ThS. Võ Hồng Tài

Công ty TNHH Một Thành viên Phát triển Công nghiệp Tân Thuận

PGS.TS, Nguyễn Hoàng Phương

Học viện Chính trị khu vực II

Tóm tắt: Bài viết phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với chuyển đổi xanh của doanh nghiệp nhà nước tại Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2021 đến tháng 9/2026. Qua phân tích, bài viết cho thấy hệ thống chính sách về tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải từng bước được hoàn thiện; đồng thời nhận diện một số vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện về tính đồng bộ, nguồn lực tài chính, công nghệ, tiêu chuẩn đánh giá, cơ chế phối hợp, kiểm tra, giám sát và động lực cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số giải pháp cho giai đoạn 2026–2030, tầm nhìn đến năm 2050, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu phòng ngừa tác động môi trường, bảo đảm tiếp cận thông tin, tăng cường sự tham gia giám sát của cộng đồng theo quy định pháp luật và xác định trách nhiệm giải trình, xử lý, khắc phục khi phát sinh tác động bất lợi.

Từ khóa: Quản lý nhà nước; chuyển đổi xanh; doanh nghiệp nhà nước; kinh tế xanh; quyền được sống trong môi trường trong lành; Thành phố Hồ Chí Minh.

Abstract: This article analyzes the current state of state management regarding the green transition of state-owned enterprises in Ho Chi Minh City from 2021 to September 2026. The analysis reveals that the policy framework concerning green growth, the circular economy, and emission reduction is being progressively refined; simultaneously, it identifies areas requiring further improvement—specifically regarding policy coherence, financial resources, technology, assessment standards, coordination mechanisms, inspection and supervision, and incentives for enterprises. Based on these findings, the article proposes solutions for the 2026–2030 period with a vision toward 2050, while emphasizing the necessity of preventing environmental impacts, ensuring access to information, enhancing community participation in oversight in accordance with the law, and establishing clear accountability, handling procedures, and remediation measures for adverse impacts.

Keywords: State management; green transition; state-owned enterprises; green economy; right to live in a clean environment; Ho Chi Minh City.

Ảnh minh họa. Nguồn: chinhphu.vn

Đặt vấn đề

Phát triển kinh tế xanh và chuyển đổi xanh đang trở thành xu hướng quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia. Mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào khai thác tài nguyên, sử dụng nhiều năng lượng hóa thạch và phát sinh lượng phát thải lớn ngày càng bộc lộ những giới hạn về môi trường và tính bền vững. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi xanh được đặt ra nhằm thúc đẩy sử dụng hiệu quả tài nguyên, tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải, đổi mới công nghệ và hình thành các mô hình sản xuất, kinh doanh thân thiện với môi trường (OECD, 2011).

Tại Việt Nam, định hướng tăng trưởng xanh đã được thể hiện thông qua nhiều chủ trương, chính sách quan trọng. Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 xác định tăng trưởng xanh là một phương thức quan trọng nhằm thực hiện phát triển bền vững (Thủ tướng Chính phủ, 2021). Cùng với đó, các chính sách về kinh tế tuần hoàn, ứng phó với biến đổi khí hậu, giảm phát thải khí nhà kính và chuyển đổi năng lượng từng bước tạo dựng khung định hướng cho doanh nghiệp chuyển đổi theo hướng xanh hơn (Thủ tướng Chính phủ, 2022a).

Quyền được sống trong môi trường trong lành đã được ghi nhận tại Điều 43 Hiến pháp năm 2013. Ở bình diện quốc tế, ngày 28/7/2022, Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua Nghị quyết 76/300, công nhận quyền được hưởng một môi trường sạch, lành mạnh và bền vững là một quyền con người. Nghị quyết này không phải là điều ước quốc tế, song là một chuẩn tham chiếu quốc tế quan trọng trong việc nhận diện mối liên hệ giữa bảo vệ môi trường và quyền con người. Đặt chuyển đổi xanh trong khuôn khổ này làm thay đổi cách đánh giá chính sách: không dừng ở mức giảm phát thải, tiết kiệm năng lượng hay nâng cao hiệu quả tài nguyên, mà cần xem hoạt động quản lý có phòng ngừa được nguy cơ gây tổn hại môi trường, bảo vệ chất lượng môi trường sống, bảo đảm tiếp cận thông tin, tạo điều kiện cho cộng đồng tham gia giám sát và xác định trách nhiệm giải trình, xử lý, khắc phục theo quy định pháp luật hay không. Đối với doanh nghiệp nhà nước, yêu cầu này càng có ý nghĩa vì Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước, đồng thời thông qua cơ quan đại diện chủ sở hữu thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp.

Trong quá trình này, doanh nghiệp nhà nước có vị trí đặc thù. Đây là nhóm doanh nghiệp vừa thực hiện mục tiêu sản xuất, kinh doanh, vừa đảm nhận nhiều nhiệm vụ liên quan đến phát triển hạ tầng, cung ứng dịch vụ công và thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội. Do đó, chuyển đổi xanh của doanh nghiệp nhà nước không chỉ phụ thuộc vào quyết định nội bộ của doanh nghiệp mà còn chịu ảnh hưởng đáng kể từ thể chế, chính sách, nguồn lực, tiêu chuẩn, công nghệ và cơ chế giám sát của Nhà nước.

Thành phố Hồ Chí Minh là địa bàn có quy mô kinh tế lớn, cơ cấu ngành đa dạng và mật độ doanh nghiệp cao. Thành phố đồng thời đứng trước yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, giảm phát thải và phát triển kinh tế tuần hoàn. Ngày 13/9/2024, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 3797/QĐ-UBND về Kế hoạch hành động tăng trưởng xanh giai đoạn 2024-2030, trong đó xác định các nhiệm vụ, giải pháp về tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải. Doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn hoạt động trong nhiều lĩnh vực có tác động trực tiếp đến quá trình này. Vì vậy, việc nghiên cứu quản lý nhà nước đối với chuyển đổi xanh của doanh nghiệp nhà nước tại Thành phố Hồ Chí Minh có ý nghĩa thiết thực. Về phạm vi không gian, từ ngày 01/7/2025 Thành phố Hồ Chí Minh vận hành theo địa giới mới sau sắp xếp với tỉnh Bình Dương và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Trong bài viết, các nhận định trước thời điểm này chủ yếu phản ánh địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trước sắp xếp; các nội dung từ ngày 01/7/2025 được đặt trong bối cảnh Thành phố Hồ Chí Minh sau sắp xếp. Vì vậy, các so sánh theo thời gian cần được hiểu trong giới hạn thay đổi phạm vi không gian nghiên cứu.

Các nghiên cứu trước đây đã đề cập khá rộng đến kinh tế xanh, tăng trưởng xanh, phát triển bền vững, kinh tế tuần hoàn và chính sách môi trường. Tuy nhiên, còn thiếu những nghiên cứu tiếp cận một cách hệ thống mối quan hệ giữa quản lý nhà nước và chuyển đổi xanh của doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt tại một đô thị có quy mô kinh tế lớn như Thành phố Hồ Chí Minh. Từ thực tiễn đó, bài viết tập trung phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với chuyển đổi xanh của doanh nghiệp nhà nước tại Thành phố Hồ Chí Minh, nhận diện những kết quả, hạn chế và nguyên nhân, từ đó đề xuất một số giải pháp phù hợp cho giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Trong phạm vi bài viết, quyền được sống trong môi trường trong lành được sử dụng như một chuẩn tham chiếu để đánh giá quản lý nhà nước đối với chuyển đổi xanh. Việc bảo đảm quyền này cần được cụ thể hóa không chỉ bằng các giới hạn, tiêu chuẩn và nghĩa vụ kiểm soát ô nhiễm, mà còn bằng cơ chế phòng ngừa rủi ro, công khai thông tin môi trường, tiếp nhận phản ánh của người dân, giám sát việc thực hiện và yêu cầu khắc phục khi hoạt động của doanh nghiệp gây tác động bất lợi đến môi trường sống.

Với doanh nghiệp nhà nước, cách tiếp cận này đặt ra yêu cầu cao hơn đối với cơ quan quản lý và cơ quan đại diện chủ sở hữu. Mục tiêu chuyển đổi xanh cần được thể hiện trong toàn bộ chu trình quản lý - từ phê duyệt chiến lược, quyết định đầu tư, lựa chọn công nghệ, phân bổ vốn đến kiểm tra, đánh giá người quản lý doanh nghiệp - và phải hướng tới kết quả cuối cùng là giảm nguy cơ xâm hại môi trường, duy trì các điều kiện môi trường cần thiết cho đời sống, sức khỏe và sinh kế của cộng đồng.

1. Thực trạng quản lý nhà nước đối với chuyển đổi xanh của doanh nghiệp nhà nước tại Thành phố Hồ Chí Minh

a) Cơ sở chính sách về chuyển đổi xanh

Trong giai đoạn từ năm 2021 đến tháng 9/2026, Việt Nam đã từng bước hình thành hệ thống chính sách tương đối toàn diện liên quan đến tăng trưởng xanh và chuyển đổi xanh. Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh; Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu đến năm 2050 và Đề án phát triển kinh tế tuần hoàn đã tạo cơ sở định hướng cho quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Từ năm 2025, khung pháp lý tiếp tục được cập nhật, đáng chú ý có Nghị định số 119/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 06/2022/NĐ-CP về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn; Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg quy định tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh; cùng Nghị định số 08/2022/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 05/2025/NĐ-CP và Nghị định số 48/2026/NĐ-CP. Các văn bản này làm rõ hơn cơ sở pháp lý cho quản lý phát thải, tiêu chí dự án xanh và thực thi pháp luật môi trường trong giai đoạn nghiên cứu.

Đối với doanh nghiệp nhà nước, quá trình chuyển đổi xanh còn chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp,[1] quản trị doanh nghiệp, bảo vệ môi trường, đầu tư, khoa học - công nghệ và các quy định có liên quan. Điều này cho thấy chuyển đổi xanh không phải là một hoạt động độc lập mà cần được tích hợp vào chiến lược phát triển (OECD, 2021), đầu tư, quản trị và sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp. Vì vậy, quyền được sống trong môi trường trong lành có thể được sử dụng như một tiêu chí tham chiếu khi đánh giá các quyết định đầu tư, đổi mới công nghệ và quản trị của doanh nghiệp, bên cạnh các yêu cầu về hiệu quả tài chính và các tiêu chí pháp lý, kỹ thuật có liên quan.

Tại Thành phố Hồ Chí Minh, yêu cầu chuyển đổi xanh ngày càng gắn với định hướng phát triển đô thị, sản xuất xanh, kinh tế tuần hoàn, giao thông xanh và giảm phát thải. Kế hoạch hành động tăng trưởng xanh giai đoạn 2024–2030 ban hành kèm Quyết định số 3797/QĐ-UBND ngày 13/9/2024 đã cụ thể hóa các nhóm nhiệm vụ cho các sở, ban, ngành, địa phương và các tổng công ty của Thành phố. Trên cơ sở đó, việc tiếp tục cụ thể hóa các định hướng thành tiêu chí, lộ trình và cơ chế thực hiện phù hợp với từng nhóm doanh nghiệp nhà nước là yêu cầu đặt ra trong giai đoạn tới.

b) Thực trạng chuyển đổi xanh của doanh nghiệp nhà nước

Chuyển đổi xanh của doanh nghiệp nhà nước có thể được xem xét trên nhiều phương diện, bao gồm chiến lược và quản trị xanh, đổi mới công nghệ, sử dụng năng lượng và tài nguyên hiệu quả, giảm phát thải, phát triển sản phẩm và dịch vụ xanh, kinh tế tuần hoàn và đổi mới sáng tạo. Đây cũng là các phương diện được xác định trong định hướng nghiên cứu của đề tài.

Trước hết, về phương diện quản trị, chuyển đổi xanh đặt ra yêu cầu doanh nghiệp tăng cường tiết kiệm năng lượng, quản lý môi trường, ứng dụng công nghệ mới và sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Những nội dung này không chỉ phục vụ việc tuân thủ pháp luật về môi trường mà còn có thể góp phần giảm chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh doanh và năng lực cạnh tranh (Porter, M. E., & van der Linde, C., 1995).

Về công nghệ, việc đổi mới thiết bị và áp dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng có thể giúp doanh nghiệp giảm tiêu hao nguyên liệu, giảm chi phí vận hành và hạn chế tác động môi trường. Chuyển đổi số cũng tạo điều kiện để doanh nghiệp kiểm soát tốt hơn quá trình sử dụng năng lượng, tài nguyên và quản lý sản xuất. Tuy nhiên, mức độ đầu tư và khả năng ứng dụng công nghệ giữa các doanh nghiệp còn khác nhau.

Về sử dụng năng lượng và tài nguyên, chuyển đổi xanh đòi hỏi doanh nghiệp từng bước chuyển từ mô hình sử dụng nhiều tài nguyên sang mô hình sử dụng hiệu quả và tiết kiệm hơn. Đối với những doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực hạ tầng, giao thông, môi trường hoặc sản xuất, việc tiết kiệm năng lượng, giảm thất thoát và tăng cường tái sử dụng tài nguyên có thể tạo ra hiệu quả kép về kinh tế và môi trường.

Về giảm phát thải và kinh tế tuần hoàn, doanh nghiệp nhà nước có thể đóng vai trò quan trọng do một bộ phận doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực có ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường đô thị. Việc kiểm soát chất thải, tăng cường tái chế, tái sử dụng nguyên liệu và giảm phát sinh chất thải cần được đưa vào chiến lược phát triển của doanh nghiệp thay vì chỉ được thực hiện như một yêu cầu tuân thủ.

Tuy nhiên, mức độ và tốc độ chuyển đổi xanh có thể khác nhau giữa các doanh nghiệp do khác biệt về lĩnh vực hoạt động, quy mô, nền tảng công nghệ và khả năng huy động nguồn lực. Nếu mục tiêu xanh mới dừng ở yêu cầu tuân thủ pháp luật về môi trường mà chưa được tích hợp vào chiến lược phát triển dài hạn, hiệu quả chuyển đổi có thể bị hạn chế. Khả năng đầu tư công nghệ và đổi mới sáng tạo cũng phụ thuộc đáng kể vào nguồn lực tài chính và cơ chế đầu tư. Đây là những vấn đề đặt ra yêu cầu Nhà nước có các công cụ quản lý và hỗ trợ phù hợp.

c) Thực trạng quản lý nhà nước đối với chuyển đổi xanh

Thứ nhất, về xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, kế hoạch.

Nhà nước đã từng bước đưa mục tiêu tăng trưởng xanh, giảm phát thải, sử dụng hiệu quả tài nguyên và phát triển kinh tế tuần hoàn vào các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển. Đây là cơ sở để định hướng doanh nghiệp nhà nước điều chỉnh hoạt động sản xuất, đầu tư và quản trị theo hướng bền vững hơn. Xét theo yêu cầu bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành, các mục tiêu này cần được chuyển thành kết quả có thể đo lường đối với môi trường sống của người dân, như mức giảm ô nhiễm không khí, nước, tiếng ồn, chất thải và nguy cơ sự cố môi trường ở những khu vực chịu tác động từ hoạt động của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, khoảng cách giữa định hướng chính sách và tổ chức thực hiện vẫn là vấn đề cần quan tâm. Một số mục tiêu xanh còn mang tính định hướng chung, chưa được cụ thể hóa thành chỉ tiêu phù hợp cho từng nhóm doanh nghiệp hoặc từng ngành. Việc xây dựng lộ trình chuyển đổi xanh vì vậy cần gắn với đặc điểm hoạt động, quy mô và mức độ phát thải của từng doanh nghiệp.

Thứ hai, về thể chế và chính sách.

Hệ thống chính sách liên quan đến tăng trưởng xanh và bảo vệ môi trường ngày càng được hoàn thiện. Tuy nhiên, các quy định về chuyển đổi xanh vẫn nằm trong nhiều nhóm chính sách khác nhau, từ môi trường, đầu tư, tài chính, khoa học - công nghệ đến quản lý vốn nhà nước. Sự phân tán này có thể gây khó khăn cho doanh nghiệp khi xác định đầy đủ yêu cầu và cơ chế hỗ trợ.

Đặc biệt, cần làm rõ hơn trách nhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu và cơ quan quản lý nhà nước trong việc đưa mục tiêu xanh vào chiến lược, kế hoạch và đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước. Nếu tiêu chí xanh chưa được gắn với cơ chế đánh giá và trách nhiệm quản trị, động lực chuyển đổi của doanh nghiệp có thể chưa đủ mạnh. Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao, cơ quan đại diện chủ sở hữu có thể lồng ghép theo dõi kết quả thực hiện các mục tiêu môi trường vào đánh giá hiệu quả hoạt động và quản trị doanh nghiệp; cơ quan quản lý nhà nước thực hiện quản lý, kiểm tra và xử lý theo thẩm quyền, phù hợp với quy định pháp luật.

Thứ ba, về tài chính và huy động nguồn lực.

Chuyển đổi xanh thường đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu tư ban đầu tương đối lớn cho công nghệ, thiết bị, năng lượng sạch (World Bank, 2022), xử lý chất thải và hệ thống quản trị. Trong khi đó, hiệu quả tài chính của nhiều dự án xanh cần thời gian dài mới thể hiện đầy đủ.

Do đó, cơ chế tài chính có vai trò quan trọng trong thúc đẩy chuyển đổi xanh. Nhà nước cần tạo điều kiện để doanh nghiệp nhà nước tiếp cận các nguồn vốn phù hợp, đồng thời khuyến khích huy động nguồn lực xã hội và các nguồn tài chính xanh. Việc phân bổ nguồn lực cũng cần gắn với hiệu quả môi trường và khả năng tạo ra giá trị dài hạn thay vì chỉ căn cứ vào chi phí đầu tư trước mắt. Khi phân bổ nguồn lực, cần ưu tiên các dự án trực tiếp làm giảm nguy cơ ô nhiễm và mức độ phơi nhiễm của cộng đồng, đồng thời tránh cách đánh giá chỉ dựa trên lợi ích tài chính của doanh nghiệp mà bỏ qua chi phí môi trường và xã hội do người dân phải gánh chịu.

Thứ tư, về khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Công nghệ là một trong những yếu tố quan trọng quyết định tốc độ chuyển đổi xanh. Các yêu cầu về quy trình đầu tư, mua sắm, thẩm định và quản lý vốn có thể ảnh hưởng đến tiến độ đổi mới công nghệ trong một số trường hợp. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế theo hướng vừa bảo đảm quản lý chặt chẽ, an toàn vốn nhà nước, vừa tạo điều kiện cho doanh nghiệp xem xét, lựa chọn công nghệ mới có khả năng tạo hiệu quả dài hạn.

Do đó, cần có cơ chế hỗ trợ nghiên cứu, đổi mới công nghệ và đổi mới sáng tạo xanh phù hợp với đặc thù doanh nghiệp nhà nước. Đồng thời, cần tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp với các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp công nghệ để rút ngắn quá trình chuyển giao và ứng dụng công nghệ.

Thứ năm, về tiêu chuẩn, quy chuẩn và tiêu chí đánh giá.

Một hạn chế đáng chú ý là việc đánh giá mức độ chuyển đổi xanh của doanh nghiệp chưa thực sự thống nhất. Nếu thiếu hệ thống tiêu chí cụ thể, việc xác định doanh nghiệp đã chuyển đổi xanh ở mức độ nào và hiệu quả của chính sách ra sao sẽ gặp khó khăn.

Do đó, cần xây dựng hệ thống tiêu chí có khả năng lượng hóa những nội dung cơ bản như mức sử dụng năng lượng, hiệu quả tài nguyên, mức giảm phát thải, tỷ lệ tái chế, ứng dụng công nghệ xanh, sản phẩm và dịch vụ xanh (UNEP, 2011). Hệ thống tiêu chí cần có sự phân loại theo ngành, quy mô và đặc điểm hoạt động để tránh áp dụng một cách cứng nhắc. Để phản ánh đầy đủ yêu cầu bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành, bộ tiêu chí nên có một nhóm chỉ báo về tác động đối với cộng đồng, như mức độ và phạm vi ô nhiễm, sự cố môi trường, mức độ công khai dữ liệu môi trường, việc tiếp nhận và xử lý phản ánh của người dân, cũng như các biện pháp khắc phục hậu quả khi phát sinh tác động bất lợi.

Thứ sáu, về kiểm tra, giám sát và đánh giá.

Kiểm tra, giám sát là công cụ quan trọng nhằm bảo đảm doanh nghiệp thực hiện đúng các mục tiêu và quy định về chuyển đổi xanh. Bên cạnh kiểm tra việc tuân thủ, cần tăng cường đánh giá kết quả và tác động thực tế của quá trình chuyển đổi xanh.

Việc giám sát nên dựa trên các chỉ tiêu có thể đo lường và có khả năng so sánh giữa các năm. Kết quả thực hiện các mục tiêu xanh cần được đưa vào hệ thống báo cáo, đánh giá và công bố thông tin của doanh nghiệp (OECD, 2021) phù hợp với quy định pháp luật. Điều này vừa nâng cao tính minh bạch vừa tạo động lực cải thiện hiệu quả chuyển đổi xanh. Công khai thông tin môi trường không chỉ phục vụ quản trị doanh nghiệp mà còn là điều kiện để người dân và cộng đồng dân cư chịu tác động tiếp cận thông tin, tham gia giám sát, phản ánh và kiến nghị theo quy định của pháp luật. Cơ chế giám sát vì vậy cần gắn công bố thông tin với trách nhiệm giải trình và việc xử lý, khắc phục các vấn đề môi trường được phát hiện.

Thứ bảy, về cơ chế khuyến khích và tạo động lực.

Chuyển đổi xanh sẽ khó đạt hiệu quả nếu chỉ dựa trên yêu cầu bắt buộc. Bên cạnh các quy định pháp luật, Nhà nước cần xây dựng cơ chế khuyến khích phù hợp như ưu tiên tiếp cận các chương trình hỗ trợ, thúc đẩy đổi mới công nghệ, hỗ trợ nghiên cứu và phát triển, khuyến khích sử dụng năng lượng sạch và phát triển sản phẩm, dịch vụ xanh.

Đối với doanh nghiệp nhà nước, cơ chế khuyến khích cần được kết hợp với trách nhiệm của người quản lý và cơ quan đại diện chủ sở hữu. Kết quả chuyển đổi xanh có thể được xem xét như một thành tố trong đánh giá hiệu quả quản trị doanh nghiệp.

d) Những hạn chế và nguyên nhân

Trên cơ sở phân tích các nhóm nội dung nêu trên, bài viết nhận diện một số vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện trong quản lý nhà nước đối với chuyển đổi xanh của doanh nghiệp nhà nước tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Một là, hệ thống chính sách và quy định liên quan đến chuyển đổi xanh được hình thành từ nhiều lĩnh vực như môi trường, đầu tư, tài chính, khoa học - công nghệ và quản lý vốn nhà nước, nên yêu cầu phối hợp và tích hợp giữa các chính sách ngày càng cao. Nếu thiếu cơ chế liên kết rõ ràng, doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong việc xác định đầy đủ yêu cầu và cơ chế hỗ trợ cho chuyển đổi xanh.

Hai là, nguồn lực cho chuyển đổi xanh còn hạn chế. Chi phí đầu tư ban đầu cao, thời gian thu hồi vốn dài và những khó khăn trong tiếp cận nguồn tài chính phù hợp có thể làm giảm khả năng triển khai các dự án xanh.

Ba là, yêu cầu về năng lực công nghệ và đổi mới sáng tạo đặt ra khác nhau giữa các doanh nghiệp. Đối với những doanh nghiệp có nền tảng công nghệ lạc hậu hoặc cần đầu tư đổi mới quy mô lớn, quá trình chuyển đổi đòi hỏi nguồn vốn, nhân lực và cơ chế đầu tư phù hợp.

Bốn là, hệ thống tiêu chí đánh giá chuyển đổi xanh chưa thật sự đồng bộ. Việc thiếu các chỉ tiêu định lượng cụ thể khiến quá trình đánh giá kết quả và so sánh hiệu quả chính sách gặp khó khăn.

Năm là, sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý và giữa cơ quan quản lý với doanh nghiệp cần được tăng cường. Chuyển đổi xanh liên quan đến nhiều lĩnh vực nên nếu thiếu cơ chế phối hợp rõ ràng sẽ dễ dẫn đến phân tán trách nhiệm.

Sáu là, trong các nhóm tiêu chí và định hướng được bài viết khảo sát, quyền được sống trong môi trường trong lành chưa được thể hiện rõ như một chuẩn đầu ra riêng trong đánh giá chuyển đổi xanh của doanh nghiệp nhà nước. Khi hệ thống tiêu chí chủ yếu tập trung vào năng lượng, tài nguyên, phát thải và hiệu quả kinh tế, mối liên hệ giữa kết quả chuyển đổi với chất lượng môi trường sống, khả năng tiếp cận thông tin, phản ánh của cộng đồng và trách nhiệm xử lý, khắc phục tác động chưa được làm nổi bật.

Những vấn đề trên có thể xuất phát từ cả yếu tố khách quan và chủ quan. Về khách quan, chuyển đổi xanh là quá trình mới, liên quan đến nhiều lĩnh vực và đòi hỏi nguồn lực lớn. Về chủ quan, hiệu quả thực hiện phụ thuộc vào nhận thức, năng lực tổ chức thực hiện của doanh nghiệp, mức độ cụ thể hóa chính sách, cũng như chất lượng kiểm tra, đánh giá và cơ chế tạo động lực.

2. Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với chuyển đổi xanh của doanh nghiệp nhà nước tại Thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố cần xác định bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành là một trong những chuẩn đầu ra của quản lý nhà nước đối với chuyển đổi xanh của doanh nghiệp nhà nước. Theo đó, mỗi chính sách, chương trình và lộ trình chuyển đổi cần làm rõ bốn vấn đề: tác động môi trường nào đối với người dân cần được phòng ngừa; thông tin nào cần được công khai theo quy định pháp luật; cộng đồng dân cư chịu tác động có thể tham gia giám sát, phản ánh và kiến nghị bằng cách nào theo quy định; và chủ thể nào chịu trách nhiệm xử lý, khắc phục khi phát sinh tác động bất lợi.

Đối với cơ quan đại diện chủ sở hữu, có thể nghiên cứu lồng ghép kết quả thực hiện các mục tiêu môi trường có liên quan đến quyền được sống trong môi trường trong lành vào tiêu chí đánh giá chiến lược, dự án đầu tư, kết quả hoạt động và trách nhiệm của người quản lý doanh nghiệp, trong phạm vi pháp luật cho phép. Đối với cơ quan quản lý nhà nước, trọng tâm là áp dụng tiêu chuẩn, cơ chế giám sát và công khai thông tin theo thẩm quyền để vừa bảo đảm mục tiêu phát triển của doanh nghiệp, vừa hạn chế phát sinh hoặc gia tăng chi phí môi trường và xã hội đối với cộng đồng.

Thứ nhất, hoàn thiện chiến lược và xây dựng lộ trình chuyển đổi xanh

Thành phố cần xây dựng định hướng chuyển đổi xanh đối với doanh nghiệp nhà nước theo hướng cụ thể, có trọng tâm và phù hợp với đặc điểm từng ngành. Mục tiêu chuyển đổi xanh cần được tích hợp vào chiến lược phát triển, kế hoạch sản xuất kinh doanh và kế hoạch đầu tư của doanh nghiệp. Mỗi lộ trình cần xác định đồng thời chỉ tiêu kỹ thuật và chỉ tiêu về tác động đến môi trường sống, để có thể đánh giá chuyển đổi xanh đã cải thiện thực chất điều kiện thụ hưởng quyền của người dân hay mới dừng ở thay đổi quy trình nội bộ của doanh nghiệp.

Trong giai đoạn 2026-2030, cần ưu tiên các nội dung có khả năng tạo hiệu quả rõ ràng như tiết kiệm năng lượng, giảm tiêu hao tài nguyên, đổi mới thiết bị, giảm chất thải và nâng cao hiệu quả quản trị. Đối với các ngành có mức phát thải cao hoặc có tác động lớn đến môi trường đô thị, cần xây dựng lộ trình chuyển đổi cụ thể hơn.

Thứ hai, hoàn thiện thể chế và chính sách

Cần rà soát các quy định liên quan đến quản lý doanh nghiệp nhà nước, đầu tư, môi trường, tài chính, khoa học - công nghệ để bảo đảm tính thống nhất trong thực hiện mục tiêu chuyển đổi xanh. Chính sách cần xác định rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý, cơ quan đại diện chủ sở hữu và doanh nghiệp. Việc hoàn thiện thể chế cần cụ thể hóa trách nhiệm phòng ngừa ô nhiễm, công khai thông tin, tiếp nhận phản ánh, giải trình và khắc phục hậu quả môi trường theo quy định. Việc cụ thể hóa các cơ chế này góp phần đưa yêu cầu bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành vào quá trình quản lý doanh nghiệp nhà nước theo hướng có thể theo dõi, kiểm tra và đánh giá.

Đồng thời, cần giảm sự chồng chéo trong quá trình triển khai chính sách và tăng tính ổn định, minh bạch của các quy định. Các cơ chế hỗ trợ chuyển đổi xanh phải có tiêu chí rõ ràng, quy trình tiếp cận thuận lợi và gắn với kết quả thực tế.

Thứ ba, tăng cường nguồn lực tài chính cho chuyển đổi xanh

Thành phố cần nghiên cứu các cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp nhà nước tiếp cận nguồn tài chính phục vụ chuyển đổi xanh, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp chủ động huy động các nguồn vốn hợp pháp từ thị trường.

Việc hỗ trợ tài chính nên ưu tiên những dự án có khả năng tạo ra hiệu quả môi trường và kinh tế rõ ràng, đặc biệt là dự án tiết kiệm năng lượng, năng lượng sạch, xử lý chất thải, tái chế, kinh tế tuần hoàn và đổi mới công nghệ.

Bên cạnh hỗ trợ trực tiếp, Nhà nước cần tạo môi trường thuận lợi để phát triển các hình thức tài chính xanh, qua đó giảm áp lực phụ thuộc vào ngân sách nhà nước.

Thứ tư, thúc đẩy khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo xanh

Cần tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp nhà nước tiếp cận công nghệ mới, công nghệ tiết kiệm năng lượng và công nghệ giảm phát thải. Các chương trình khoa học - công nghệ của Thành phố nên dành sự quan tâm phù hợp cho các giải pháp phục vụ chuyển đổi xanh.

Đồng thời, cần hình thành cơ chế liên kết giữa doanh nghiệp nhà nước với trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp công nghệ. Mô hình hợp tác này giúp doanh nghiệp tiếp cận tri thức, công nghệ và nhân lực chất lượng cao với chi phí hợp lý hơn.

Chuyển đổi số cũng cần được xem là một công cụ hỗ trợ chuyển đổi xanh. Các hệ thống quản trị dữ liệu, giám sát năng lượng, quản lý tài nguyên và phát thải có thể giúp doanh nghiệp kiểm soát tốt hơn quá trình chuyển đổi.

Thứ năm, xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá chuyển đổi xanh

Thành phố cần từng bước xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chuyển đổi xanh phù hợp với doanh nghiệp nhà nước. Các tiêu chí cần tập trung vào những nội dung có thể đo lường như hiệu quả sử dụng năng lượng, tài nguyên, mức giảm phát thải, tỷ lệ tái chế, đổi mới công nghệ và phát triển sản phẩm, dịch vụ xanh. Bên cạnh nhóm tiêu chí về hiệu quả tài nguyên và giảm phát thải, có thể nghiên cứu nhóm tiêu chí phản ánh việc bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành và các quyền, lợi ích hợp pháp có liên quan, nhất là chất lượng môi trường tại khu vực chịu tác động, mức độ minh bạch thông tin, phản ánh, kiến nghị liên quan đến môi trường và kết quả xử lý, khắc phục theo quy định.

Bộ tiêu chí cần được phân loại theo ngành và quy mô doanh nghiệp. Đồng thời, nên áp dụng theo lộ trình để doanh nghiệp có thời gian thích ứng. Kết quả đánh giá cần được sử dụng trong công tác quản lý, giám sát và xây dựng chính sách.

Thứ sáu, tăng cường kiểm tra, giám sát và minh bạch thông tin

Bên cạnh kiểm tra việc tuân thủ thủ tục và nghĩa vụ pháp lý, công tác kiểm tra, giám sát cần chú trọng kết quả chuyển đổi xanh. Việc xây dựng kế hoạch và báo cáo định kỳ về kết quả thực hiện các mục tiêu xanh cần được thực hiện theo quy định pháp luật và phù hợp với quy mô, lĩnh vực hoạt động của từng doanh nghiệp.

Việc tăng cường công khai thông tin về môi trường, năng lượng, tài nguyên và phát thải cũng góp phần nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp. Cơ quan quản lý có thể sử dụng dữ liệu này để đánh giá tiến độ và điều chỉnh chính sách khi cần thiết. Ngoài chức năng phục vụ quản lý và báo cáo, minh bạch thông tin môi trường còn tạo điều kiện để người dân và cộng đồng dân cư chịu tác động nhận biết nguy cơ đối với môi trường sống, tham gia giám sát, phản ánh và kiến nghị theo quy định của pháp luật. Vì vậy, thông tin thuộc diện phải công khai cần được cung cấp kịp thời, dễ tiếp cận và có khả năng kiểm chứng theo quy định.

Thứ bảy, hoàn thiện cơ chế khuyến khích doanh nghiệp chuyển đổi xanh

Bên cạnh các yêu cầu bắt buộc, cần hình thành cơ chế tạo động lực cho doanh nghiệp. Các doanh nghiệp có kết quả chuyển đổi xanh tốt có thể được ưu tiên tiếp cận các chương trình hỗ trợ công nghệ, đổi mới sáng tạo hoặc các nguồn lực phù hợp theo quy định.

Đối với doanh nghiệp nhà nước, chuyển đổi xanh cũng cần được gắn với trách nhiệm của người quản lý và cơ quan đại diện chủ sở hữu. Việc đánh giá hiệu quả doanh nghiệp cần từng bước xem xét cả hiệu quả kinh tế và hiệu quả môi trường, phù hợp với đặc thù của từng lĩnh vực. Khi đánh giá người quản lý doanh nghiệp, có thể xem xét thêm việc phòng ngừa và xử lý các tác động môi trường đối với cộng đồng, mức độ minh bạch và việc xử lý các phản ánh, kiến nghị chính đáng theo quy định, bên cạnh các chỉ tiêu tài chính và kỹ thuật.

Thứ tám, nâng cao năng lực quản trị và tăng cường phối hợp

Chuyển đổi xanh đòi hỏi đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước và cán bộ doanh nghiệp có kiến thức về môi trường, công nghệ, tài chính xanh và quản trị bền vững. Vì vậy, cần tăng cường đào tạo và cập nhật kiến thức cho đội ngũ này.

Bên cạnh đó, Thành phố cần hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý, cơ quan đại diện chủ sở hữu và doanh nghiệp. Cơ chế phối hợp cần xác định rõ trách nhiệm, quyền hạn và đầu mối thực hiện nhằm hạn chế tình trạng chính sách được ban hành nhưng triển khai phân tán.

Thứ chín, hình thành hệ sinh thái hỗ trợ chuyển đổi xanh

Về dài hạn, Thành phố cần xây dựng hệ sinh thái chuyển đổi xanh với sự tham gia của Nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức tài chính, trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp công nghệ. Trong hệ sinh thái này, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế và điều phối; doanh nghiệp là chủ thể trực tiếp thực hiện; các tổ chức tài chính cung cấp nguồn lực; còn các cơ sở nghiên cứu và doanh nghiệp công nghệ cung cấp giải pháp. Người dân và cộng đồng dân cư chịu tác động cũng là chủ thể tham gia thông qua quyền tiếp cận thông tin, phản ánh, kiến nghị và giám sát theo quy định của pháp luật; sự tham gia này góp phần nâng cao tính minh bạch và hiệu quả của chính sách xanh.

Cách tiếp cận này sẽ giúp chuyển đổi xanh không còn là nhiệm vụ riêng của từng doanh nghiệp mà trở thành quá trình phối hợp giữa nhiều chủ thể. Đây cũng là hướng phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xanh của Thành phố trong giai đoạn tới.

Kết luận

Chuyển đổi xanh là yêu cầu tất yếu trong quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững. Đối với doanh nghiệp nhà nước, chuyển đổi xanh có ý nghĩa đặc biệt do nhóm doanh nghiệp này vừa thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh, vừa có vai trò trong cung ứng dịch vụ công, phát triển hạ tầng và thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội. Với cách tiếp cận quyền con người, ý nghĩa của chuyển đổi xanh nằm ở chỗ các cải thiện về công nghệ, năng lượng và phát thải phải chuyển hóa thành sự cải thiện có thể nhận thấy đối với chất lượng môi trường sống của người dân.

Tại Thành phố Hồ Chí Minh, hệ thống định hướng và chính sách liên quan đến tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải và phát triển bền vững ngày càng được quan tâm. Qua phân tích các nhóm nội dung của quản lý nhà nước, bài viết nhận diện một số vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện về tính đồng bộ của chính sách, nguồn lực tài chính, công nghệ, tiêu chí đánh giá, phối hợp thực hiện, kiểm tra, giám sát và cơ chế khuyến khích.

Trong giai đoạn 2026-2030, Thành phố cần chuyển mạnh từ việc xây dựng định hướng sang tổ chức thực hiện có mục tiêu, chỉ tiêu và lộ trình cụ thể (Thủ tướng Chính phủ, 2022b). Trọng tâm là hoàn thiện thể chế, tăng cường nguồn lực tài chính, thúc đẩy công nghệ và đổi mới sáng tạo, xây dựng tiêu chí đánh giá, nâng cao hiệu quả giám sát và tạo động lực cho doanh nghiệp. Đồng thời, cần tăng cường liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức tài chính và các cơ sở nghiên cứu để hình thành hệ sinh thái hỗ trợ chuyển đổi xanh.

Hoàn thiện quản lý nhà nước theo hướng đồng bộ, minh bạch, có khả năng đo lường và gắn với kết quả thực tế sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp nhà nước tại Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện chuyển đổi xanh hiệu quả hơn, qua đó đóng góp vào mục tiêu phát triển kinh tế xanh và phát triển bền vững của Thành phố cũng như của Việt Nam. Vì vậy, bài viết đề xuất xem quyền được sống trong môi trường trong lành là một trong những thước đo của quản lý chuyển đổi xanh. Theo đó, hiệu quả quản lý cần được đánh giá đồng thời qua khả năng phòng ngừa tổn hại môi trường, bảo đảm tiếp cận thông tin và sự tham gia giám sát theo quy định pháp luật, xác định trách nhiệm giải trình, cũng như thực hiện các biện pháp xử lý, khắc phục khi quyền và lợi ích hợp pháp của cộng đồng liên quan đến môi trường bị ảnh hưởng.


[1] Trong giai đoạn nghiên cứu, Luật số 69/2014/QH13 là căn cứ pháp lý đối với thời kỳ trước ngày 01/8/2025; từ ngày 01/8/2025, Luật số 68/2025/QH15 về Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp có hiệu lực, đồng thời Luật số 69/2014/QH13 hết hiệu lực, trừ các trường hợp chuyển tiếp theo Điều 59 của Luật số 68/2025/QH15. Xem Văn bản hợp nhất số 60/VBHN-VPQH ngày 23/3/2026.

---

Tài liệu tham khảo

Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Thủ tướng Chính phủ (2022a). Quyết định số 687/QĐ-TTg ngày 07/6/2022 phê duyệt Đề án Phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam.

Thủ tướng Chính phủ (2022b). Quyết định số 882/QĐ-TTg ngày 22/7/2022 phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030.

OECD (2011). Towards Green Growth. OECD Publishing, Paris.

OECD (2021). OECD Green Growth Policy Review. OECD Publishing.

Porter, M. E., & van der Linde, C. (1995). Toward a new conception of the environment-competitiveness relationship. Journal of Economic Perspectives, 9(4), 97-118.

UNEP (2011). Towards a Green Economy: Pathways to Sustainable Development and Poverty Eradication. United Nations Environment Programme.

World Bank (2022). Vietnam Country Climate and Development Report. World Bank.