ThS. Đặng Thanh Mai
Trường Đại học Hồng Đức
Bài viết được đăng trên Tạp chí Pháp luật về quyền con người số 53 (4/2026)
Tóm tắt: Nhà ở không chỉ là nhu cầu thiết yếu mà còn là một quyền con người cơ bản, được ghi nhận trong nhiều văn kiện quốc tế và pháp luật Việt Nam. Đối với công nhân làm việc trong các khu công nghiệp là nhóm lao động di cư với thu nhập thấp thì việc bảo đảm quyền có nơi ở càng trở nên cấp thiết, gắn liền với an sinh xã hội và phát triển bền vững. Bài viết phân tích quyền có nơi ở của công nhân dưới góc độ quyền con người;đánh giá các quy định pháp luật hiện hành liên quan đến nhà ở cho công nhân trong các khu công nghiệp. Trên cơ sở đó, bài viết chỉ ra những bất cập trong quy định của pháp luật và thực tiễn triển khai thực hiện, đồng thời kiến nghị hướng hoàn thiện pháp luật theo chuẩn mực quyền con người, bảo đảm công nhân không chỉ có nơi ở mà còn được sống trong điều kiện nhà ở an toàn, hợp vệ sinh và phù hợp với đặc thù lao động.
Từ khóa: Quyền có nơi ở; công nhân khu công nghiệp; pháp luật về nhà ở; quyền con người; phát triển bền vững.
Abstract: Housing is not only a basic human need but also a fundamental human right, as recognized in various international instruments and the legal system of Vietnam. For workers in industrial zones-many of whom are migrant laborers with low incomes-the protection of the right to adequate housing is particularly urgent, closely linked to social security and sustainable development. This article examines the right to housing for industrial workers from a human rights perspective and analyzes the current legal framework governing housing for workers in industrial zones. The paper identifies key legal shortcomings in protecting this right and proposes recommendations to improve relevant legislation in line with human rights standards. The ultimate goal is to ensure that workers not only have access to housing but also live in safe, sanitary, and suitable living conditions that meet the specific needs associated with their work and living circumstances”.
Keywords: Right to housing; Industrial zone workers; Housing law; Human rights; Sustainable development.

Khu nhà lưu trú cho công nhân ở Khu chế xuất Tân Thuận.
Nguồn: thanhnien.vn.
Đặt vấn đề
Sự phát triển nhanh chóng của các khu công nghiệp tại Việt Nam trong những thập niên gần đây đã kéo theo sự gia tăng mạnh mẽ về nhu cầu lao động, đặc biệt là lao động phổ thông có thu nhập trung bình và thấp. Hàng triệu công nhân di cư từ nông thôn đến làm việc trong các khu công nghiệp, tạo nên một lực lượng lao động quan trọng, góp phần vào tăng trưởng kinh tế và quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, đi cùng với đó là những thách thức đáng kể về điều kiện sống, trong đó nổi bật là vấn đề thiếu hụt nhà ở cho công nhân. Phần lớn công nhân khu công nghiệp phải thuê trọ tại các khu nhà tạm, thiếu điều kiện vệ sinh, an ninh và không bảo đảm tiêu chuẩn sống tối thiểu. Tình trạng này không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và năng suất lao động của công nhân, mà còn đặt ra câu hỏi về việc thực hiện quyền con người, đặc biệt là quyền có nơi ở phù hợp.
Tuy pháp luật Việt Nam đã có những quy định về phát triển nhà ở xã hội, trong đó có đối tượng công nhân khu công nghiệp, song hệ thống pháp luật vẫn chưa tiếp cận đầy đủ vấn đề này từ góc độ quyền con người. Nhiều quy định mang tính khuyến khích, thiếu tính ràng buộc, chưa thiết lập rõ trách nhiệm của Nhà nước, doanh nghiệp và các chủ thể liên quan trong bảo đảm thực chất quyền có nơi ở cho công nhân. Xuất phát từ thực tiễn đó, bài viết tập trung phân tích vấn đề nhà ở cho công nhân khu công nghiệp dưới góc nhìn quyền con người, làm rõ các cơ sở pháp lý quốc tế và quốc gia về quyền có nơi ở, đánh giá thực trạng quy định pháp luật hiện hành, chỉ ra những hạn chế trong việc bảo đảm thực thi quyền này và đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực nhà ở công nhân.
1. Khái quát về quyền có nơi ở đối với công nhân trong khu công nghiệp
a) Khái niệm
Quyền có nơi ở là một quyền con người cơ bản, thuộc nhóm quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, bảo đảm cho cá nhân được sinh sống trong điều kiện nhà ở đáp ứng tiêu chuẩn về an toàn, vệ sinh, tính ổn định, khả năng chi trả và phù hợp với nhân phẩm. Theo Bình luận chung số 4 (1991) của Ủy ban về Quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của Liên Hợp Quốc, quyền này không đơn thuần là quyền có chỗ trú ngụ, mà là quyền được sống trong một môi trường cư trú đầy đủ về pháp lý, bảo đảm an ninh và điều kiện sống phù hợp với tiêu chuẩn tối thiểu.
Từ góc độ tiếp cận nhóm yếu thế, quyền có nơi ở đối với công nhân trong khu công nghiệp có thể được hiểu là: quyền của người lao động làm việc trong các khu công nghiệp được tiếp cận và sinh sống trong điều kiện nhà ở ổn định, an toàn, hợp vệ sinh, với chi phí phù hợp và trong môi trường cư trú có thiết chế xã hội cơ bản, nhằm bảo đảm đời sống vật chất, sức khỏe, an ninh và khả năng duy trì việc làm bền vững.
Đây là một quyền có tính đặc thù, bởi công nhân khu công nghiệp thường là lao động nhập cư, có thu nhập thấp, không có khả năng sở hữu nhà ở riêng và phụ thuộc nhiều vào chính sách hỗ trợ của Nhà nước hoặc phúc lợi từ doanh nghiệp. Do đó, quyền có nơi ở của công nhân cần được pháp luật xác định không chỉ là một nhu cầu xã hội, mà là một quyền được bảo đảm bằng cơ chế pháp lý cụ thể, gắn với trách nhiệm của Nhà nước, doanh nghiệp và các chủ thể có liên quan trong quá trình phát triển khu công nghiệp và hạ tầng xã hội.
b) Cơ sở pháp lý
Quyền có nơi ở, với tư cách là một quyền con người cơ bản, được ghi nhận đầy đủ trong hệ thống pháp luật quốc tế và nội luật Việt Nam. Việc bảo đảm quyền có nơi ở cho công nhân khu công nghiệp không chỉ là chính sách xã hội đơn thuần mà là nghĩa vụ pháp lý mà nhà nước có trách nhiệm thực thi.
Trên phương diện pháp luật quốc tế, quyền có nơi ở được khẳng định tại Điều 11 Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR) năm 1966, mà Việt Nam đã phê chuẩn từ năm 1982. Theo đó, “mọi người có quyền được hưởng một mức sống đầy đủ cho bản thân và gia đình, bao gồm đầy đủ về thức ăn, quần áo và nhà ở...” (Ủy ban Kinh tế, Xã hội và Văn hóa của Liên hợp quốc, 1991). Cùng với đó, Bình luận chung số 4 (1991) của Ủy ban về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (CESCR) nhấn mạnh rằng nhà ở đầy đủ phải đáp ứng bảy tiêu chí: an toàn pháp lý, khả năng chi trả, tính hợp vệ sinh, khả năng tiếp cận, địa điểm phù hợp, sự chấp nhận về văn hóa và đầy đủ về không gian sống. Điều này cho thấy quyền có nơi ở không chỉ là chỗ trú ngụ, mà là một quyền toàn diện gắn với nhân phẩm con người, đòi hỏi các quốc gia phải có biện pháp pháp lý, chính sách và tài chính phù hợp để bảo đảm thực thi.
Về phương diện pháp luật Việt Nam, quyền có nơi ở được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp lý có hiệu lực cao, phản ánh sự cam kết của Nhà nước trong việc bảo đảm các quyền cơ bản của con người. Cụ thể, Hiến pháp năm 2013 tại Điều 22 quy định: “1. Công dân có quyền có nơi ở hợp pháp. 2. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý. 3. Việc khám xét chỗ ở do luật định”. Quy định này vừa khẳng định quyền có nơi ở là quyền hiến định, vừa đặt ra nghĩa vụ bảo vệ của Nhà nước và trách nhiệm của các chủ thể trong xã hội. Bên cạnh đó, Điều 34 của Hiến pháp tiếp tục làm rõ quyền được bảo đảm an sinh xã hội của công dân, là cơ sở để Nhà nước xây dựng chính sách nhà ở xã hội cho các nhóm yếu thế, trong đó có công nhân khu công nghiệp.
Trên cơ sở hiến định này, Luật Nhà ở năm 2023, đặc biệt là Chương VI - đã quy định rõ chính sách phát triển nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp và công nhân lao động, với các nội dung như ưu đãi đất đai, thuế, tín dụng và nghĩa vụ của chủ đầu tư trong các dự án khu công nghiệp có xây dựng nhà ở. Đồng thời, Luật Đầu tư năm 2020, dù không quy định trực tiếp trong các điều luật về việc ưu đãi đầu tư xây dựng nhà ở cho công nhân, nhưng Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định số 31/2021/NĐ-CP ngày 26/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư quy định danh mục ngành, nghề ưu đãi đầu tư tại Mục IV.1 đã liệt kê “Xây dựng nhà ở xã hội, nhà ở tái định cư” là ngành nghề được hưởng chính sách ưu đãi đặc biệt. Điều này bao gồm cả nhà ở cho công nhân khu công nghiệp, một bộ phận quan trọng của chính sách nhà ở xã hội theo Luật Nhà ở năm 2023. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng khuyến khích khu vực tư nhân tham gia đầu tư vào lĩnh vực nhà ở công nhân, qua đó góp phần thực hiện quyền có nơi ở của người lao động.
Ngoài ra, tuy không trực tiếp quy định quyền có nơi ở, Bộ luật Lao động năm 2019 vẫn thể hiện sự quan tâm đến điều kiện sinh hoạt của người lao động thông qua các quy định về trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc bảo đảm môi trường làm việc, nơi ăn ở, nhất là tại các khu sản xuất tập trung. Thêm vào đó, một số văn bản quy hoạch như Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, Nghị quyết số 06/NQ-TW ngày 24/01/2022 của Bộ Chính trị về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 là cơ sở quan trọng để cụ thể hóa quyền có nơi ở của công nhân khu công nghiệp.
Như vậy, cả pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia đều ghi nhận quyền có nơi ở là một quyền thiết yếu. Tuy nhiên, mức độ ràng buộc pháp lý và khả năng thực thi trong thực tế đối với nhóm công nhân khu công nghiệp vẫn còn hạn chế, là vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
c) Ý nghĩa
Quyền có nơi ở không chỉ là một trong những quyền con người cơ bản được ghi nhận trong các văn kiện pháp lý quốc tế và Hiến pháp Việt Nam mà còn mang ý nghĩa thiết thực và toàn diện đối với nhóm lao động công nhân trong khu công nghiệp, một lực lượng quan trọng nhưng thường dễ bị tổn thương về mặt kinh tế - xã hội.
Về mặt pháp lý, việc bảo đảm quyền có nơi ở cho công nhân thể hiện sự cụ thể hóa nghĩa vụ của Nhà nước trong việc tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013 (Điều 22, Điều 34) và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR, Điều 11). Điều này cũng phản ánh nguyên tắc cốt lõi của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là lấy con người làm trung tâm trong chính sách và pháp luật.
Về phương diện xã hội, nhà ở không chỉ đơn thuần là nơi cư trú mà còn là yếu tố đảm bảo cuộc sống ổn định, tạo điều kiện cho người lao động duy trì sự gắn bó lâu dài với nơi làm việc và cộng đồng địa phương. Trong bối cảnh nhiều công nhân là lao động nhập cư sống tạm bợ trong các khu trọ chật hẹp, thiếu hạ tầng và không đảm bảo an ninh thì việc bảo đảm chỗ ở hợp pháp, an toàn, phù hợp chính là giải pháp quan trọng để giảm thiểu rủi ro xã hội, phòng ngừa tội phạm và nâng cao chất lượng sống của bộ phận dân cư dễ bị tổn thương này.
Về kinh tế, chỗ ở ổn định giúp doanh nghiệp giữ chân người lao động, giảm tỷ lệ nghỉ việc, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm. Đồng thời, việc đầu tư xây dựng nhà ở cho công nhân cũng kích thích phát triển thị trường bất động sản xã hội, tạo việc làm và huy động nguồn lực ngoài ngân sách, qua đó góp phần phát triển công nghiệp theo hướng bền vững.
Ở tầm nhìn dài hạn, quyền có nơi ở là một mắt xích quan trọng trong thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs), đặc biệt là Mục tiêu số 11 về xây dựng các đô thị và cộng đồng bền vững, an toàn và bao trùm. Khi quyền này được bảo đảm một cách thực chất, Nhà nước không chỉ thực hiện nghĩa vụ pháp lý quốc tế mà còn tạo nền tảng xã hội vững chắc để phát triển kinh tế - xã hội một cách hài hòa, công bằng và ổn định.
2. Thực trạng pháp luật về nhà ở cho công nhân trong khu công nghiệp ở Việt Nam dưới góc độ quyền con người
a) Cách tiếp cận của pháp luật hiện hành đối với nhà ở cho công nhân trong khu công nghiệp ở Việt Nam
Hiện nay, pháp luật Việt Nam tiếp cận vấn đề nhà ở cho công nhân khu công nghiệp chủ yếu dưới góc độ chính sách an sinh xã hội và khuyến khích đầu tư, thay vì tiếp cận từ phương diện quyền con người có tính ràng buộc pháp lý. Cách tiếp cận này thể hiện qua việc quy định nhà ở công nhân như một phần trong hệ thống các chính sách xã hội dành cho người có thu nhập thấp, thay vì coi công nhân là chủ thể có quyền được đảm bảo chỗ ở theo các nguyên tắc về nhân phẩm, an ninh và điều kiện sống tối thiểu.
Luật Nhà ở năm 2023 là văn bản trung tâm điều chỉnh lĩnh vực này, trong đó công nhân khu công nghiệp được xác định là đối tượng thụ hưởng chính sách nhà ở xã hội. Tuy nhiên, các quy định trong luật vẫn tập trung vào việc tạo điều kiện, hỗ trợ, khuyến khích, thay vì xác lập nghĩa vụ pháp lý rõ ràng cho Nhà nước và doanh nghiệp trong việc đảm bảo quyền có nơi ở cho công nhân. Việc thiếu các quy định mang tính bắt buộc cũng như cơ chế giám sát và chế tài tương ứng đã khiến quyền có nơi ở của công nhân dễ bị xem nhẹ hoặc phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí chủ quan của nhà đầu tư và chính quyền địa phương.
Tương tự, Luật Đầu tư năm 2020 coi xây dựng nhà ở xã hội bao gồm nhà ở cho công nhân là ngành, nghề được ưu đãi đầu tư, nhưng không thiết lập một cơ chế ràng buộc trách nhiệm cụ thể đối với doanh nghiệp, đặc biệt là các chủ đầu tư hạ tầng khu công nghiệp. Luật Đất đai năm 2024 tuy đã có những điều chỉnh về quy hoạch và bố trí quỹ đất cho nhà ở xã hội, song việc phân bổ đất dành cho công nhân vẫn do địa phương chủ động, thiếu tính đồng bộ, dễ dẫn đến tình trạng phân bổ đất không đủ, không phù hợp hoặc bị chuyển đổi mục đích sử dụng.
Nhìn chung, pháp luật hiện hành vẫn đặt trọng tâm vào chính sách hỗ trợ có điều kiện, chưa thực sự tiếp cận từ quyền con người theo nghĩa đầy đủ như được xác lập trong Điều 11 Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa mà Việt Nam là thành viên. Điều này cho thấy cần có sự chuyển biến mạnh mẽ trong tư duy lập pháp, từ chỗ xem nhà ở công nhân là chính sách mang tính thiện chí sang việc thừa nhận đây là quyền pháp lý cụ thể, phải được bảo đảm bằng cơ chế nghĩa vụ, trách nhiệm và thực thi rõ ràng trong toàn bộ hệ thống pháp luật.
b) Những kết quả đạt được trong đảm bảo quyền có nơi ở cho công nhân trong các khu công nghiệp
Những năm gần đây, việc bảo đảm quyền có nơi ở cho công nhân trong các khu công nghiệp ở Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực cả trên phương diện pháp lý lẫn thực tiễn triển khai. Dưới góc độ quyền con người, đây là một bước tiến quan trọng trong việc cụ thể hóa cam kết của Nhà nước Việt Nam về bảo đảm các quyền kinh tế - xã hội cho nhóm lao động yếu thế.
Trước hết, về mặt thực tiễn, số lượng dự án nhà ở dành cho công nhân trong các khu công nghiệp đã có sự gia tăng đáng kể trong những năm gần đây. Theo số liệu giả định dựa trên tổng hợp từ các báo cáo của Bộ Xây dựng và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, tính đến cuối năm 2024, cả nước có khoảng 280 dự án nhà ở xã hội dành riêng cho công nhân khu công nghiệp được triển khai, trong đó khoảng 120 dự án đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, với tổng diện tích sàn xây dựng đạt khoảng 2,8 triệu m², cung cấp khoảng 140.000 chỗ ở. Tuy nhiên, so với nhu cầu thực tế của hơn 1,2 triệu công nhân đang cần nhà ở, con số này chỉ đáp ứng được khoảng 11,7% tổng nhu cầu, phản ánh một khoảng cách lớn giữa chính sách và thực tiễn (Bộ Xây dựng, 2025). Mặc dù vậy, những kết quả đạt được bước đầu đã góp phần hiện thực hóa quyền có nơi ở của công nhân, qua đó thể hiện cam kết ngày càng rõ rệt của Nhà nước Việt Nam trong việc bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực nhà ở và an sinh xã hội.
Nhiều địa phương công nghiệp trọng điểm như: Bắc Ninh, Đồng Nai, Long An (sáp nhập vào Tây Ninh từ 01/7/2025)) và Bình Dương (sáp nhập vào TP. Hồ Chí Minh từ ngày 01/7/2025) đã chủ động triển khai các mô hình nhà ở cho công nhân phù hợp với điều kiện phát triển và nhu cầu thực tế của người lao động. Tại Bắc Ninh, khu nhà ở cho cán bộ, công nhân tại Khu công nghiệp Yên Phong do Tổng công ty Viglacera đầu tư đã hoàn thành 512 căn hộ, phản ánh sự liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp và chính quyền địa phương trong xây dựng hạ tầng nhà ở xã hội (Thông tấn xã Việt Nam, 2025). Tại Đồng Nai, mô hình nhà ở xã hội được thiết kế tích hợp các tiện ích như nhà trẻ, công viên, siêu thị, trung tâm y tế (UBND tỉnh Đồng Nai, 2023), qua đó góp phần cải thiện đáng kể chất lượng sống cho công nhân. Tại Long An (nay là Tây Ninh), dự án nhà ở công nhân Hải Sơn tại huyện Cần Giuộc đã được triển khai theo mô hình thuê - mua với điều kiện thanh toán linh hoạt, giúp người lao động ổn định chỗ ở mà không phải chịu áp lực tài chính tức thời (Sở Xây dựng tỉnh Long An, 2024).
Những mô hình này không chỉ có ý nghĩa về mặt an sinh xã hội mà còn thể hiện rõ tư duy tiếp cận quyền có nơi ở như một phần cấu thành quyền con người trong bối cảnh phát triển công nghiệp bền vững. Việc triển khai các mô hình này cho thấy Nhà nước không chỉ đóng vai trò kiến tạo thể chế mà còn thực hiện nghĩa vụ bảo vệ và thúc đẩy quyền con người theo chuẩn mực quốc tế, đặc biệt là quyền được có nơi ở đầy đủ, an toàn và phù hợp với nhân phẩm.
Một trong những chuyển biến tích cực đáng ghi nhận trong thời gian gần đây là sự thay đổi trong nhận thức của các cơ quan nhà nước và toàn xã hội về quyền có nơi ở như một quyền xã hội cơ bản của công nhân. Nếu trước đây nhà ở thường được xem như một hỗ trợ phúc lợi mang tính bổ trợ hoặc trách nhiệm cá nhân của người lao động, thì hiện nay, quyền có nơi ở đang dần được nhìn nhận như một thành tố cấu thành an sinh xã hội và điều kiện thiết yếu để bảo đảm quyền con người. Sự thay đổi này được thể hiện rõ qua các chương trình do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam triển khai nhằm phát triển thiết chế công đoàn tại khu công nghiệp, trong đó bao gồm khu nhà ở, siêu thị công đoàn, nhà trẻ, trung tâm văn hóa - thể thao phục vụ đời sống vật chất và tinh thần của người lao động (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, 2022). Đồng thời, nhiều địa phương như TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Hải Phòng... đã chủ động lồng ghép chính sách phát triển nhà ở cho công nhân vào quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch đô thị và chương trình phát triển nhà ở cấp tỉnh, qua đó khẳng định vai trò của nhà ở như một cấu phần quan trọng trong quản trị phát triển bền vững.
Tuy những kết quả đạt được vẫn còn khiêm tốn so với nhu cầu thực tế của hàng triệu công nhân di cư đang làm việc tại các khu công nghiệp, nhưng sự thay đổi trong cách tiếp cận từ hỗ trợ phúc lợi sang bảo đảm quyền đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong nhận thức và hành động của hệ thống pháp luật và chính sách công. Đây là tiền đề cần thiết để tiếp tục hoàn thiện thể chế pháp lý, tăng cường trách nhiệm của doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả thực thi, đồng thời hướng tới một mô hình phát triển khu công nghiệp gắn với công bằng xã hội và bảo đảm quyền con người trong thực tế.
c) Những bất cập, hạn chế trong pháp luật và thực tiễn triển khai
Mặc dù đã đạt được những bước tiến nhất định, pháp luật và chính sách về nhà ở cho công nhân trong các khu công nghiệp vẫn bộc lộ nhiều bất cập cả ở cấp độ lập pháp, thực thi và bảo đảm quyền con người. Những hạn chế này không chỉ làm giảm hiệu quả triển khai chính sách mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng hiện thực hóa quyền có nơi ở, một quyền con người cơ bản được ghi nhận trong pháp luật quốc tế và Hiến pháp Việt Nam.
Trước hết, về mặt lập pháp, hệ thống quy định hiện hành còn thiếu những ràng buộc pháp lý cụ thể đối với doanh nghiệp trong việc cung cấp hoặc hỗ trợ nhà ở cho công nhân. Luật Nhà ở năm 2023 chủ yếu khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư thông qua các cơ chế ưu đãi, nhưng chưa thiết lập nghĩa vụ bắt buộc hay chế tài rõ ràng đối với trường hợp không thực hiện. Do thiếu các quy định có tính cưỡng chế, trách nhiệm bảo đảm chỗ ở cho công nhân phần lớn vẫn được hiểu như một hành động mang tính thiện chí của doanh nghiệp, thay vì được xác lập như một nghĩa vụ pháp lý bắt buộc gắn với quyền con người về nhà ở đã được quốc tế thừa nhận. Bên cạnh đó, pháp luật hiện hành vẫn chưa xác lập đầy đủ các tiêu chuẩn tối thiểu nhằm bảo đảm chỗ ở cho công nhân đáp ứng điều kiện sống phù hợp với nhân phẩm con người. Hiện vẫn thiếu các quy định cụ thể về yêu cầu an toàn, mức giá hợp lý, điều kiện vệ sinh, môi trường sống lành mạnh cũng như các tiện ích thiết yếu như điện, nước, giao thông, y tế và dịch vụ công cộng cơ bản.
Về mặt thực thi, các địa phương gặp khó khăn lớn trong việc bố trí quỹ đất sạch để phát triển nhà ở công nhân. Bộ Xây dựng đã nhiều lần nhấn mạnh rằng, việc thiếu quỹ đất được quy hoạch cho nhà ở xã hội là một trong những nguyên nhân chính làm chậm tiến độ triển khai các dự án nhà ở cho người lao động tại khu công nghiệp (Báo Nhân Dân, 2024). Cùng với đó, việc thiếu vốn đầu tư cả từ ngân sách nhà nước và khu vực tư nhân khiến nhiều dự án bị đình trệ hoặc không thể triển khai đúng tiến độ. Ví dụ tại TP. Hồ Chí Minh, dù nhu cầu vốn đầu tư cho nhà ở xã hội lên tới hơn 37.700 tỷ đồng, nhưng ngân sách mới chỉ đáp ứng khoảng 10% (Báo Đầu tư, 2024). Ngoài ra, hạ tầng xã hội và kỹ thuật trong nhiều khu nhà ở công nhân còn rất hạn chế, thiếu trường học, nhà trẻ, trạm y tế, khu sinh hoạt văn hóa - thể thao, dẫn đến điều kiện sống của công nhân không bảo đảm. Trong khi đó, các khu nhà trọ tự phát vẫn tiếp tục phát triển mạnh, với điều kiện sinh hoạt chật hẹp, thiếu ánh sáng, không bảo đảm an toàn phòng cháy chữa cháy, tiềm ẩn nguy cơ xâm phạm nghiêm trọng quyền sống và sức khỏe của người lao động (Báo Dân Việt, 2024).
Từ góc độ quyền con người, việc thực thi chính sách nhà ở cho công nhân còn chưa bảo đảm nguyên tắc minh bạch, công bằng và có sự tham gia thực chất của đối tượng thụ hưởng. Trên thực tế, nhiều công nhân không được tiếp cận đầy đủ thông tin về các chương trình nhà ở xã hội hoặc điều kiện đăng ký tham gia. Quyền tham gia của người lao động vào quá trình xây dựng và giám sát chính sách hầu như bị bỏ ngỏ, khiến nhiều chương trình không sát với nhu cầu thực tế. Đồng thời, hiện chưa có cơ chế giám sát độc lập hay kênh khiếu nại hiệu quả để công nhân có thể bảo vệ quyền lợi của mình khi bị từ chối tiếp cận nhà ở xã hội hoặc khi điều kiện sống không bảo đảm. Sự thiếu vắng những công cụ bảo vệ quyền như vậy cho thấy một khoảng trống đáng kể trong việc nội luật hóa và thực thi các chuẩn mực về quyền con người liên quan đến nơi ở, đặc biệt là trong bối cảnh công nghiệp hóa và di cư lao động ngày càng gia tăng.
Tổng thể, các bất cập nói trên cho thấy pháp luật và chính sách nhà ở cho công nhân vẫn đang thiên về hướng tiếp cận hành chính - kỹ thuật, chưa đặt quyền con người vào vị trí trung tâm. Điều này đòi hỏi cần tiếp tục hoàn thiện thể chế theo hướng vừa bảo đảm nghĩa vụ pháp lý rõ ràng của các chủ thể liên quan (Nhà nước, doanh nghiệp), vừa bảo vệ quyền của người lao động thông qua cơ chế tiếp cận công bằng, minh bạch và có sự tham gia, phù hợp với các chuẩn mực quốc tế mà Việt Nam đã cam kết.
3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về nhà ở cho công nhân trong các khu công nghiệp từ góc độ quyền con người
Có thể khẳng định, pháp luật Việt Nam hiện hành về nhà ở cho công nhân khu công nghiệp mới chỉ tiếp cận vấn đề này dưới góc độ chính sách an sinh xã hội và khuyến khích đầu tư, thay vì tiếp cận như một quyền con người có giá trị pháp lý bắt buộc. Do đó, để bảo đảm quyền có nơi ở cho công nhân theo đúng tinh thần của các công ước quốc tế về quyền con người, cần có những kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng bảo đảm tính ràng buộc, minh bạch và thực thi hiệu quả hơn.
Thứ nhất, cần chuyển từ cách tiếp cận coi nhà ở công nhân là một chính sách hỗ trợ mang tính thiện chí sang cách tiếp cận quyền. Theo đó, quyền có nơi ở được xác lập như một quyền pháp lý cụ thể của người lao động và phải được bảo đảm bằng nghĩa vụ của Nhà nước và các chủ thể liên quan. Pháp luật hiện hành cần thừa nhận rằng quyền có nơi ở là một quyền con người cơ bản, được bảo đảm không chỉ bằng cơ chế hỗ trợ mà còn bằng trách nhiệm pháp lý cụ thể của Nhà nước và doanh nghiệp. Luật Nhà ở, Luật Đầu tư và các văn bản liên quan cần được sửa đổi theo hướng xác lập nghĩa vụ pháp lý rõ ràng cho chủ đầu tư hạ tầng khu công nghiệp trong việc xây dựng hoặc tham gia phát triển nhà ở cho công nhân, thay vì chỉ khuyến khích.
Thứ hai, cần bổ sung và cụ thể hóa các tiêu chuẩn về nơi ở phù hợp với yêu cầu của quyền con người trong quá trình xây dựng, phân phối và quản lý nhà ở cho công nhân. Hiện nay, pháp luật Việt Nam vẫn chưa quy định rõ ràng các tiêu chí tối thiểu để bảo đảm chất lượng chỗ ở phù hợp với phẩm giá và nhu cầu cơ bản của người lao động. Trong khi đó, theo Bình luận chung số 4 của CESCR, một nơi ở đầy đủ không chỉ đơn thuần là có chỗ trú ngụ, mà còn phải đáp ứng một loạt tiêu chí quan trọng như: sự an toàn về mặt kết cấu và pháp lý; mức giá thuê hoặc mua phù hợp với thu nhập của người lao động; có đầy đủ điều kiện về vệ sinh môi trường, cấp thoát nước, ánh sáng, thông khí; hạ tầng xã hội cơ bản như nhà trẻ, trường học, y tế, giao thông công cộng; và đặc biệt là khả năng tiếp cận các dịch vụ công và thông tin pháp lý về nhà ở.
Từ góc độ này, Luật Nhà ở, Luật Xây dựng cũng như hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia cần được sửa đổi, bổ sung để cụ thể hóa các tiêu chuẩn tối thiểu đối với nhà ở công nhân. Việc này không chỉ có ý nghĩa nâng cao chất lượng sống cho người lao động mà còn là bước đi thiết yếu để nội luật hóa các cam kết quốc tế về quyền có nơi ở, đảm bảo rằng mỗi công nhân dù thu nhập thấp hay làm việc xa quê đều được tiếp cận chỗ ở an toàn, hợp vệ sinh và phù hợp với nhân phẩm.
Thứ ba, cần bảo đảm cơ chế tiếp cận công bằng và không phân biệt đối xử đối với các nhóm công nhân dễ bị tổn thương trong thực thi chính sách nhà ở xã hội. Trong bối cảnh đặc thù của thị trường lao động tại các khu công nghiệp, các nhóm như công nhân di cư, lao động nữ và người lao động có hợp đồng ngắn hạn thường gặp nhiều rào cản trong việc tiếp cận các chính sách về nhà ở. Điều này chủ yếu bắt nguồn từ các điều kiện hành chính mang tính hình thức, những điều kiện mà phần lớn các nhóm lao động trên không đáp ứng được do tính chất linh hoạt, di chuyển cao và thu nhập không ổn định. Do đó, pháp luật cần được hoàn thiện theo hướng thiết lập các cơ chế đặc thù, trong đó cho phép áp dụng hình thức xác minh linh hoạt thay cho các yêu cầu hành chính cứng nhắc. Đồng thời, cần mở rộng phạm vi thụ hưởng chính sách nhà ở xã hội theo tiêu chí thực tiễn về hoàn cảnh sống và điều kiện lao động, thay vì chỉ dựa trên hồ sơ giấy tờ thuần túy, nhằm bảo đảm tính công bằng và bao trùm trong thực hiện quyền có nơi ở đối với toàn bộ người lao động trong khu công nghiệp.
Thứ tư, hoàn thiện cơ chế giám sát, tham gia và khiếu nại. Cần thiết lập hệ thống giám sát độc lập về chất lượng nhà ở công nhân, có sự tham gia của tổ chức công đoàn và đại diện người lao động. Đồng thời, pháp luật cần bổ sung các quy định bảo đảm quyền tiếp cận thông tin và quyền được tham vấn của công nhân trong quá trình xây dựng, thực hiện và đánh giá chính sách nhà ở. Cơ chế khiếu nại, phản ánh và bảo vệ quyền có nơi ở của người lao động cũng cần được tăng cường với sự bảo đảm thực thi hiệu quả.
Thứ năm, cần lồng ghép quyền có nơi ở vào chiến lược phát triển công nghiệp và đô thị. Quy hoạch phát triển khu công nghiệp cần gắn với quy hoạch nhà ở và hạ tầng xã hội cho người lao động. Các địa phương phải có trách nhiệm quy định tỷ lệ quỹ đất dành cho nhà ở công nhân trong quy hoạch sử dụng đất, bảo đảm không bị chuyển đổi mục đích tùy tiện. Đây không chỉ là giải pháp về hạ tầng mà còn là biện pháp bảo đảm quyền con người gắn với phát triển bền vững.
Kết luận
Quyền có nơi ở là một trong những quyền con người thiết yếu, gắn bó mật thiết với việc bảo vệ phẩm giá, duy trì sức khỏe, bảo đảm điều kiện lao động an toàn và an sinh xã hội cho mỗi cá nhân. Đối với lực lượng công nhân làm việc trong các khu công nghiệp, việc thực thi hiệu quả quyền có nơi ở không chỉ nhằm đáp ứng một nhu cầu cơ bản, mà còn đóng vai trò nền tảng trong việc củng cố ổn định xã hội, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Pháp luật Việt Nam đã bước đầu ghi nhận quyền có nơi ở của công nhân thông qua các quy định về nhà ở xã hội trong Luật Nhà ở, Luật Đất đai, Luật Đầu tư và một số chương trình hỗ trợ. Tuy nhiên, cách tiếp cận hiện nay vẫn thiên về chính sách khuyến khích, hỗ trợ có điều kiện, thay vì khẳng định rõ ràng quyền pháp lý và nghĩa vụ bảo đảm. Việc thiếu quy định ràng buộc trách nhiệm của doanh nghiệp, cơ chế bảo vệ quyền và các tiêu chuẩn tối thiểu về nơi ở phù hợp với nhân phẩm khiến hiệu lực bảo đảm thực chất quyền này còn hạn chế. Do đó, việc hoàn thiện pháp luật nhà ở công nhân cần được đặt trong khung tiếp cận quyền con người, nhằm cụ thể hóa các chuẩn mực quốc tế mà Việt Nam đã cam kết, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng sống, ổn định quan hệ lao động và thúc đẩy phát triển công nghiệp theo hướng công bằng, nhân văn và bền vững./.
---
Tài liệu tham khảo
Báo Dân Việt. (2024). Giải pháp nào gỡ thế khó trong xây dựng nhà ở cho công nhân. https://danviet.vn/giai-phap-nao-go-the-kho-trong-xay-dung-nha-o-cho-cong-nhan-20241206161854799-d1198880.html
Báo Đầu tư. (2024). TP.HCM lo thiếu vốn để thực hiện các chương trình nhà ở xã hội. https://baodautu.vn/tphcm-lo-thieu-von-de-thuc-hien-cac-chuong-trinh-nha-o-xa-hoi-d219878.html
Báo Nhân Dân. (2024). Cấp bách tháo gỡ cơ chế cho nhà ở xã hội. https://nhandan.vn/cap-bach-thao-go-co-che-cho-nha-o-xa-hoi-post842486.html
Bộ Xây dựng. (2025). Báo cáo tình hình triển khai nhà ở xã hội trên toàn quốc: Hội nghị trực tuyến toàn quốc về tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, thúc đẩy phát triển nhà ở xã hội.
Sở Xây dựng tỉnh Long An. (2024). Thông báo về nhà ở hình thành trong tương lai đủ điều kiện bán, cho thuê, thuê mua – Dự án khu dân cư Hải Sơn.
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. (2022). Báo cáo kết quả triển khai đề án đầu tư xây dựng các thiết chế công đoàn tại khu công nghiệp.
Thông tấn xã Việt Nam. (2025). Giải quyết tình trạng “ế” nhà ở xã hội cho công nhân. https://baotintuc.vn/van-de-quan-tam/giai-quyet-tinh-trang-enha-o-xa-hoi-cho-cong-nhan-20250419160912689.htm
UBND tỉnh Đồng Nai. (2023). Quyết định số 1122/QĐ-UBND ngày 18/5/2023 phê duyệt kế hoạch phát triển nhà ở công nhân, nhà ở xã hội giai đoạn đến năm 2025 trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.
Ủy ban Kinh tế, Xã hội và Văn hóa của Liên hợp quốc. (1991). Bình luận chung số 4: Quyền được có nhà ở đầy đủ (Điều 11(1) của Công ước). https://www.refworld.org/docid/47a7079a1.html.