kiến tạo hoặc thí điểm chính sách dẫn đến rủi ro hoặc sai sót không lường trước. Nếu không có cơ chế pháp lý rõ ràng bảo vệ những người làm luật và người thực thi đã hành động thiện chí nhưng gặp thất bại trong các lĩnh vực mới, họ sẽ tự động chọn các giải pháp quản lý nặng nề để đảm bảo an toàn cá nhân, dẫn đến sự trì trệ. Do đó, cần thiết phải bổ sung các quy định về “miễn trừ trách nhiệm đối với rủi ro chính sách thử nghiệm” trong Luật Cán bộ, công chức hoặc Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt khi triển khai các Nghị quyết thí điểm của Quốc hội. Điều này sẽ thúc đẩy sự mạnh dạn và tinh thần kiến tạo trong đội ngũ công chức.
- Cải cách quy trình xây dựng luật: từ “làm luật” sang “quản trị lập pháp”
Cải cách quy trình xây dựng luật là một khâu trọng yếu để nâng cao chất lượng pháp luật. Hiện nay, quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật vẫn còn phức tạp, chồng chéo, nhiều khâu hình thức. Cần đổi mới theo hướng chuyên nghiệp, khoa học và minh bạch hơn, trong đó: (i) quy trình lập pháp phải dựa trên đánh giá tác động chính sách; (ii) tăng cường vai trò thẩm định, thẩm tra độc lập; (iii) ứng dụng công nghệ số và dữ liệu mở trong lập pháp; và (iv) bảo đảm cơ chế giám sát, phản hồi liên tục từ thực tiễn thi hành pháp luật.
Phân định rõ ràng quy trình chính sách và soạn thảo. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 đã có những đổi mới căn bản, đáng chú ý là việc tách quy trình chính sách khỏi việc lập Chương trình lập pháp hằng năm, và chuyển thẩm quyền quyết định Chương trình từ Quốc hội sang Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Sự phân định này nhằm mở rộng tối đa quyền chủ động cho cơ quan trình (đặc biệt là Chính phủ) để ứng phó linh hoạt với tình huống thực tiễn và tránh tình trạng cơ quan đề xuất phải lập hồ sơ chính sách khi kiến nghị đưa vào Chương trình.
Việc thu hẹp các trường hợp phải thực hiện quy trình hai giai đoạn (chính sách và soạn thảo), chỉ áp dụng đối với luật mới hoặc luật sửa đổi có nội dung hạn chế quyền con người, quyền công dân, giúp tinh giản hóa quy trình đối với các dự án luật thông thường, đồng thời tăng cường sự tập trung vào việc bảo vệ quyền. Quy trình xây dựng chính sách đã được đơn giản hóa và hợp lý hơn, bổ sung hoạt động tham vấn chính sách nhằm tìm kiếm sự đồng thuận và bảo đảm tính khả thi của chính sách.
Hoạt động xây dựng luật phải được tiến hành trên cơ sở khoa học, dựa trên dữ liệu, bằng chứng và kết quả nghiên cứu thực tiễn. Đây là yếu tố then chốt để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả của các văn bản quy phạm pháp luật.
Để đảm bảo quy trình lập pháp chuyên nghiệp và khoa học, cần tăng cường vai trò thẩm định, thẩm tra độc lập. Các báo cáo thẩm định và thẩm tra phải tiếp tục được nâng cao chất lượng, bảo đảm tính độc lập, khách quan, và có tính phản biện cao đối với dự thảo văn bản. Song song với thẩm định trước lập pháp, việc thiết lập cơ chế giám sát sau lập pháp là một yếu tố không thể thiếu trong mô hình quản trị lập pháp toàn diện. PLS (Post-Legislative Scrutiny) là quá trình Quốc hội hoặc các ủy ban chuyên môn đánh giá tác động, hiệu lực, và hiệu quả của một đạo luật sau khi nó đã được thực thi trong một khoảng thời gian nhất định (thường là 3-5 năm) (Alex Brazier, 2017).
Quy trình lập pháp hiện tại ở Việt Nam đã chú trọng đến giai đoạn trước và trong khi ban hành, nhưng thiếu cơ chế PLS chính thức và hệ thống. Nếu không có cơ chế này, các vấn đề chồng chéo, mâu thuẫn, hoặc hậu quả không mong muốn của luật chỉ được phát hiện một cách ngẫu nhiên, thay vì thông qua một quá trình phản hồi chuyên nghiệp, có hệ thống. Kinh nghiệm quốc tế, như Nghị viện Anh và Úc, cho thấy PLS là cách thức hiệu quả để các nhà lập pháp lắng nghe ý kiến và kinh nghiệm của những người chịu tác động, đánh giá xem luật có đạt được mục tiêu chính sách ban đầu hay không, và đưa ra kiến nghị sửa đổi kịp thời. Việc đánh giá hiệu quả của luật không chỉ dừng lại ở việc tuân thủ mà phải bao gồm tính hiệu lực và ảnh hưởng thực tế đối với xã hội. Việc thể chế hóa PLS, giao cho các Ủy ban của Quốc hội (hoặc một Ủy ban Kiểm tra Chính sách độc lập) thực hiện đánh giá định kỳ các luật quan trọng, là vòng lặp cần thiết để đóng kín Chu trình quản trị Lập pháp (Legi). Điều này đảm bảo rằng pháp luật thực sự kiến tạo phát triển và kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh từ thực tiễn thi hành, đáp ứng mục tiêu chiến lược của Nghị quyết số 66-NQ/TW.
- Cơ chế xử lý xung đột lợi ích trong quá trình lập pháp
Xung đột lợi ích là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây nên tình trạng pháp luật chồng chéo, thiếu nhất quán. Theo Nghị quyết 66-NQ/TW (2025), cần thiết lập cơ chế nhận diện, đánh giá và xử lý xung đột lợi ích ngay từ giai đoạn soạn thảo dự án luật. Các biện pháp có thể gồm: công khai hồ sơ lập pháp, yêu cầu kê khai và kiểm soát lợi ích của người tham gia soạn thảo, mở rộng phản biện xã hội, và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và báo chí. Việc thể chế hóa quy trình kiểm soát lợi ích nhóm là điều kiện tiên quyết để bảo đảm pháp luật mang tính khách quan, vì lợi ích chung. Cơ chế kiểm soát quyền lực để phòng chống "lợi ích nhóm" và "tham nhũng chính sách" phải là một hệ thống đa tầng. Nó không chỉ dựa vào quy trình lập pháp chặt chẽ mà còn phải được củng cố bằng một chế độ liêm chính toàn diện.
Hoạt động xây dựng luật phải được tiến hành trên cơ sở khoa học, dựa trên dữ liệu, bằng chứng và kết quả nghiên cứu thực tiễn. Tính dân chủ phải được phát huy thực chất trong toàn bộ quy trình, từ khâu đề xuất đến thông qua. Mọi hoạt động phải công khai, minh bạch để người dân giám sát.
Tính dân chủ phải được phát huy thực chất trong toàn bộ quy trình xây dựng pháp luật, từ khâu đề xuất đến thông qua. Việc phát huy dân chủ, tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân là yêu cầu cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Mặc dù quy trình xây dựng pháp luật đã bao gồm việc tổ chức lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức có liên quan và đối tượng chịu sự tác động, nhưng việc tham vấn đôi khi vẫn còn hình thức, chưa phát huy được đầy đủ trí tuệ tập thể và sự tham gia thực chất của các đối tượng chịu tác động. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy sự tham gia thực chất của người dân và các tổ chức xã hội không chỉ cung cấp thêm nguồn thông tin giá trị không thể có được thông qua các thể chế chính trị truyền thống, mà còn thúc đẩy tính hợp pháp và đồng thuận trong chính sách như việc áp dụng các hình thức tham gia điện tử và ứng dụng công nghệ có thể giảm sự bất cân xứng thông tin, tăng tính công khai, minh bạch, và tạo sự đồng thuận công chúng đối với các nguyên tắc pháp lý mới. Mọi hoạt động lập pháp phải công khai, minh bạch để người dân và xã hội có thể giám sát.
Tăng cường trách nhiệm giải trình của các chủ thể tham gia, đặc biệt là cơ quan đề nghị và cơ quan soạn thảo. Cần chuyên nghiệp hóa đội ngũ làm công tác xây dựng luật để đảm bảo chất lượng kỹ thuật lập pháp.
- Xây dựng luật mang tính nguyên tắc và nghị định, thông tư quy định chi tiết
Trong bối cảnh kinh tế - xã hội thay đổi nhanh, pháp luật cần có tính mở và linh hoạt. Mô hình 'luật khung, luật nguyên tắc' được nhiều quốc gia áp dụng nhằm bảo đảm sự ổn định của luật trong khi vẫn cho phép điều chỉnh chi tiết bằng các nghị định, thông tư. Luật nên tập trung quy định nguyên tắc, chính sách, quyền và nghĩa vụ cơ bản, còn nghị định, thông tư hướng dẫn chi tiết việc thực hiện. Cách tiếp cận này giúp giảm thiểu việc sửa đổi luật thường xuyên, đồng thời nâng cao hiệu quả thực thi. Tuy nhiên, để tránh nguy cơ “hành chính hóa pháp luật”, cần kiểm soát chặt chẽ thẩm quyền ban hành và tính hợp pháp của các văn bản dưới luật.
3. Bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong quá trình đổi mới xây dựng luật ở Việt Nam hiện nay
Bảo đảm quyền con người, quyền công dân là nội dung cốt lõi, phản ánh bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Tường Duy Kiên & Nguyễn Thị Thanh Hải, 2024). Trong bối cảnh đổi mới tư duy và quy trình xây dựng luật, việc đặt bảo đảm quyền làm trọng tâm không chỉ là yêu cầu về nội dung, mà còn là tiêu chí đánh giá chất lượng của hoạt động lập pháp.
- Quan điểm tiếp cận về bảo đảm quyền trong lập pháp
Theo Hiến pháp năm 2013, “quyền con người, quyền công dân được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” (Quốc hội, 2013). Nguyên tắc này đòi hỏi mọi đạo luật, trong quá trình soạn thảo, thẩm tra, thông qua và tổ chức thi hành, đều phải được đánh giá kỹ lưỡng về mức độ tác động đến quyền. Trong tư duy lập pháp hiện đại, “bảo đảm quyền” không chỉ là việc ghi nhận các quyền trong văn bản pháp luật, mà còn là xây dựng cơ chế thực thi hữu hiệu, để người dân có thể thụ hưởng các quyền đó trên thực tế. Pháp luật không được chỉ dừng ở việc “không xâm phạm quyền”, mà phải chủ động “tạo điều kiện thực hiện quyền”. Do đó, trong mọi dự án luật, cần đặt ra câu hỏi trung tâm: Quy định này bảo đảm, mở rộng hay hạn chế quyền gì của người dân? Việc hạn chế (nếu có) có cần thiết, hợp hiến, hợp lý và tương xứng hay không? Cơ chế nào giúp bảo vệ quyền khi bị xâm phạm hoặc bị áp dụng sai?
- Yêu cầu thể chế hóa nguyên tắc bảo đảm quyền trong quy trình lập pháp
Một là, đưa tiêu chí bảo đảm quyền trở thành nội dung bắt buộc trong Báo cáo đánh giá tác động chính sách (RIA). Mọi chính sách dự kiến trong dự án luật phải được phân tích định tính và định lượng về tác động đến quyền con người, quyền công dân, đặc biệt trong các lĩnh vực nhạy cảm như tự do kinh doanh, sở hữu, thông tin, môi trường, an sinh xã hội...
Hai là, thiết lập cơ chế thẩm định quyền con người độc lập. Tại nhiều quốc gia, cơ quan nhân quyền quốc gia (National Human Rights Institution - NHRI) tham gia trực tiếp vào quá trình lập pháp, góp ý các dự thảo luật có thể ảnh hưởng đến quyền. Việt Nam có thể nghiên cứu mô hình này, giao Ủy ban của Quốc hội hoặc Hội đồng Dân tộc - các ủy ban chuyên trách - thực hiện nhiệm vụ thẩm định quyền độc lập trước khi dự án luật được trình Quốc hội.
Ba là, mở rộng kênh tham vấn xã hội về quyền. Các tổ chức xã hội nghề nghiệp, viện nghiên cứu, hiệp hội doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ và người dân cần được tham gia thực chất vào quá trình góp ý dự thảo luật, nhất là các luật có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống dân sinh. Việc công khai toàn văn dự thảo trên Cổng thông tin điện tử và thu nhận ý kiến qua nền tảng số là hướng đi cần thiết để tăng tính minh bạch và đồng thuận xã hội.
Bốn là, xây dựng cơ chế giám sát quyền sau lập pháp. Việc đánh giá sau ban hành (Post-Legislative Scrutiny - PLS) như đã nêu ở phần trên cần tập trung vào việc xem xét xem luật có thực sự bảo đảm quyền như mục tiêu đặt ra hay không; nếu có tình trạng vi phạm hoặc hạn chế quyền không cần thiết, Quốc hội phải kịp thời yêu cầu sửa đổi hoặc bãi bỏ.
Năm là, nâng cao năng lực quyền con người trong đội ngũ lập pháp. Để bảo đảm quyền thực chất, cán bộ, công chức tham gia soạn thảo luật phải được bồi dưỡng thường xuyên về quyền con người, pháp luật quốc tế và các tiêu chuẩn về giới, trẻ em, người khuyết tật, người yếu thế... Việc hình thành tư duy quyền trong mỗi nhà làm luật sẽ góp phần chuyển hóa nhận thức thành hành động cụ thể trong văn bản pháp luật.
Để thể chế hóa hiệu quả yêu cầu bảo đảm quyền trong giai đoạn hiện nay, cần tập trung vào ba nhóm giải pháp trọng tâm:
- Thể chế hóa nguyên tắc bảo đảm quyền trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi) - quy định rõ việc phân tích tác động đến quyền con người, quyền công dân là nội dung bắt buộc trong mọi dự án luật; đồng thời, làm rõ quy trình thẩm định độc lập về quyền trước khi trình dự thảo.
- Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đánh giá tác động quyền - thu thập, cập nhật các báo cáo, khuyến nghị của Liên hợp quốc, Ủy ban Nhân quyền ASEAN và các cơ quan chuyên môn trong nước để hỗ trợ quá trình lập pháp.
- Tăng cường trách nhiệm giải trình của cơ quan soạn thảo và cơ quan thẩm tra đối với các vấn đề về quyền trong dự án luật, đảm bảo mọi quyết định hạn chế quyền đều có căn cứ hiến định, được giải thích công khai và chịu sự giám sát xã hội.
Như vậy, “bảo đảm quyền” không chỉ là một nội dung chính trị - pháp lý mang tính nguyên tắc, mà còn là trục xuyên suốt của toàn bộ quy trình xây dựng luật. Khi quyền con người và quyền công dân thực sự được bảo đảm ngay từ khâu làm luật, pháp luật mới có thể trở thành công cụ hữu hiệu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - nơi quyền lực được kiểm soát bằng pháp luật và phục vụ cho con người.
Đổi mới tư duy và quy trình xây dựng luật không chỉ là yêu cầu kỹ thuật mà là nhiệm vụ chính trị trọng đại trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Pháp luật chỉ thực sự trở thành công cụ của Nhà nước pháp quyền khi phản ánh đúng ý chí của nhân dân, bảo đảm công bằng, minh bạch và thúc đẩy phát triển. Bài viết kiến nghị: (i) hoàn thiện thể chế lập pháp theo hướng chuyên nghiệp hóa; (ii) thiết lập cơ chế kiểm soát xung đột lợi ích; (iii) phát triển mô hình luật mang tính nguyên tắc; và (iv) đổi mới mạnh mẽ tư duy làm luật theo hướng pháp quyền kiến tạo phát triển./.
PGS.TS. Trần Thị Diệu Oanh
Khoa Luật, Học viện Hành chính và Quản trị công
Bài viết được đăng trên Tạp chí Pháp luật về quyền con người số 52 (02/2026)
---
Tài liệu tham khảo
Alex Brazier. (2017). Post-Legislative Scrutiny. Truy cập ngày 25/12/2025, từ https://gpgovernance.net/wp-content/uploads/2021/02/Guide-to-Parliaments.-Paper-8-Post-Leg-Scrutiny1.pdf.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng. (2025). Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2022). Nghị quyết số 27-NQ/TW về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Quốc hội. (2013). Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tường Duy Kiên & Nguyễn Thị Thanh Hải. (2024). Cơ chế quốc tế, khu vực và quốc gia về thúc đẩy và bảo vệ quyền con người. Hà Nội. Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.