Nguyễn Diệp Chi

Đài Truyền hình Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết đề xuất các phương diện phân tích diễn ngôn về tính nữ trên truyền hình từ góc độ quyền phụ nữ và bình đẳng giới, hướng tới việc vận dụng trong nghiên cứu ở Việt Nam. Bài viết sử dụng phương pháp tổng quan tường thuật có định hướng, kết hợp phân tích Công ước xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW), Cương lĩnh Hành động Bắc Kinh, Bộ chỉ báo nhạy cảm giới của UNESCO và các văn bản chính sách trong nước. Kết quả tổng hợp cho thấy nghiên cứu giới trên truyền hình không nên dừng ở việc đếm số nhân vật nữ. Cần xem xét phụ nữ phát ngôn với tư cách nào, có khả năng quyết định và hành động ra sao, những chuẩn mực nào về ngoại hình, tuổi tác, gia đình và cảm xúc được đặt ra, cũng như lời nói, hình ảnh và âm thanh phối hợp tạo nên cách nhìn về phụ nữ thế nào. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất bốn nhóm nội dung phân tích và lưu ý sự khác biệt theo thể loại chương trình và nền tảng phân phối.

Từ khóa: bình đẳng giới; diễn ngôn; quyền phụ nữ; tính nữ; truyền hình.

Abstract: This article proposes an analytical framework for studying television discourses of femininity from the perspective of women’s rights and gender equality in the Vietnamese context. It uses a directed narrative review together with an analysis of CEDAW, the Beijing Platform for Action, UNESCO’s gender-sensitive media indicators and Vietnamese policy documents. The synthesis suggests that gender representation should be examined through voice, agency, social roles, norms surrounding the body and age, and the interaction of verbal, visual and audio resources. Four analytical dimensions are proposed, while programme genre and distribution platform are treated as contextual factors.

Keywords: discourse; femininity; gender equality; television; women’s rights.

Ảnh minh họa. Nguồn: UN Woman Viet Nam

Đặt vấn đề

Bình đẳng giới trong truyền thông không chỉ được phản ánh qua số lượng phụ nữ xuất hiện. Điều quan trọng hơn là phụ nữ xuất hiện với tư cách nào, được phát biểu về vấn đề gì và có cơ hội tự trình bày quan điểm đến đâu. Đối với truyền hình, ý nghĩa về giới còn được hình thành qua lời dẫn, hình ảnh, âm thanh và cách tổ chức câu chuyện. Vì vậy, nghiên cứu về phụ nữ trên truyền hình cần đặt câu hỏi về sự bình đẳng trong tham gia, quyền tự chủ và những khuôn mẫu giới được lặp lại trong nội dung.

CEDAW yêu cầu các quốc gia thành viên thực hiện các biện pháp nhằm thay đổi những khuôn mẫu xã hội và văn hóa dựa trên định kiến về vai trò của nam và nữ (UN, 1979). Cương lĩnh Hành động Bắc Kinh năm 1995 tiếp tục xác định phụ nữ và truyền thông là một trong những lĩnh vực cần ưu tiên (UN, 1995). Hai văn kiện này cho thấy truyền thông không chỉ phản ánh quan niệm xã hội về phụ nữ mà còn có thể góp phần duy trì hoặc thay đổi những quan niệm đó.

Kết quả của Dự án Giám sát Truyền thông Toàn cầu (GMMP) năm 2025 ghi nhận phụ nữ chiếm 26% số chủ thể và nguồn tin được nhìn thấy, nghe thấy hoặc đề cập trong báo in, phát thanh và truyền hình (WACC, 2025). Con số này cho thấy sự hiện diện vẫn là một chỉ báo cần thiết, nhưng chưa đủ. Nghiên cứu còn cần xem xét phụ nữ xuất hiện với vai trò chuyên gia, người ra quyết định, nhân chứng hay người chịu tác động; đồng thời xem xét liệu họ có cơ hội giải thích vấn đề hay chỉ được dùng để minh họa cho câu chuyện.

Ở Việt Nam, Luật Bình đẳng giới năm 2006 quy định nguyên tắc bình đẳng nam, nữ trong lĩnh vực văn hóa và thông tin, đồng thời nghiêm cấm việc tuyên truyền, phổ biến những nội dung cổ vũ định kiến giới (Quốc hội, 2006). Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030 cũng đặt ra các mục tiêu đối với công tác thông tin và truyền thông (Chính phủ, 2021). Đây là cơ sở để xem xét vấn đề giới không chỉ trong các chương trình chuyên biệt mà cả trong nội dung truyền hình thường ngày.

Bài viết sử dụng bốn khái niệm có liên quan nhưng không đồng nhất. “Hình ảnh phụ nữ” chỉ những đặc điểm và vai trò của phụ nữ được thể hiện trong sản phẩm truyền thông. “Biểu đạt giới” nhấn mạnh cách ngôn ngữ, hình ảnh và các ký hiệu truyền thông trình bày con người và quan hệ giới. “Tính nữ” được hiểu là những quan niệm và chuẩn mực xã hội gắn với phụ nữ trong những hoàn cảnh lịch sử, văn hóa cụ thể. Từ đó, “diễn ngôn về tính nữ” được dùng để chỉ những cách nói và cách thể hiện được lặp lại, qua đó một số quan niệm về phụ nữ trở nên quen thuộc, được chấp nhận hoặc được coi là chuẩn mực.

Theo cách hiểu trên, nghiên cứu diễn ngôn về tính nữ không chỉ hỏi phụ nữ được mô tả như thế nào mà còn xem truyền hình lựa chọn nhân vật nào, trao tiếng nói cho ai, nhấn mạnh chi tiết nào và sử dụng hình ảnh, âm thanh ra sao. Bài viết tập trung vào ba nhiệm vụ: làm rõ cơ sở về quyền phụ nữ và bình đẳng giới; lựa chọn các cách tiếp cận lý thuyết phù hợp với truyền hình; và đề xuất các phương diện phân tích có thể được kiểm định bằng nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam.

1. Quyền phụ nữ, bình đẳng giới và trách nhiệm của truyền thông

a) Từ chống phân biệt đối xử đến thay đổi khuôn mẫu giới

Tiếp cận từ góc độ quyền phụ nữ trong truyền thông không chỉ nhằm phát hiện những phát ngôn kỳ thị trực tiếp. CEDAW chỉ ra rằng bất bình đẳng còn có thể được duy trì qua các khuôn mẫu văn hóa và quan niệm quen thuộc về vai trò của nam và nữ. Như đã đề cập, Điều 5 của Công ước yêu cầu các quốc gia thay đổi những khuôn mẫu dựa trên quan niệm về sự thấp kém hoặc vượt trội của một giới, hay sự phân công vai trò cứng nhắc giữa hai giới (UN, 1979). Vì thế, việc xem xét những hình ảnh và cách nói được lặp lại trên truyền thông có ý nghĩa đối với việc nhận diện định kiến giới.

Trong Kết luận về báo cáo định kỳ lần thứ chín của Việt Nam, ban hành tháng 02/2026, Ủy ban về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ tiếp tục bày tỏ quan ngại về các chuẩn mực xã hội mang tính phân biệt đối xử và khuôn mẫu giới trong truyền thông. Ủy ban khuyến nghị Việt Nam tăng cường các biện pháp chống vật thể hóa phụ nữ, sử dụng ngôn ngữ nhạy cảm giới và khuyến khích thể hiện phụ nữ như những chủ thể có năng lực tham gia và đóng góp vào thay đổi xã hội (CEDAW, 2026). Những nhận định và khuyến nghị này có liên quan trực tiếp đến việc nghiên cứu nội dung truyền hình.

Bộ chỉ báo nhạy cảm giới của UNESCO cũng nhấn mạnh rằng việc đánh giá nội dung truyền thông không thể chỉ dựa vào số lượng phụ nữ xuất hiện. Các tiêu chí còn bao gồm vai trò của phụ nữ với tư cách nguồn tin, chuyên gia, người ra quyết định, cũng như cách nội dung củng cố hay thách thức khuôn mẫu giới (UNESCO, 2012). Đối với truyền hình, cần xem xét thêm cách lời dẫn, khuôn hình, góc máy, đồ họa, âm thanh và dựng hình hỗ trợ hoặc làm thay đổi ý nghĩa của lời nói.

b) Cơ sở pháp lý và chính sách ở Việt Nam

Đối với Việt Nam, Luật Bình đẳng giới năm 2006 là cơ sở pháp lý trực tiếp, với quy định về bình đẳng nam, nữ trong lĩnh vực văn hóa, thông tin và việc cấm cổ vũ định kiến giới (Quốc hội, 2006). Chỉ thị số 10/2007/CT-TTg tiếp tục giao trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bình đẳng giới cho các cơ quan thông tin đại chúng, trong đó có Đài Truyền hình Việt Nam (Thủ tướng Chính phủ, 2007). Như vậy, truyền thông vừa là kênh thực hiện chính sách bình đẳng giới, vừa là lĩnh vực cần được đánh giá theo chính yêu cầu đó.

Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030 đặt ra mục tiêu về mức độ tiếp cận kiến thức của người dân và việc duy trì các chuyên mục, chuyên đề về bình đẳng giới trên hệ thống phát thanh, truyền hình (Chính phủ, 2021). Tuy nhiên, việc có các chương trình chuyên biệt chưa đủ để phản ánh chất lượng biểu đạt giới của toàn bộ nội dung phát sóng. Định kiến vẫn có thể xuất hiện trong bản tin, phóng sự, tọa đàm, chương trình giải trí hoặc các phiên bản được đưa lên nền tảng số.

Vì vậy, nghiên cứu giới trên truyền hình cần chú ý tới những lựa chọn tác nghiệp cụ thể: ai được chọn làm nguồn tin, ai được hỏi ý kiến, câu hỏi được đặt như thế nào, chi tiết nào được nhấn mạnh và hình ảnh nào được sử dụng. Phân tích diễn ngôn giúp bổ sung cho cách tiếp cận pháp lý bởi nhiều định kiến không xuất hiện dưới dạng một phát ngôn vi phạm rõ ràng, mà được duy trì qua cách kể chuyện và cách phân chia vai trò giữa các nhân vật.

2. Từ “hình ảnh phụ nữ” đến cách tiếp cận diễn ngôn về tính nữ

a) Tính nữ được hình thành trong bối cảnh xã hội

Nghiên cứu về tính nữ không nên xuất phát từ giả định rằng phụ nữ đương nhiên gắn với những phẩm chất như dịu dàng, chăm sóc, hy sinh hoặc chú trọng ngoại hình. Các cách tiếp cận kiến tạo xã hội cho rằng giới được hình thành và củng cố qua những thực hành lặp lại trong đời sống. Theo cách hiểu này, tính nữ không phải là một bản chất cố định mà là những quan niệm và chuẩn mực về phụ nữ được hình thành trong những bối cảnh xã hội cụ thể (West, C., & Zimmerman, D. H, 1987; Butler, J., 1990).

Connell và Schippers cho rằng các hình thức thể hiện tính nữ không có vị thế ngang nhau. Một số cách ứng xử được xã hội coi là phù hợp hoặc đáng mong đợi, trong khi những cách khác có thể bị xem là lệch khỏi chuẩn mực (Connell, R. W, 1987). Vì vậy, khi nghiên cứu truyền hình, cần xem xét không chỉ có bao nhiêu hình mẫu phụ nữ được thể hiện mà còn cả hình mẫu nào được đề cao, hình mẫu nào bị phê phán và tiêu chí đánh giá là gì.

Trong bối cảnh Việt Nam, những thông điệp về phụ nữ tự chủ và thành công có thể tồn tại song song với các kỳ vọng về chăm sóc gia đình, hôn nhân và làm mẹ. Qua phân tích 469 văn bản truyền thông trực tuyến, Dang nhận diện nhiều cách kiến tạo hình ảnh “người phụ nữ lý tưởng” cùng hiện diện, trong đó ngôn ngữ về trao quyền không hoàn toàn thay thế các chuẩn mực cũ (Dang, T. K. P., 2026). Kết quả này cho thấy, cần chú ý đến sự đan xen giữa yếu tố mới và những kỳ vọng giới đã có từ lâu.

b) Các cách tiếp cận lý thuyết được sử dụng

Hall cho rằng truyền thông không đơn thuần phản ánh một thực tại có sẵn mà tham gia tạo ra ý nghĩa về thực tại đó (Hall, S., 1997). Từ góc nhìn này, việc một chương trình giới thiệu phụ nữ bằng chức danh nghề nghiệp hay bằng quan hệ gia đình, lựa chọn chi tiết chuyên môn hay đời tư, bố trí ai nói trước và ai được quyền giải thích vấn đề đều có thể ảnh hưởng đến cách công chúng hiểu về vai trò của phụ nữ.

Các công trình của West và Zimmerman, Butler, Connell và Schippers giúp lý giải cách những chuẩn mực giới được hình thành, lặp lại và phân cấp trong đời sống xã hội. Phân tích diễn ngôn phê phán nữ quyền của Lazar được sử dụng để xem ai có quyền xác định vấn đề, cách ứng xử nào được coi là bình thường và trách nhiệm được đặt lên ai (Lazar, M. M, 2005, 2007). Nhờ đó, nghiên cứu không chỉ mô tả phụ nữ được nhắc tới như thế nào mà còn làm rõ quan hệ quyền lực được thể hiện qua ngôn ngữ và cách tổ chức câu chuyện ra sao.

Đối với truyền hình, phân tích đa phương thức của Kress và van Leeuwen giúp mở rộng việc nghiên cứu từ lời nói sang hình ảnh: góc máy, cỡ cảnh, ánh nhìn, bố cục và mức độ nổi bật của nhân vật (Kress, G., & van Leeuwen, T., 2006). Cách tiếp cận của Gill được sử dụng để phân tích những trường hợp trong đó ngôn ngữ về tự do lựa chọn và thành công cá nhân đi cùng áp lực phải đẹp, trẻ, kiểm soát cảm xúc hoặc hoàn thành tốt vai trò chăm sóc. Như vậy, mỗi cách tiếp cận được sử dụng để trả lời một nhóm câu hỏi cụ thể, thay vì kết hợp nhiều lý thuyết một cách dàn trải.

Một vấn đề khác nảy sinh khi nội dung truyền hình được đưa lên các nền tảng số. Cùng một chương trình có thể được cắt ngắn, đặt lại tiêu đề hoặc được gắn một ảnh đại diện khác. Khi đó, điểm nhấn của câu chuyện có thể thay đổi, chẳng hạn từ thành tích nghề nghiệp sang ngoại hình hoặc đời tư. Vì vậy, nghiên cứu hiện nay cần xem xét cả bản phát sóng và cách nội dung được biên tập lại khi phân phối trên nền tảng số.

c) Thông điệp trao quyền và sự tiếp tục của các chuẩn mực cũ

Việc truyền thông sử dụng những hình ảnh phụ nữ hiện đại, độc lập và thành công không có nghĩa là các chuẩn mực giới truyền thống đã biến mất. Gill chỉ ra rằng trong văn hóa truyền thông hậu nữ quyền, ngôn ngữ về lựa chọn và tự chủ có thể đi kèm với yêu cầu phụ nữ phải thường xuyên chăm sóc cơ thể, hoàn thiện bản thân và tự chịu trách nhiệm cho thành công hoặc thất bại (Gill, R., 2007). Vì thế, một nội dung có vẻ đề cao phụ nữ vẫn cần được xem xét liệu có đồng thời đặt ra thêm những yêu cầu riêng đối với phụ nữ hay không.

Các nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy hai xu hướng này thường đồng thời hiện diện. Nguyen ghi nhận rằng trong quảng cáo truyền hình dịp Tết, phụ nữ vẫn thường được gắn với việc chăm sóc và trách nhiệm gia đình (Nguyen, H. L., 2016). Vu và cộng sự chỉ ra rằng phụ nữ ở vị trí lãnh đạo xuất hiện ít hơn trong tin tức và thường được gắn với những lĩnh vực phù hợp với vai trò giới truyền thống (Vu, H. T., Lee, T.-T., Duong, H. T., & Barnett, B., 2018). Trong nghiên cứu về quảng cáo, Vo và cộng sự cũng nhận thấy sự giằng co giữa thông điệp bình đẳng và những khuôn mẫu đã ăn sâu (Vo, D.-T., Nguyen, L. T. V., Tran, T., & Nayak, R., 2024). Từ những kết quả này, có thể thấy cần phân tích đồng thời sự hiện diện, vai trò phát ngôn, vai trò xã hội và các chuẩn mực được gắn với nhân vật nữ.

Nghiên cứu của Hoang và Do về một chương trình truyền hình thực tế ở Việt Nam cho thấy người xem không nhất thiết tiếp nhận nguyên vẹn cách thể hiện mà chương trình đưa ra; họ có thể đồng tình, thương lượng hoặc phản biện (Hoang, L. H. T., & Do, A. D., 2026). Vì vậy, không nên suy luận trực tiếp từ nội dung sang thái độ của công chúng. Một thông điệp có vẻ tiến bộ về giới chưa chắc được người xem hiểu theo cùng một cách.

3. Đề xuất các phương diện phân tích diễn ngôn về tính nữ trên truyền hình

Các nghiên cứu về giới trong truyền thông hiện nay đi theo nhiều hướng khác nhau. Nghiên cứu giám sát giới có ưu thế trong việc đo lường mức độ hiện diện và vai trò của phụ nữ nhưng không phải lúc nào cũng lý giải được ý nghĩa được tạo ra như thế nào. Phân tích diễn ngôn phê phán nữ quyền giúp làm rõ quan hệ quyền lực nhưng cần được cụ thể hóa khi áp dụng cho sản phẩm nghe nhìn. Phân tích đa phương thức cho phép phân tích hình ảnh và âm thanh, song cần được đặt trong mối liên hệ với các nguyên tắc về quyền phụ nữ và bình đẳng giới. Trên cơ sở kết hợp ba hướng này, bài viết đề xuất bốn nhóm nội dung phân tích. Thể loại chương trình và nền tảng phân phối được xem là các yếu tố bối cảnh vì chúng ảnh hưởng trực tiếp đến cách nội dung được tổ chức.

Bảng 1. Khung phân tích đề xuất về diễn ngôn tính nữ trên truyền hình

Nhóm nội dung

Câu hỏi phân tích

Chỉ báo gợi ý

Liên hệ với bình đẳng giới

1. Sự hiện diện và vai trò phát ngôn

Phụ nữ xuất hiện với tư cách nào và được tham gia giải thích vấn đề đến đâu?

Nhân vật chính/phụ; chuyên gia; người có thẩm quyền; thời lượng phát ngôn; khả năng tự kể; vai trò ra quyết định.

Không phân biệt đối xử; cơ hội tham gia bình đẳng trong không gian thông tin.

2. Vai trò xã hội và khả năng hành động

Phụ nữ được gắn với những vai trò và khả năng quyết định nào?

Nghề nghiệp; lãnh đạo; gia đình; chăm sóc; người hành động/người chịu tác động; cách quy trách nhiệm.

Bình đẳng thực chất; quyền tự chủ, lựa chọn và tham gia xã hội.

3. Các chuẩn mực dành cho phụ nữ

Ngoại hình, tuổi tác, gia đình và cảm xúc được dùng để đánh giá phụ nữ như thế nào?

Ngoại hình; tuổi; hôn nhân; làm mẹ; cảm xúc; hy sinh; yêu cầu “cân bằng”; tự hoàn thiện.

Phẩm giá và tự chủ; nhận diện những áp lực văn hóa có thể hạn chế cơ hội và lựa chọn.

4. Cách thể hiện bằng hình ảnh, âm thanh và phiên bản số

Lời nói, hình ảnh, âm thanh và kỹ thuật biên tập cùng tạo ra cách nhìn về phụ nữ như thế nào?

Lời dẫn/bình; cỡ cảnh; góc máy; dựng; âm nhạc; đồ họa; tiêu đề; ảnh đại diện; đoạn cắt ngắn.

Hạn chế khuôn mẫu giới; xem xét tác động của cách thể hiện, không chỉ nội dung phát ngôn.

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ các nghiên cứu về truyền thông nhạy cảm giới, biểu đạt giới, trật tự giới, phân tích diễn ngôn phê phán nữ quyền, phân tích đa phương thức và văn hóa hậu nữ quyền.[1] Các thuật ngữ dùng trong bảng là chỉ báo phục vụ phân tích truyền thông, không phải tên gọi của các quyền pháp lý độc lập.

Nhóm thứ nhất xem xét sự hiện diện và vai trò phát ngôn của phụ nữ. Câu hỏi đặt ra là phụ nữ xuất hiện với tư cách nào: nhân vật chính, người trải nghiệm, chuyên gia hay người có thẩm quyền; họ được phát biểu trong bao lâu và có cơ hội tự giải thích vấn đề hay không (UNESCO, 2012; WACC, 2025). Việc có nhiều nhân vật nữ chưa bảo đảm sự cân bằng giới nếu phụ nữ chủ yếu được dùng làm nhân chứng hoặc người chịu tác động, còn vai trò chuyên gia và người giải thích vẫn phần lớn thuộc về nam giới.

Nhóm thứ hai xem xét vai trò xã hội và khả năng hành động của nhân vật nữ. Cần phân tích xem phụ nữ được thể hiện chủ yếu trong bối cảnh công việc, lãnh đạo và ra quyết định hay thường xuyên được đặt vào các vai trò gia đình và chăm sóc (Lazar, 2005, 2007). Một điểm đáng chú ý là sự khác biệt trong tiêu chuẩn đánh giá: phụ nữ có bị yêu cầu giải thích về gia đình hoặc việc cân bằng công việc – cuộc sống nhiều hơn nam giới ở vị trí tương đương hay không.

Nhóm thứ ba tập trung vào những chuẩn mực dành riêng cho phụ nữ, đặc biệt là ngoại hình, tuổi tác, hôn nhân, làm mẹ, cảm xúc và sự hy sinh (Gill, 2007). Một chương trình có thể đề cao sự độc lập trong nghề nghiệp nhưng vẫn ngầm đặt ra yêu cầu phụ nữ phải trẻ trung, hấp dẫn, mềm mỏng hoặc hoàn thành tốt trách nhiệm gia đình. Phân tích nhóm nội dung này giúp nhận diện những áp lực văn hóa có thể thu hẹp lựa chọn của phụ nữ dù không được nêu thành quy định trực tiếp.

Nhóm thứ tư xem xét cách lời nói, hình ảnh, âm thanh và kỹ thuật truyền hình phối hợp với nhau. Khi nội dung được đưa lên nền tảng số, cần xem xét thêm tiêu đề, ảnh đại diện và đoạn cắt ngắn (Kress and van Leeuwen, 2006). Nếu phiên bản số chuyển trọng tâm từ chuyên môn sang ngoại hình, cảm xúc hoặc đời tư, cách nhìn về nhân vật cũng có thể thay đổi. Do đó, phân tích nên đặt bản phát sóng và phiên bản số trong cùng một quá trình nghiên cứu.

Các phương diện trên có thể được kiểm định bằng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp. Mẫu nội dung nên được phân chia theo thể loại chương trình và nền tảng phân phối. Những chỉ báo như loại nguồn tin, nghề nghiệp, vai trò, thời lượng phát ngôn, quyền quyết định hoặc mức độ nhấn mạnh ngoại hình có thể được mã hóa để so sánh. Sau đó, một số trường hợp điển hình hoặc có sự khác biệt rõ rệt có thể được phân tích sâu bằng phân tích diễn ngôn phê phán nữ quyền và phân tích đa phương thức. Nếu điều kiện cho phép, phỏng vấn người sản xuất và nghiên cứu công chúng sẽ giúp đối chiếu cách nội dung được sản xuất với cách nội dung được tiếp nhận.

4. Một số hàm ý đối với hoạt động truyền hình

Từ các phương diện phân tích trên, các cơ quan truyền hình có thể đánh giá sự cân bằng giới không chỉ qua số lượng nhân vật nữ mà còn qua vai trò của họ trong câu chuyện. Việc theo dõi cơ cấu nguồn tin theo lĩnh vực hoặc mở rộng mạng lưới chuyên gia nữ có thể hỗ trợ biên tập viên khi lựa chọn nhân vật, nhưng không nên biến thành chỉ tiêu mang tính hình thức.

Trong khâu biên tập, một câu hỏi đơn giản có thể giúp nhận diện thiên lệch: chi tiết về gia đình, hôn nhân, con cái hoặc ngoại hình có thật sự cần thiết cho nội dung hay không, và liệu câu hỏi tương tự có được đặt ra với nhân vật nam ở vị trí tương đương hay không. Vấn đề không phải là loại bỏ hoàn toàn những thông tin này, mà là bảo đảm chúng có liên quan đến chủ đề và được sử dụng nhất quán giữa các giới.

Hoạt động bồi dưỡng về giới cho người làm truyền hình nên gắn với các tình huống tác nghiệp cụ thể. Bản tin, phóng sự, tọa đàm, chương trình thực tế hoặc phiên bản số có thể được dùng làm ví dụ để xem xét việc lựa chọn nguồn tin, viết lời dẫn, đặt câu hỏi, chọn khuôn hình, xây dựng tiêu đề và ảnh đại diện. Cách làm này giúp chuyển yêu cầu về nhạy cảm giới thành những thao tác có thể áp dụng trong quá trình sản xuất và biên tập.

Việc rà soát nội dung từ góc độ giới cũng không nên chỉ nhằm tìm “lỗi”. Một sản phẩm có thể mở rộng vai trò của phụ nữ ở mặt này nhưng vẫn lặp lại khuôn mẫu ở mặt khác. Vì vậy, đánh giá cần chỉ ra lựa chọn biên tập nào tạo ra vấn đề, tác động của lựa chọn đó đối với cách nhìn về phụ nữ, và có thể điều chỉnh như thế nào trong điều kiện sản xuất cụ thể.

Khi nội dung truyền hình được phân phối trên nhiều nền tảng, việc rà soát nên bao gồm cả khâu biên tập lại cho môi trường số. Tiêu đề, ảnh đại diện và đoạn cắt ngắn thường là phần công chúng nhìn thấy đầu tiên. Một chương trình tương đối cân bằng trên sóng vẫn có thể tạo ấn tượng khác nếu phiên bản số chỉ nhấn mạnh ngoại hình, cảm xúc hoặc đời tư của nhân vật nữ.

Kết luận

Tiếp cận từ góc độ quyền phụ nữ cho thấy nghiên cứu bình đẳng giới trên truyền hình không thể chỉ dừng lại ở số lượng nhân vật nữ. Điều cần xem xét là phụ nữ xuất hiện với tư cách nào, được nhìn nhận theo tiêu chuẩn nào và có cơ hội thể hiện năng lực, quan điểm, quyền quyết định ra sao. CEDAW, Cương lĩnh Hành động Bắc Kinh, Bộ chỉ báo của UNESCO và Kết luận năm 2026 của Ủy ban về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ đối với Việt Nam cung cấp cơ sở để đặt những câu hỏi này trong mối liên hệ với yêu cầu hạn chế định kiến giới và thúc đẩy bình đẳng thực chất.

Khái niệm “diễn ngôn về tính nữ” giúp mở rộng nghiên cứu từ việc mô tả hình ảnh phụ nữ sang xem xét cách truyền hình kiến tạo những quan niệm về phụ nữ. Quá trình đó diễn ra qua việc chọn nhân vật, phân bổ thời lượng và quyền phát ngôn, lựa chọn chi tiết đời tư hay chuyên môn, cũng như cách sử dụng hình ảnh, âm thanh và biên tập phiên bản số. Vì vậy, trong cùng một sản phẩm có thể đồng thời xuất hiện thông điệp về tự chủ, thành công và những kỳ vọng truyền thống về gia đình, chăm sóc hoặc ngoại hình.

Bốn nhóm nội dung được đề xuất trong bài viết mới dừng lại ở mức khung tham khảo và cần được kiểm định bằng dữ liệu thực nghiệm. Giá trị của khung nằm ở việc kết nối các yêu cầu về quyền phụ nữ với những dấu hiệu có thể quan sát trong sản phẩm truyền hình, đồng thời tính đến sự thay đổi của nội dung khi được đưa lên nền tảng số. Các nghiên cứu tiếp theo cần thử nghiệm khung trên nhiều thể loại chương trình khác nhau và, nếu có điều kiện, kết hợp phân tích nội dung với phỏng vấn người sản xuất và nghiên cứu công chúng.

 

[1]    Khung phân tích do tác giả tổng hợp từ các nguồn đã dẫn tại tài liệu tham khảo (CEDAW). (2026); UNESCO. (2012); Hall, S. (1997); Lazar, M. M. (2005, 2007); Kress, G., & van Leeuwen, T. (2006); Gill, R. (2007)

Tài liệu tham khảo

Butler, J. (1990). Gender trouble: Feminism and the subversion of identity. Routledge.

Chính phủ. (2021). Nghị quyết số 28/NQ-CP ngày 03/3/2021 ban hành Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021–2030.

Committee on the Elimination of Discrimination against Women. (2026). Concluding observations on the ninth periodic report of Viet Nam (CEDAW/C/VNM/CO/9). United Nations.

Connell, R. W. (1987). Gender and power: Society, the person and sexual politics. Stanford University Press.

Dang, T. K. P. (2026). Negotiating the ideal woman: Hybrid femininities and the functional persistence of gender norms in contemporary Vietnam. Societies, 16(8), Article 238. https://doi.org/10.3390/soc16080238

Gill, R. (2007). Postfeminist media culture: Elements of a sensibility. European Journal of Cultural Studies, 10(2), 147–166. https://doi.org/10.1177/1367549407075898

Hall, S. (1997). The work of representation. In S. Hall (Ed.), Representation: Cultural representations and signifying practices (pp. 13–74). Sage/Open University.

Hoang, L. H. T., & Do, A. D. (2026). Framing LGBTQ+ identities: Production and reception in a Vietnamese reality talk show. Culture, Health & Sexuality, 1–13. https://doi.org/10.1080/13691058.2026.2658844

Kress, G., & van Leeuwen, T. (2006). Reading images: The grammar of visual design (2nd ed.). Routledge.

Lazar, M. M. (2005). Politicizing gender in discourse: Feminist critical discourse analysis as political perspective and praxis. In M. M. Lazar (Ed.), Feminist critical discourse analysis: Gender, power and ideology in discourse (pp. 1–28). Palgrave Macmillan. https://doi.org/10.1057/9780230599901_1

Lazar, M. M. (2007). Feminist critical discourse analysis: Articulating a feminist discourse praxis. Critical Discourse Studies, 4(2), 141–164. https://doi.org/10.1080/17405900701464816

Nguyen, H. L. (2016). Vietnamese women’s representation in TV commercials related to Lunar New Year: A critical discourse analysis. VNU Journal of Foreign Studies, 32(2), 21–31. https://js.vnu.edu.vn/FS/article/view/1539

Quốc hội. (2006). Luật Bình đẳng giới số 73/2006/QH11 ngày 29/11/2006.

Schippers, M. (2007). Recovering the feminine other: Masculinity, femininity, and gender hegemony. Theory and Society, 36(1), 85–102. https://doi.org/10.1007/s11186-007-9022-4

Thủ tướng Chính phủ. (2007). Chỉ thị số 10/2007/CT-TTg ngày 03/5/2007 về việc triển khai thi hành Luật Bình đẳng giới.

UNESCO. (2012). Gender-sensitive indicators for media: Framework of indicators to gauge gender sensitivity in media operations and content. https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000217831

United Nations. (1979). Convention on the Elimination of All Forms of Discrimination against Women.

United Nations. (1995). Beijing Declaration and Platform for Action.

Vo, D.-T., Nguyen, L. T. V., Tran, T., & Nayak, R. (2024). To fight or not to fight for gender equality: The practices and challenges for gender presentation in Vietnamese advertising. Media Asia, 51(2), 211–231. https://doi.org/10.1080/01296612.2023.2262173

Vu, H. T., Lee, T.-T., Duong, H. T., & Barnett, B. (2018). Gendering leadership in Vietnamese media: A role congruity study on news content and journalists’ perception of female and male leaders. Journalism & Mass Communication Quarterly, 95(3), 565–587. https://doi.org/10.1177/1077699017714224

West, C., & Zimmerman, D. H. (1987). Doing gender. Gender & Society, 1(2), 125–151. https://doi.org/10.1177/0891243287001002002

World Association for Christian Communication. (2025). GMMP 2025 highlights of findings: Progress on a plateau. Global Media Monitoring Project. https://whomakesthenews.org/wp-content/uploads/2025/09/GMMP2025-Highlights-Of-Findings-Report.pdf