TS. Đinh Thị Tâm

Khoa Luật, Trường Đại học Ngoại thương.

Chử Linh Trang - Lưu Hồng Hà

Sinh viên K62-LTMQT, Trường Đại học Ngoại thương

Bài viết được đăng trên Tạp chí Pháp luật về quyền con người số 53 (4/2026)

Tóm tắt: Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các nền tảng mạng xã hội, việc sử dụng và lan truyền hình ảnh của trẻ em trên không gian mạng ngày càng gia tăng, điều này đã đặt ra nhiều vấn đề pháp lý liên quan đến việc bảo đảm quyền riêng tư và quyền đối với hình ảnh của trẻ em. Trong bối cảnh đó, quyền được lãng quên được xem là một cơ chế pháp lý quan trọng nhằm hạn chế các tác động bất lợi từ việc lưu trữ và phổ biến thông tin, hình ảnh cá nhân của trẻ em trong môi trường số. Trên cơ sở phân tích các vấn đề pháp lý liên quan, tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, bài viết đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong việc bảo vệ quyền đối với hình ảnh của trẻ em trên không gian mạng.

Từ khóa: Quyền được lãng quên; quyền đối với hình ảnh của trẻ em; bảo vệ quyền riêng tư; quyền nhân thân.

Abstract: Along with the rapid development of social media platforms, the use and dissemination of children’s images in cyberspace have increased significantly, giving rise to numerous legal issues concerning the protection of privacy and children’s rights to their own images. In this context, the right to be forgotten is regarded as an important legal mechanism  for  limiting the adverse impacts arising from the storage and dissemination of children’s personal information and images in the digital environment. Based on an analysis of relevant legal issues and a review of international experience, this article proposes several recommendations aimed at improving Vietnamese law in order to enhance the protection of children’s rights to their images in cyberspace.

Quyền được lãng quên được xem là một cơ chế pháp lý quan trọng nhằm bảo vệ 
quyền đối với hình ảnh của trẻ em. Nguồn: phunuonline.com.vn.

Đặt vấn đề 

Sự phát triển mạnh mẽ của các nền tảng mạng xã hội như YouTube, TikTok và Instagram đã làm xuất hiện hiện tượng kidfluencer (người có sức ảnh hưởng là trẻ em), theo đó, hình ảnh của trẻ em được khai thác, sử dụng thường xuyên cho các mục đích giải trí và thương mại. Thực tiễn này làm phát sinh nhiều vấn đề pháp lý liên quan đến việc bảo đảm quyền đối với hình ảnh của trẻ em, đặc biệt trong trường hợp các hình ảnh, video được lan truyền và lưu trữ lâu dài trên không gian mạng, vượt khỏi sự kiểm soát của chủ thể quyền. Trong bối cảnh đó, quyền được lãng quên được xem là một cơ chế pháp lý quan trọng nhằm bảo vệ quyền đối với hình ảnh của trẻ em. Trên bình diện quốc tế, quyền này đã từng bước được ghi nhận và được cụ thể hóa trong các quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân, đặc biệt đối với dữ liệu cá nhân của trẻ em. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam hiện hành vẫn chưa có các quy định trực tiếp và rõ ràng về việc ghi nhận cũng như bảo đảm thực thi quyền này trên không gian mạng. Điều này đặt ra yêu cầu cần phải tiếp tục nghiên cứu nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật của Việt Nam về vấn đề này.

1. Khái niệm về quyền được lãng quên đối với hình ảnh của trẻ em

Quyền được lãng quên được hiểu là quyền của cá nhân yêu cầu các tổ chức, chủ thể có liên quan gỡ bỏ, xóa bỏ hoặc hạn chế khả năng tiếp cận đối với một số thông tin cá nhân nhất định liên quan đến họ trên các nền tảng trực tuyến. Theo Michael J.Kelly và David Satola, quyền được lãng quên phản ánh khả năng của cá nhân trong việc xóa bỏ, hạn chế, hủy liên kết (delink), xóa hoặc chỉnh sửa các thông tin cá nhân trên Internet nếu những thông tin đó gây hiểu lầm, xấu hổ, không còn phù hợp hoặc đã lỗi thời (Michael J. Kelly, David Satola, 2017). Như vậy, quyền được lãng quên chính là quyền của cá nhân được yêu cầu xóa bỏ, hạn chế xử lý hoặc chấm dứt việc hiển thị và lan truyền các thông tin cá nhân của mình trên môi trường Internet, khi những thông tin đó không còn phù hợp với thực tại, gây phương hại đến đời sống riêng tư, danh dự, uy tín hoặc khả năng tái hòa nhập xã hội của cá nhân.

Từ khái niệm quyền được lãng quên, quyền được lãng quên đối với hình ảnh của trẻ em có thể được hiểu là quyền của trẻ em, hoặc của người đại diện theo pháp luật của trẻ em, yêu cầu các tổ chức, cá nhân đang thu thập, lưu trữ, xử lý hoặc phổ biến hình ảnh của trẻ em trên môi trường Internet thực hiện việc xóa bỏ, hạn chế xử lý, hủy liên kết hoặc chấm dứt việc hiển thị những hình ảnh đó khi chúng không còn phù hợp, không còn cần thiết cho mục đích ban đầu, hoặc gây phương hại đến đời sống riêng tư, danh dự, nhân phẩm và sự phát triển toàn diện của trẻ. Trong đó, hình ảnh là sự phản ánh bên ngoài hình thể của con người, hình ảnh thu được nhờ khí cụ quang học như máy ảnh và con người nhận biết được nó bằng thị giác (Đặng Duy Thanh, 2020). Đối với trẻ em, tuỳ theo từng hệ thống pháp luật, định nghĩa về đối tượng này có thể khác nhau. Trên bình diện quốc tế, trẻ em thường được nhận diện chủ yếu dựa trên tiêu chí độ tuổi, theo đó, trẻ em là những người chưa đủ 18 tuổi. Theo Điều 1 của Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989, trẻ em được ghi nhận là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật quốc gia có quy định khác. Tại Việt Nam, Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016 xác định trẻ em là người dưới 16 tuổi.

Quyền được lãng quên đối với hình ảnh của trẻ em bao hàm khả năng của trẻ em trong việc quyết định cho phép hoặc không cho phép người khác thu thập, sử dụng, công bố và khai thác hình ảnh của mình, đặc biệt trong các trường hợp hình ảnh được sử dụng nhằm mục đích thương mại, quảng cáo hoặc sinh lợi. Ngoài ra, quyền của trẻ em đối với hình ảnh còn được hiểu là quyền yêu cầu các chủ thể khác tôn trọng, bảo vệ và không xâm phạm đến hình ảnh gắn liền với nhân thân của mình, đồng thời là cơ sở để người đại diện theo pháp luật của trẻ thực hiện quyền yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm, yêu cầu thu hồi, tiêu hủy hình ảnh đã bị sử dụng trái phép và yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

2. Pháp luật quốc tế về quyền được lãng quên đối với hình ảnh của trẻ em

Trước yêu cầu ngày càng cao trong việc bảo vệ dữ liệu cá nhân, nhiều quốc gia đã xây dựng và hoàn thiện các cơ chế pháp lý cho phép xóa bỏ hoặc hạn chế khả năng tiếp cận đối với những thông tin, hình ảnh cá nhân không còn phù hợp, trong đó quyền được lãng quên được xác lập như một thiết chế pháp lý quan trọng. Trên bình diện quốc tế, quyền được lãng quên đối với hình ảnh của trẻ em đã được ghi nhận và triển khai với những cách tiếp cận khác nhau trong nhiều hệ thống pháp luật, đồng thời xu hướng tăng cường mức độ bảo vệ đối với nhóm chủ thể này ngày càng được thể hiện rõ nét. Trong số đó, Liên minh châu Âu được đánh giá là khu vực tiên phong trong việc ghi nhận và cụ thể hóa quyền được lãng quên thông qua các đạo luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Trong pháp luật của Liên minh châu Âu, quyền được lãng quên lần đầu tiên được đề cập trong Chỉ thị 95/46/EC về bảo vệ dữ liệu cá nhân (Chỉ thị 95) (European Parliament and of the Council, 1995). Đến năm 2016, quyền được lãng quên mới được chính thức ghi nhận trong Quy định chung về bảo vệ dữ liệu của Liên minh châu Âu (GDPR) (Huỳnh Thị Nam Hải & Huỳnh Thị Minh Hải, 2023). Mặc dù vậy, trong GDPR, vấn đề quyền được lãng quên đối với hình ảnh trẻ em trong các hoạt động thương mại không được đề cập một cách cụ thể, trực tiếp. Thay vào đó, Điều 17 GDPR chỉ ra các trường hợp được áp dụng quy định về quyền được lãng quên. Theo đó, một cá nhân có quyền xóa dữ liệu cá nhân của mình nếu: (i) Dữ liệu cá nhân không còn cần thiết cho mục đích mà chúng được thu thập hoặc xử lý; (ii) Một tổ chức dựa vào sự đồng ý của cá nhân làm cơ sở hợp pháp để xử lý dữ liệu và cá nhân đó rút lại sự đồng ý của mình; (iii) Một tổ chức dựa vào lợi ích hợp pháp để biện minh cho việc xử lý dữ liệu của một cá nhân, cá nhân đó phản đối việc xử lý này và tổ chức không có lợi ích hợp pháp nào quan trọng hơn để tiếp tục xử lý; (iv) Một tổ chức đang xử lý dữ liệu cá nhân cho mục đích tiếp thị trực tiếp và cá nhân phản đối việc xử lý này; (v) Một tổ chức đã xử lý dữ liệu cá nhân của một cá nhân một cách bất hợp pháp; (vi) Một tổ chức phải xóa dữ liệu cá nhân để tuân thủ phán quyết hoặc nghĩa vụ pháp lý; (vii) Một tổ chức đã xử lý dữ liệu cá nhân của trẻ em để cung cấp các dịch vụ xã hội thông tin của họ.

Vụ án Google Tây Ban Nha 2014 là một ví dụ điển hình cho phán quyết của Tòa án Công lý Liên minh châu Âu (CJEU) về quyền được lãng quên. Năm 2010, ông Mario Costeja González, công dân Tây Ban Nha, đã khiếu kiện một tờ báo của Tây Ban Nha cùng Google Tây Ban Nha SL và Tập đoàn Google Inc. lên Cơ quan Bảo vệ dữ liệu quốc gia Tây Ban Nha. Ông phát hiện rằng khi tìm kiếm tên mình trên Google, kết quả hiển thị dẫn tới một bài báo của La Vanguardia đăng tải thông tin lỗi thời về việc đấu giá căn nhà bị thu hồi của ông theo một thủ tục tố tụng trước đây. Mặc dù vụ việc đã được giải quyết từ nhiều năm trước, các thông tin này vẫn tiếp tục xuất hiện trong kết quả tìm kiếm. Cho rằng việc hiển thị các dữ liệu không còn liên quan đã xâm phạm quyền riêng tư, ông González yêu cầu tờ báo chỉnh sửa hoặc xóa nội dung liên quan, đồng thời yêu cầu Google thực hiện việc xóa dữ liệu cá nhân để các thông tin đó không còn được hiển thị (Google Spain&AEPD, 2014). Trong phán quyết, CJEU cho rằng, cá nhân có quyền được lãng quên trong những điều kiện nhất định, cá nhân có quyền yêu cầu các công cụ tìm kiếm xóa các đường dẫn đến thông tin cá nhân về họ. Điều này áp dụng khi thông tin về cá nhân “không chính xác, không đầy đủ, không còn liên quan hoặc thông tin vượt quá các mục đích xử lý dữ liệu cần thiết”. Căn cứ Điều 6 và Điều 12b của Chỉ thị 95, CJEU phán quyết rằng ông González có quyền được lãng quên trên mạng Internet trong tình huống này và cụ thể, Google phải xóa những thông tin không chính xác liên quan đến ông González cũng như việc loại khỏi kết quả tìm kiếm của Google những đường dẫn không còn phù hợp (Bạch Thị Nhã Nam, 2021).

Bên cạnh pháp luật quốc tế, pháp luật của các quốc gia cũng ghi nhận về vấn đề này, điển hình như trong hệ thống pháp luật của Pháp. Pháp đã thúc đẩy việc thừa nhận quyền được lãng quên trên không gian mạng từ năm 2009, cùng với sự ra đời của Điều lệ cho phép người dùng Iinternet hạn chế dấu vết của họ trên website vào năm 2010 (Nguyễn Thị Dung, 2022). Điều 40 Luật số 2018-493 liên quan đến bảo vệ dữ liệu cá nhân của Pháp định nghĩa quyền được lãng quên là “Bất kỳ cá nhân nào cung cấp bằng chứng về danh tính đều có thể yêu cầu bên kiểm soát dữ liệu, khi cần thiết, chỉnh sửa, hoàn thiện, cập nhật, khóa hoặc xóa dữ liệu cá nhân liên quan đến họ nếu dữ liệu đó không chính xác, không đầy đủ, mơ hồ, lỗi thời hoặc việc thu thập, sử dụng, truyền đạt hoặc lưu trữ dữ liệu đó bị cấm”. Tuy nhiên, quyền được lãng quên không phải là tuyệt đối, bị loại trừ trong một số trường hợp nhất định như ảnh hưởng đến lợi ích công cộng hoặc quyền tự do báo chí. Đặc biệt, đầu năm 2024, Pháp đã đạt được một bước tiến quan trọng trong bảo vệ quyền trẻ em thông qua việc ban hành Luật số 2024-120, áp dụng trực tiếp đối với cha mẹ và người giám hộ. Theo Luật này, trẻ em được tham gia vào việc quyết định sử dụng hình ảnh của mình tùy theo độ tuổi và mức độ trưởng thành. Trong trường hợp hình ảnh của trẻ bị đăng tải trên môi trường mạng gây phương hại đến danh dự hoặc cản trở sự phát triển tâm sinh lý, tòa án có thể quyết định hạn chế hoặc chấm dứt một phần hoặc toàn bộ quyền giám hộ của cha mẹ. Đồng thời, Ủy ban Quốc gia về Tin học và các Quyền tự do của Pháp (CNIL) có thẩm quyền đề nghị tòa án áp dụng biện pháp cấm hoạt động đối với các trang web không tuân thủ yêu cầu xóa bỏ hình ảnh xâm phạm quyền trẻ em. Việc ghi nhận quyền được lãng quên và quyền đối với hình ảnh của trẻ em trong pháp luật quốc gia cho thấy Pháp sớm có các biện pháp bảo vệ quyền nhân thân của trẻ em trước các rủi ro từ môi trường số.

   Vụ tranh chấp giữa Google và CNIL là ví dụ tiêu biểu cho quyền được lãng quên ở Pháp. Vụ việc này xoay quanh vấn đề phạm vi lãnh thổ áp dụng của quyền hủy niêm yết đối với các kết quả tìm kiếm trên Google. Năm 2015, CNIL đã ra thông báo và yêu cầu Google phải tiến hành gỡ bỏ một số kết quả tìm kiếm liên quan đến các cá nhân đang cư trú tại Pháp khỏi toàn bộ các phiên bản của công cụ tìm kiếm Google trên phạm vi toàn cầu, cụ thể là trên tất cả các tên miền, bao gồm cả google.com. Theo lập luận của CNIL, chỉ việc hủy niêm yết trên quy mô toàn cầu mới có thể bảo đảm hiệu quả thực thi quyền được lãng quên của cá nhân, bởi khi một kết quả tìm kiếm liên quan đến người đang sinh sống tại Pháp bị Google gỡ bỏ, thì thông tin về người đó sẽ không còn có thể được truy cập, bất kể việc tìm kiếm được thực hiện thông qua tên miền của Google tại bất kỳ quốc gia nào. Cuối cùng, CJEU đã phán quyết rằng khi Google nhận được yêu cầu hủy đường dẫn đến trang web có dữ liệu nhạy cảm được công bố, Google phải xem xét lợi ích cân bằng giữa các quyền riêng tư và bảo vệ dữ liệu của người yêu cầu hủy niêm yết đó và lợi ích hợp pháp của những người dùng internet khác quan tâm đến thông tin đó (Bạch Thị Nhã Nam, 2021).

Ngoài khu vực châu Âu, pháp luật của một số quốc gia châu Á cũng đã ghi nhận về quyền được lãng quên, trong đó có thể kể đến Hàn Quốc. Tại Hàn Quốc, quyền này chủ yếu được quy định qua hướng dẫn của Ủy ban Truyền thông Hàn Quốc (KCC) năm 2016, cho phép cá nhân yêu cầu xóa bài đăng cá nhân khỏi kết quả tìm kiếm dưới điều kiện cụ thể như mất quyền truy cập hoặc đóng cửa trang web. Ngày 29/04/2016, KCC đã ban hành Hướng dẫn về quyền yêu cầu hạn chế truy cập đối với các bài đăng cá nhân trên Internet, có hiệu lực từ tháng 06/2016 và không áp dụng cho nội dung của bên thứ ba. Cơ chế này cho phép cá nhân yêu cầu nhà cung cấp dịch vụ hạn chế quyền tiếp cận công khai hoặc xóa bỏ các nội dung do chính họ đăng tải trong quá khứ nhưng không còn khả năng tự kiểm soát. Người nộp đơn yêu cầu hạn chế quyền truy cập phải cung cấp ba nội dung để chứng minh bài đăng do mình đăng tải, bao gồm: bài đăng và đường dẫn URL liên quan; bằng chứng xác nhận quyền đăng tải; và căn cứ của yêu cầu. Yêu cầu có thể bị từ chối nếu nội dung thuộc diện không được chặn, xóa hoặc buộc phải lưu trữ theo quy định pháp luật hoặc theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền, hoặc khi nội dung có liên quan đáng kể đến lợi ích công cộng. Trong các trường hợp này, người điều hành trang thông tin điện tử và nhà cung cấp dịch vụ có quyền từ chối hoặc hạn chế xử lý yêu cầu. Ngoài ra, bên thứ ba có thể phản đối quyết định hạn chế truy cập nếu chứng minh mình là người tải lên nội dung, kèm theo các tài liệu cần thiết (Yulchon LLC, 2017). Ngoài ra, theo Luật Bảo vệ thông tin cá nhân (PIPA), mọi trẻ vị thành niên và người trưởng thành đều có thể yêu cầu xóa thông tin cá nhân trực tuyến, nhưng chỉ áp dụng với những thông tin do chính họ đăng tải, không phải bởi bên thứ ba. Khoản 2 Điều 22 PIPA nhấn mạnh yêu cầu bảo vệ đặc biệt đối với dữ liệu của trẻ em dưới 14 tuổi, theo đó việc xử lý dữ liệu phải có sự đồng ý và xác nhận của người đại diện hợp pháp, trừ một số thông tin tối thiểu được phép thu thập trực tiếp theo quy định. Bên cạnh đó, Điều 21 PIPA quy định nghĩa vụ hủy bỏ thông tin cá nhân khi hết thời hạn lưu trữ hoặc đã hoàn thành mục đích xử lý, đồng thời yêu cầu áp dụng các biện pháp kỹ thuật để ngăn chặn việc khôi phục dữ liệu; trong trường hợp pháp luật buộc phải lưu giữ, dữ liệu phải được tách biệt và quản lý riêng nhân liên quan phải được lưu trữ và quản lý riêng biệt so với các thông tin cá nhân khác.

Có thể thấy, quyền được lãng quên tại Hàn Quốc không chỉ được ghi nhận trên phương diện quy phạm mà còn được hiện thực hóa thông qua các công cụ thực thi trong hoạt động quản lý hành chính. Ủy ban Bảo vệ thông tin cá nhân Hàn Quốc cho biết tính đến cuối năm 2024, tổng số hồ sơ được xử lý thông qua dịch vụ xoá dữ liệu đã đạt 26.788 trường hợp. Riêng trong năm 2024, số hồ sơ được xử lý là 15.975, tăng khoảng 1,5 lần so với năm 2023. Đây là dịch vụ hỗ trợ xóa hoặc che các bài đăng trực tuyến có chứa dữ liệu cá nhân được đăng tải trong thời thơ ấu. Cơ cấu người nộp đơn chủ yếu là học sinh trung học phổ thông và trung học cơ sở, cho thấy nhu cầu kiểm soát dữ liệu cá nhân phát sinh rất sớm trong quá trình phát triển của trẻ em, đồng thời đặt ra yêu cầu tăng cường cơ chế hỗ trợ mang tính chủ động thay vì chỉ dựa vào khả năng tự bảo vệ của các chủ thể chưa có đầy đủ năng lực nhận thức pháp lý. Đáng chú ý, tỷ lệ yêu cầu xóa dữ liệu cao trên các nền tảng có tính lan truyền mạnh như TikTok (35,9%), YouTube (22,1%) và Instagram (16,3%) cho thấy mối liên hệ trực tiếp giữa tính lan truyền nhanh, tính công khai cao của mạng xã hội và nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em thông qua các nội dung được đăng tải từ sớm, thiếu sự cân nhắc về hệ quả pháp lý và xã hội lâu dài (Lee Kyung-tak, 2025). Điều này phản ánh tính khả thi và hiệu quả của mô hình bảo vệ quyền được lãng quên, góp phần thiết lập sự cân bằng hợp lý giữa bảo vệ dữ liệu cá nhân, quyền tự do biểu đạt và hoạt động bình thường của các nền tảng số.

3. Pháp luật Việt Nam về quyền được lãng quên đối với hình ảnh của trẻ em

Nhận thấy tầm quan trọng của việc bảo vệ dữ liệu cá nhân nói chung và bảo vệ hình ảnh của trẻ em trên không gian mạng nói riêng, trong thời gian qua, hệ thống pháp luật Việt Nam đã từng bước được hoàn thiện theo hướng tương thích các chuẩn mực quốc tế về vấn đề này. Sự ra đời của Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện hành lang pháp lý bảo vệ quyền riêng tư của cá nhân, đặc biệt trong bối cảnh dữ liệu cá nhân đang phải đối mặt với nhiều rủi ro bị đánh cắp, xâm phạm trên môi trường số.

Liên quan đến quyền được lãng quên đối với hình ảnh của trẻ em, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 có quy định về quyền xoá, huỷ, khử nhận dạng dữ liệu cá nhân. Quy định này đã tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế về bảo vệ dữ liệu cá nhân nói chung và quyền đối với hình ảnh nói riêng. Cụ thể, khoản 1 Điều 14 quy định các trường hợp mà cá nhân được thực hiện việc xóa, huỷ dữ liệu cá nhân bao gồm: đã hoàn thành mục đích xử lý dữ liệu cá nhân; hết thời hạn lưu trữ theo quy định của pháp luật; thực hiện theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; thực hiện theo thỏa thuận; các trường hợp khác theo quy định của pháp luật. Quyền yêu cầu xoá dữ liệu cá nhân là một quyền của chủ thể dữ liệu cá nhân được ghi nhận tại điểm d khoản 1 Điều 4: “Yêu cầu cung cấp, xóa, hạn chế xử lý dữ liệu cá nhân; gửi yêu cầu phản đối xử lý dữ liệu cá nhân”. Về chủ thể dữ liệu cá nhân, khoản 5 Điều 2 Luật này quy định chủ thể là “người được dữ liệu cá nhân phản ánh”.

Ngoài ra, trong Bộ luật Dân sự năm 2015, quyền của cá nhân đối với hình ảnh đã được ghi nhận. Điều 32 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình, việc sử dụng hình ảnh cần có sự đồng ý của người có hình ảnh hoặc người đại diện theo pháp luật của họ, trừ một số trường hợp tại khoản 2 Điều này. Có thể thấy, quyền của cá nhân đối với hình ảnh là một quyền nhân thân, bởi hình ảnh là nội dung quyền nhân thân gắn với cá nhân, được coi là một trong những thông tin cá nhân của một người (Võ Minh Tuấn, 2024). Liên quan tới trẻ em, quyền đối với hình ảnh không chỉ là quyền nhân thân mà được coi là quyền bí mật đời sống riêng tư. Điều 21 Luật Trẻ em năm 2016 quy định về quyền bí mật đời sống riêng tư của trẻ em như sau: (i) Trẻ em có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình vì lợi ích tốt nhất của trẻ em; (ii) Trẻ em được pháp luật bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác; được bảo vệ và chống lại sự can thiệp trái pháp luật đối với thông tin riêng tư. Thêm vào đó, khoản 11 Điều 6 của Luật này nghiêm cấm hành vi công bố, tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ em mà không được sự đồng ý của trẻ em từ đủ 7 tuổi trở lên và của cha, mẹ, người giám hộ của trẻ em. Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 36 Nghị định số 56/2017/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 09/05/2017 Quy định chi tiết một số điều của Luật Trẻ em có quy định về việc phải xin phép khi đưa thông tin bí mật đời sống riêng tư của trẻ em lên mạng trong hai trường hợp: (i) Đối với trẻ dưới 07 tuổi: phải xin phép cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em; (ii) Đối với trẻ từ đủ 07 tuổi trở lên: phải xin phép cha, mẹ, người chăm sóc và trẻ em đó. Đồng thời quy định việc cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên môi trường mạng phải sử dụng các biện pháp, công cụ bảo đảm an toàn về thông tin bí mật đời sống riêng tư của trẻ em, các thông điệp cảnh báo nguy cơ khi trẻ em cung cấp, thay đổi thông tin bí mật đời sống riêng tư của trẻ em.

Trong thời gian gần đây, hiện tượng kidfluencer nổi lên như một xu hướng mới, ảnh hưởng trực tiếp đến việc sử dụng hình ảnh của trẻ em. Luật Quảng cáo năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) ra đời với mục tiêu tăng cường trách nhiệm của người có sức ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo. Định nghĩa về người có sức ảnh hưởng được xuất hiện trong Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023. Theo khoản 9 Điều 3 Luật này, người có ảnh hưởng là “chuyên gia, người có uy tín, người được xã hội chú ý trong lĩnh vực, ngành, nghề cụ thể theo quy định của Chính phủ”. Trong lĩnh vực quảng cáo, người có sức ảnh hưởng được gọi là “người chuyển tải sản phẩm quảng cáo”. Khoản 8 Điều 1 Luật Quảng cáo năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) quy định người chuyển tải sản phẩm quảng cáo là “người trực tiếp quảng cáo, khuyến nghị, xác nhận sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ trên mạng hoặc trực tiếp quảng cáo bằng hình thức mặc, treo, gắn, dán, vẽ, sử dụng có mục đích sinh lợi hoặc hình thức khác theo quy định của Chính phủ”. Ngoài ra, Điều 15a Luật Quảng cáo năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) còn quy định về các quyền và nghĩa của người chuyển tải sản phẩm quảng cáo (Quốc hội, 2025). Có thể thấy, quy định này đã đáp ứng sự phát triển của thời đại, đặc biệt ở bối cảnh có sự xuất hiện của nhóm chủ thể mới trong hoạt động quảng cáo. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam vẫn còn một số hạn chế khi chưa đề cập đến trách nhiệm của người chuyển tải sản phẩm quảng cáo, trách nhiệm của bên cung cấp nền tảng mạng xã hội và trách nhiệm của các bên liên quan trong việc bảo vệ hình ảnh của trẻ em khi được đăng tải trên không gian mạng.

Dưới góc độ thực thi pháp luật, các cơ quan có thẩm quyền đã nhiều lần xử lý các hành vi xâm phạm quyền đối với hình ảnh cá nhân nói chung và quyền đối với hình ảnh của trẻ em nói riêng. Điển hình có thể kể đến vụ xử phạt 25 triệu đồng đối với hành vi đăng ảnh bé gái lên mạng xã hội. Cụ thể, ngày 12/01/2023, lãnh đạo Uỷ ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với bà N.T.T 30 tuổi, chủ một cửa hàng phụ kiện, quần áo đã đăng ảnh bé gái 5 tuổi lên trang Facebook cá nhân vì nghi cháu bé này lấy chiếc vòng tay trị giá 10 nghìn đồng (Báo Nhân Dân, 2023). Đặc biệt, khi đăng tải, chủ cửa hàng đã không sử dụng biện pháp để che mặt của bé gái, điều này có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới danh dự và tâm lý của cháu bé trong tương lai. Tuy nhiên, chưa có vụ việc nào liên quan trực tiếp đến quyền lãng quên đối với hình ảnh của trẻ em. Dường như vấn đề này chưa được các chủ thể quyền quan tâm thỏa đáng, dẫu rằng, nếu quyền này mà không được bảo vệ thích hợp thì sẽ tiềm ẩn rất nhiều rủi ro cho chủ thể quyền.

4. Một số đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quyền được lãng quên đối với hình ảnh của trẻ em

Có thể nhận thấy rằng, mặc dù pháp luật Việt Nam hiện hành đã thiết lập những quy định nhất định nhằm bảo vệ hình ảnh của trẻ em trên không gian mạng, song quyền được lãng quên đối với hình ảnh của trẻ em vẫn chưa được pháp điển hóa thành các quy định riêng biệt, cụ thể trong bất kỳ văn bản quy phạm pháp luật nào. Do vậy, việc hoàn thiện khung pháp lý về quyền được lãng quên đối với hình ảnh của trẻ em là yêu cầu mang tính cấp thiết đối với Việt Nam hiện nay, nhằm tạo ra cơ chế pháp lý bảo vệ hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em trong môi trường số, đồng thời nâng cao mức độ tương thích của pháp luật Việt Nam so với các chuẩn mực pháp lý quốc tế về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Theo đó, Việt Nam cần hoàn thiện các quy định pháp luật về vấn đề này theo hướng:

Thứ nhất, cần pháp điển hoá quyền được lãng quên trong văn bản quy phạm pháp luật, bao gồm Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân và Luật Trẻ em. Trong đó, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân cần đưa ra định nghĩa, các trường hợp áp dụng và chủ thể có quyền yêu cầu quyền được lãng quên trên không gian mạng. Luật Trẻ em cần ghi cụ thể quyền của trẻ em trong việc yêu cầu xoá những hình ảnh cá nhân trên không gian mạng khi những hình ảnh ấy ảnh hưởng tiêu cực tới đời sống riêng tư của trẻ.

Thứ hai, cần quy định cụ thể độ tuổi trẻ em có quyền yêu cầu xoá hình ảnh của bản thân trên không gian mạng. Dựa trên sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em cũng như sự phát triển của xã hội, các nhà lập pháp có thể xác định độ tuổi trẻ em có nhận thức trong việc nhận diện hành vi xâm phạm đến hình ảnh của cá nhân mình trên nền tảng số.

Thứ ba, cần quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của bố mẹ, người giám hộ trong việc thực hiện yêu cầu quyền được lãng quên đối với hình ảnh của trẻ em. Quy định này hướng tới bố mẹ, người giám hộ của những đứa trẻ chưa đủ độ tuổi có thể tự mình yêu cầu quyền được lãng quên đối với hình ảnh của bản thân.

Thứ tư, cần quy định cụ thể về nghĩa vụ của bên thứ ba. Bên thứ ba bao gồm nhà cung cấp nền tảng số, người sử dụng hình ảnh của trẻ em trong các hoạt động thương mại, quảng cáo. Trong trường hợp nhận được yêu cầu lãng quên hình ảnh của trẻ em, bên thứ ba cần có những biện pháp kịp thời, hiệu quả.

Kết luận

Trong kỷ nguyên số, khi dữ liệu cá nhân có thể được thu thập, lưu trữ và lan truyền rộng rãi trên không gian mạng, quyền được lãng quên ngày càng có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ các quyền nhân thân, đặc biệt đối với trẻ em - nhóm chủ thể dễ bị tổn thương trong môi trường số. Việc thừa nhận quyền yêu cầu xoá bỏ hoặc hạn chế xử lý những dữ liệu, hình ảnh không còn phù hợp hoặc có khả năng gây ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống riêng tư và sự phát triển toàn diện của trẻ thể hiện tính nhân văn và tiến bộ của pháp luật trong bảo vệ quyền con người. Từ kinh nghiệm quốc tế, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan, nhằm góp phần bảo vệ tốt nhất các quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em trong môi trường số./.

---

Tài liệu tham khảo

Bạch Thị Nhã Nam. (2021). Quyền được lãng quên từ thực tiễn phán quyết trong phạm vi Liên minh châu Âu. Tạp chí Luật sư Việt Nam. https://lsvn.vn/quyen-duoc-lang-quen-tu-thuc-tien-phan-quyet-trong-pham-vi-lien-minh-chau-au1615432136-a101448.html.

Báo Nhân Dân. (2023). Đăng ảnh bé gái lên mạng xã hội bị xử phạt 25 triệu đồng. https://nhandan.vn/dang-anh-be-gai-len-mang-xa-hoi-bi-xu-phat-25-trieu-dong-post734615.html.

Đặng Duy Thanh. (2020). Quyền của cá nhân đối với hình ảnh: Quy định và bất cập. Tạp chí Tòa án nhân dân. https://tapchitoaan.vn/quyen-cua-ca-nhan-doi-voi-hinh-anh-quy-dinh-va-bat-cap.

European Parliament and Council of the European Union. (1995). Directive 95/46/EC on the protection of individuals with regard to the processing of personal data and on the free movement of such data. https://eur-lex.europa.eu/eli/dir/1995/46/oj/eng.

Google Spain SL & Google Inc. v. Agencia Española de Protección de Datos (AEPD) & Mario Costeja González. (2014). Judgment of the Court (Grand Chamber), Case C-131/12. https://eur-lex.europa.eu/legal-content/EN/TXT/?uri=CELEX%3A62012CJ0131.

Huỳnh Thị Nam Hải & Huỳnh Thị Minh Hải. (2023). Quyền được lãng quên trên không gian mạng và vấn đề bảo đảm sự cân bằng với quyền tự do ngôn luận. Tạp chí Tòa án nhân dân. https://tapchitoaan.vn/quyen-duoc-lang-quen-tren-khong-gian-mang-va-van-de-dam-bao-su-can-bang-voi-quyen-tu-do-ngon-luan8770.html.

Kelly, M. J., & Satola, D. (2017). The right to be forgotten. University of Illinois Law Review, (1), 1–64.

Lee, K.-t. (2025). TikTok requests for personal data deletion triple in South Korea from last year. https://biz.chosun.com/en/en-it/2025/01/22/PSAVW22XF5HUVIQASDHUXFQMAE/.

Nguyễn Thị Dung. (2022). Quyền được lãng quên trên môi trường internet ở một số quốc gia và kinh nghiệm tham khảo cho Việt Nam. Tạp chí Dân chủ & Pháp luật. https://danchuphapluat.vn/quyen-lang-quen-tren-moi-truong-internet-o-mot-so-quoc-gia-va-kinh-nghiem-tham-khao-cho-viet-nam-524.html.

Quốc hội. (2025). Luật Quảng cáo sửa đổi, bổ sung.

Võ Minh Tuấn. (2024). Quyền hình ảnh của cá nhân theo quy định của pháp luật Việt Nam và phương thức bảo vệ khi bị xâm phạm. Tạp chí Luật sư Việt Nam. https://lsvn.vn/quyen-hinh-anh-ca-nhan-theo-quy-dinh-cua-phap-luat-viet-nam-va-phuong-thuc-bao-ve-khi-bi-xam-pham-1722783981-a145976.html.

Yulchon LLC. (2017). South Korea: Korea Communications Commission releases guidelines on “the right to be forgotten”. https://www.mondaq.com/it-and-internet/561018/korea-communications-commission-releases-guidelines-on-the-right-to-be-forgotten.