TS. Trần Thị Hồng Lê

Viện Quyền con người, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Tóm tắt: Trong bối cảnh già hóa dân số và chuyển đổi số, khả năng học tập số ngày càng có ý nghĩa đối với tính tự chủ và sự tham gia xã hội của người cao tuổi. Bài viết làm rõ nội hàm, ý nghĩa của khả năng thích ứng với môi trường học tập số; phân tích những hạn chế từ tiếp cận, tiếp nhận đến duy trì, vận dụng và tự bảo vệ trước rủi ro. Các rào cản đối với người cao tuổi được xem xét trong sự tương tác giữa đặc điểm người học, thiết kế công nghệ, phương pháp giảng dạy và mạng lưới hỗ trợ. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất chính sách gắn với học tập suốt đời, nhấn mạnh yêu cầu hỗ trợ liên tục và đánh giá kết quả bằng khả năng vận dụng độc lập, an toàn trong đời sống của người cao tuổi.

Từ khóa: Người cao tuổi; khả năng thích ứng; môi trường học tập số; học tập suốt đời.

Abstract: In the context of population ageing and digital transformation, the ability to engage in digital learning is increasingly important to older adults’ autonomy and social participation. This article clarifies the concept and significance of adaptability to digital learning environments and analyses limitations in accessing and comprehending learning content, sustaining engagement, applying acquired knowledge, and protecting oneself against risks. These barriers are examined through the interaction between learner characteristics, technology design, teaching methods, and support networks. On this basis, the article proposes policy measures linked to lifelong learning, emphasising the need for continuous support and for evaluating outcomes according to older adults’ ability to apply what they have learned independently and safely in everyday life.

Keywords: Older adults; adaptability; digital learning environments; lifelong learning.

Các lớp học sử dụng Smartphone hay Internet tại Việt Nam như Công Dân Số Bạc luôn thu hút đông người cao tuổi tham gia học tập chăm chỉ

Nguồn: daibieunhandan.vn

Đặt vấn đề

Chuyển đổi số đang tái cấu trúc mạnh mẽ đời sống xã hội, đặc biệt làm thay đổi sâu sắc cách thức học tập. Môi trường học tập số mở ra cơ hội tiếp cận tri thức linh hoạt, không giới hạn về không gian và thời gian nhưng cũng tạo ra bất bình đẳng mới khi không phải mọi nhóm dân cư đều có khả năng tham gia và hưởng lợi như nhau. Trong đó, người cao tuổi là nhóm đặc biệt dễ bị tổn thương do hạn chế về kỹ năng công nghệ, khả năng tiếp nhận thông tin và điều kiện tiếp cận nguồn lực hỗ trợ. Thực tế cho thấy, khó khăn của người cao tuổi không chỉ nằm ở thiếu thiết bị hay kết nối internet mà còn ở khả năng thích ứng toàn diện với môi trường học tập số: tiếp cận nền tảng, hiểu nội dung, duy trì động lực, thích ứng với công nghệ, vận dụng kiến thức và tự bảo vệ trước rủi ro số.

Khi yêu cầu của môi trường học tập số ngày càng phức tạp, khoảng cách bị bỏ rơi của người cao tuổi càng có xu hướng gia tăng nếu thiếu can thiệp phù hợp. Vấn đề này đang trở nên cấp thiết với Việt Nam khi dần bước vào giai đoạn già hóa dân số nhanh. Theo Tổng cục Thống kê, Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2024 cho thấy cả nước có khoảng 14,2 triệu người từ 60 tuổi trở lên và dự báo tăng lên khoảng 18 triệu vào năm 2030 (Tổng cục Thống kê, 2025). Sự gia tăng này đặt ra yêu cầu bảo đảm khả năng tiếp cận và thích ứng với môi trường số của người cao tuổi, đặc biệt trong học tập suốt đời, nhằm tránh nguy cơ một bộ phận dân số lớn bị lề hóa khỏi quá trình phát triển. Trước yêu cầu cấp thiết đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm nhận diện rào cản, làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thích ứng với môi trường học tập số của người cao tuổi  để xuất giải pháp xây dựng môi trường học tập số bao trùm, thân thiện hơn.

1. Khả năng thích ứng với môi trường học tập số và ý nghĩa đối với người cao tuổi

a) Người cao tuổi và môi trường học tập số

Môi trường học tập số được UNESCO xác định là “việc sử dụng công nghệ và tài nguyên số để hỗ trợ dạy và học, cho phép học tương tác, linh hoạt qua khóa học trực tuyến, lớp học ảo và phần mềm giáo dục” (UNESCO, n.da). Theo đó, môi trường học tập số không đồng nhất với lớp học trực tuyến hay một nền tảng cung cấp khóa học. Từ cách hiểu của UNESCO có thể thấy học tập số mở rộng không gian và phương thức tiếp cận tri thức, vượt ra ngoài khuôn khổ lớp học truyền thống. Như vậy, môi trường học tập số được hiểu là tổng thể các điều kiện công nghệ, giáo dục và xã hội cho phép người học tiếp cận, trao đổi, thực hành và vận dụng tri thức thông qua công nghệ số. Môi trường này gồm: thiết bị, kết nối và hạ tầng; nền tảng, ứng dụng và tài nguyên số; nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức học tập; người hướng dẫn, người hỗ trợ và cộng đồng học tập; các quy tắc về khả năng tiếp cận, quyền riêng tư, an toàn dữ liệu và tương tác có trách nhiệm.

Theo Luật Người cao tuổi năm 2009 (Điều 2), người cao tuổi ở Việt Nam là công dân từ đủ 60 tuổi trở lên. Tuy nhiên, xét từ góc độ học tập số, đây không phải là nhóm đồng nhất. Khác biệt về sức khỏe, học vấn, kinh nghiệm công nghệ và hỗ trợ gia đình có thể tạo ra mức độ thích ứng khác nhau. Tổ chức Y tế thế giới - WHO đã nhấn mạnh rằng không có một “mẫu hình” người cao tuổi điển hình; năng lực ở tuổi già chịu ảnh hưởng của năng lực nội tại và môi trường sống (WHO, 2020). Vì vậy, môi trường học tập số cần tránh cách tiếp cận đồng loạt và định kiến rằng tuổi cao đồng nghĩa với suy giảm khả năng học tập.

Đối với người cao tuổi, học tập số không chỉ diễn ra trong giáo dục chính quy mà còn bao gồm việc học sử dụng dịch vụ công, tiếp cận thông tin sức khỏe, giao tiếp, thanh toán, nhận diện lừa đảo và khai thác tri thức hoặc cơ hội sinh kế. Vì vậy, chất lượng của môi trường học tập số còn phụ thuộc vào mức độ phù hợp với nhu cầu, năng lực và hoàn cảnh của người học (UNESCO, 2025).

Khả năng thích ứng với môi trường học tập số không đồng nhất với việc sở hữu thiết bị, truy cập internet hoặc thực hiện một số thao tác kỹ thuật. Theo khung năng lực số DigComp 2.2, năng lực số được hiểu là sự kết hợp giữa kiến thức, kỹ năng và thái độ nhằm sử dụng công nghệ một cách tự tin, có phê phán và an toàn. Trên cơ sở đó, trong tham luận này, khả năng thích ứng với môi trường học tập số được hiểu là năng lực điều chỉnh nhận thức, kỹ năng, thái độ và hành vi để tiếp cận, tham gia, duy trì và vận dụng việc học một cách độc lập, hiệu quả và an toàn trong bối cảnh công nghệ luôn biến đổi (Riina Vuorikari, et al., 2022).

Khả năng này có thể được phân tích thành năm phương diện như một hệ tiêu chí đánh giá mức độ thích ứng với môi trường học tập số nói chung, có thể áp dụng cho mọi đối tượng, trong đó người cao tuổi là nhóm cần được quan tâm đặc biệt do những hạn chế về thể chất, nhận thức và kinh nghiệm công nghệ. Thứ nhất, khả năng tiếp cận: có thiết bị, kết nối và sự hỗ trợ cần thiết để tham gia môi trường số. Thứ hai, khả năng tiếp nhận: nghe, nhìn, đọc, hiểu và thực hiện các chỉ dẫn trong môi trường số. Thứ ba, khả năng tham gia và duy trì: có động lực, sự tự tin và khả năng tiếp tục học tập khi gặp khó khăn. Thứ tư, khả năng vận dụng: chuyển hóa kiến thức và kỹ năng đã học thành hành vi giải quyết các nhu cầu thực tiễn. Thứ năm, khả năng điều chỉnh và tự bảo vệ: thích nghi với các thay đổi về giao diện, quy trình; nhận diện thông tin sai lệch, rủi ro an toàn dữ liệu và biết tìm kiếm sự hỗ trợ khi cần thiết. Cách phân nhóm này được tổng hợp dựa trên các yêu cầu về năng lực số và học tập công nghệ của người cao tuổi trong các nghiên cứu quốc tế về thu hẹp khoảng cách số (UNESCO, 2025).

Sự thích ứng là một quá trình động, chịu ảnh hưởng đồng thời của năng lực cá nhân và điều kiện môi trường. Nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy khả năng thích ứng số của người cao tuổi có liên hệ với các yếu tố như đặc điểm nhân khẩu - xã hội, thái độ đối với công nghệ, mức độ tham gia và sự hỗ trợ từ gia đình, chính sách và nhà cung cấp dịch vụ. Vì vậy, việc sở hữu điện thoại thông minh hoặc sử dụng internet chỉ phản ánh điều kiện ban đầu, chưa đủ để khẳng định người cao tuổi có thể học tập hiệu quả, vận dụng kiến thức và làm chủ môi trường số (Nguyen Thi Xuan Hoa, et al., 2022). Với người cao tuổi, thích ứng với môi trường học tập số là khả năng tiếp cận, duy trì và vận dụng việc học, đồng thời điều chỉnh hành vi và tự bảo vệ trước thay đổi, rủi ro số. Năng lực này hình thành trong tương tác giữa cá nhân với mức độ phù hợp và hỗ trợ của môi trường học tập.

b) Ý nghĩa của khả năng thích ứng với môi trường học tập số đối với người cao tuổi 

Đối với người cao tuổi, khả năng thích ứng với môi trường học tập số trước hết có ý nghĩa bảo đảm khả năng tiếp tục học tập trong suốt cuộc đời. UNESCO cho rằng học tập suốt đời có vai trò quan trọng trong việc nâng cao và cập nhật kỹ năng cho người cao tuổi, tăng cường tính tự chủ, thúc đẩy già hóa khỏe mạnh, tích cực và nâng cao chất lượng cuộc sống. Trong bối cảnh tri thức, thông tin và ngày càng nhiều hoạt động học tập được chuyển lên môi trường số, khả năng thích ứng trở thành điều kiện để người cao tuổi tiếp tục tiếp cận tri thức, cập nhật kỹ năng và duy trì năng lực học tập (UNESCO, n.db).

Ý nghĩa quan trọng thứ hai là duy trì tính tự chủ của người cao tuổi. WHO xác định “năng lực chức năng” trong già hóa khỏe mạnh bao gồm khả năng đáp ứng các nhu cầu cơ bản; học hỏi, phát triển và ra quyết định; vận động; xây dựng và duy trì các mối quan hệ; đóng góp cho xã hội. Năng lực chức năng được hình thành từ năng lực nội tại của cá nhân, các đặc điểm của môi trường và sự tương tác giữa hai yếu tố này. Theo đó, trong một xã hội ngày càng số hóa, khả năng học tập và thích ứng với công nghệ có ý nghĩa trực tiếp đối với việc duy trì khả năng tự mình tiếp cận thông tin, sử dụng dịch vụ và giải quyết các nhu cầu của đời sống.

Thích ứng với môi trường học tập số đồng thời là điều kiện quan trọng của hòa nhập và tham gia xã hội. Báo cáo nghiên cứu của Viện UNESCO về Học tập suốt đời nhìn nhận hòa nhập số là thiết yếu đối với sự tham gia đầy đủ vào xã hội hiện đại và cho thấy, với sự hỗ trợ chính sách, thiết kế sư phạm và môi trường công nghệ phù hợp, người cao tuổi có thể tham gia có ý nghĩa vào thế giới số. Các chương trình học tập công nghệ phù hợp còn góp phần củng cố tính tự chủ, kết nối xã hội và sự tham gia cộng đồng (UNESCO, 2025). Vì vậy, hạn chế khả năng thích ứng không chỉ tạo ra khoảng cách về kỹ năng công nghệ mà còn có thể chuyển hóa thành khoảng cách về cơ hội tiếp cận tri thức, dịch vụ và đời sống xã hội.Ở tầng ý nghĩa rộng hơn, khả năng thích ứng với môi trường học tập số tạo điều kiện để người cao tuổi tiếp tục phát triển năng lực, duy trì tính độc lập, kết nối với xã hội và sử dụng tri thức, kinh nghiệm của mình để đóng góp cho gia đình và cộng đồng. Vì vậy, nâng cao khả năng thích ứng không nên được hiểu đơn thuần là hỗ trợ người cao tuổi biết sử dụng công nghệ, mà là tạo điều kiện để họ tiếp tục học, tự chủ và tham gia có ý nghĩa vào đời sống xã hội trong bối cảnh chuyển đổi số.

2. Hạn chế về khả năng thích ứng với môi trường học tập số ở người cao tuổi và nguyên nhân

a) Những hạn chế về khả năng thích ứng với môi trường học tập số

Như đã phân tích, người cao tuổi không phải một nhóm đồng nhất về sức khỏe, học vấn, kinh nghiệm sử dụng công nghệ và điều kiện sống. Những khác biệt ấy chi phối cách mỗi người tiếp cận việc học số, đồng thời khiến cùng một yêu cầu kỹ thuật có thể là thao tác quen thuộc với người này nhưng lại là trở ngại đối với người khác.

Hạn chế trước hết thể hiện ở khả năng tiếp cận và tiếp nhận nội dung học tập. Việc sở hữu điện thoại thông minh hoặc có kết nối internet mới đáp ứng điều kiện ban đầu; người học còn cần thiết bị phù hợp, biết tìm nội dung cần học và có người hướng dẫn khi gặp vướng mắc. Đối với người cao tuổi ít kinh nghiệm sử dụng công nghệ, ngay những thao tác để bắt đầu học, như mở ứng dụng, đăng nhập hoặc nhận mã xác thực, cũng có thể đòi hỏi sự trợ giúp. Sau khi vào được môi trường học tập, họ tiếp tục phải đọc hiểu chỉ dẫn, nhận biết biểu tượng và ghi nhớ trình tự thao tác. Nếu nội dung được trình bày nhanh, có nhiều bước liên tiếp hoặc sử dụng thuật ngữ không quen thuộc, người học khó theo kịp dù vẫn hiện diện trong lớp. Báo cáo nghiên cứu của Viện UNESCO về Học tập suốt đời đã ghi nhận những rào cản trong tiếp cận và sử dụng công nghệ của người cao tuổi, đồng thời nhấn mạnh vai trò của cách tổ chức học tập và thiết kế công nghệ đối với sự tham gia của họ (UNESCO, 2025).

Ngay cả khi đã tiếp nhận được chỉ dẫn ban đầu, khả năng tham gia lâu dài và vận dụng điều đã học vẫn có thể bị hạn chế. Một người cao tuổi có thể hoàn thành thao tác nộp hồ sơ dịch vụ công khi được hướng dẫn từng bước, nhưng lúng túng khi tự làm tại nhà, nhất là lúc ứng dụng cập nhật giao diện hoặc yêu cầu một phương thức xác thực khác. Việc học ít gắn với nhu cầu thường ngày, thiếu cơ hội thực hành và không có nơi hỏi khi phát sinh lỗi khiến kỹ năng khó được củng cố. Từ đó xuất hiện khoảng cách giữa làm theo được trong buổi học và tự giải quyết được công việc: người học đã tham gia tập huấn nhưng vẫn phải nhờ người thân tra cứu thông tin sức khỏe, thực hiện thủ tục hoặc thanh toán. Nghiên cứu trường hợp tại Việt Nam cho thấy sự thích ứng với xã hội số của người cao tuổi có liên hệ với thái độ đối với công nghệ, mức độ tham gia và sự hỗ trợ từ gia đình, chính sách, nhà cung cấp dịch vụ (Nguyen Thi Xuan Hoa, et al., 2022).

Khó khăn còn bộc lộ khi người cao tuổi phải điều chỉnh cách sử dụng công nghệ và tự bảo vệ trước rủi ro. Các chỉ dẫn học được thường áp dụng cho tình huống quen thuộc, trong khi môi trường số liên tục xuất hiện thông báo mới, đường dẫn không rõ nguồn gốc hoặc yêu cầu cung cấp thông tin cá nhân. Người học thiếu khả năng kiểm chứng thông tin và nhận diện dấu hiệu lừa đảo có thể ngại thực hiện giao dịch; người vẫn sử dụng dịch vụ lại có thể phụ thuộc vào người khác để xử lý tài khoản, mật khẩu và các bước xác thực. Cả hai tình huống đều làm suy giảm khả năng tự quyết. Trong lĩnh vực sức khỏe số, WHO cũng lưu ý rằng khả năng tiếp cận, hiểu biết số và quyền riêng tư là những thách thức đối với người cao tuổi (WHO, 2024).

Mức độ của các hạn chế trên khác nhau giữa người có điều kiện thực hành và hỗ trợ thường xuyên với người sống một mình, thu nhập thấp hoặc ít kinh nghiệm công nghệ. Chúng cũng không nhất thiết xuất hiện cùng lúc: có người chưa tiếp cận được việc học, có người đã học nhưng chưa vận dụng độc lập, có người sử dụng thành thạo thao tác quen thuộc song vẫn khó tự bảo vệ trước rủi ro mới. Vì vậy, hạn chế về khả năng thích ứng cần được nhận diện qua mức độ người cao tuổi tiếp tục học, tự giải quyết nhu cầu và tham gia đời sống số một cách an toàn.

b) Nguyên nhân của những hạn chế

Những hạn chế nêu trên hình thành từ sự tương tác giữa điều kiện của người học và những yêu cầu mà môi trường học tập số đặt ra. Sức khỏe, trình độ học vấn, thu nhập và kinh nghiệm công nghệ ảnh hưởng đến điểm xuất phát của mỗi người cao tuổi. Chẳng hạn, người đã quen sử dụng điện thoại thông minh có thể tập trung vào việc học một dịch vụ mới, trong khi người mới làm quen phải đồng thời học cách điều khiển thiết bị và hiểu nội dung được hướng dẫn. Nhu cầu học tập cũng không giống nhau: có người muốn sử dụng dịch vụ công, có người cần tìm thông tin sức khỏe hoặc duy trì liên lạc với gia đình. Vì vậy, cùng một nội dung và tốc độ giảng dạy khó đáp ứng đầy đủ nhu cầu của mọi người học.

Những khác biệt về điểm xuất phát trở thành rào cản rõ hơn khi công nghệ và hoạt động học tập chưa được thiết kế phù hợp. Giao diện có nhiều lớp thông tin, quy trình gồm nhiều bước hoặc thay đổi sau mỗi lần cập nhật buộc người học phải liên tục điều chỉnh cách thao tác. Trong khi đó, lớp học đông, nội dung trình bày theo một trình độ chung và thời gian thực hành ngắn khiến người cần hướng dẫn thêm khó theo kịp. Nếu bài học chỉ giới thiệu tính năng mà ít gắn với công việc người cao tuổi muốn tự thực hiện, động lực học và cơ hội sử dụng lại kiến thức cũng giảm đi. Cách tổ chức dạy học và môi trường công nghệ phù hợp là những điều kiện quan trọng để người cao tuổi tham gia học tập số một cách có ý nghĩa.

Khả năng duy trì việc học còn phụ thuộc vào sự hỗ trợ sau buổi hướng dẫn. Người có thể hỏi người thân hoặc tìm được nơi trợ giúp tại cộng đồng có điều kiện tháo gỡ lỗi và tiếp tục thực hành; người thiếu nguồn hỗ trợ ấy dễ dừng lại khi gặp một thao tác ngoài nội dung đã học. Nếu hoạt động tập huấn chỉ diễn ra trong thời gian ngắn mà không có đầu mối giải đáp thường xuyên, kỹ năng mới khó được củng cố. Như vậy, khả năng thích ứng không chỉ phụ thuộc vào đặc điểm cá nhân của người cao tuổi, mà còn phụ thuộc vào mức độ dễ tiếp cận, phù hợp và hỗ trợ liên tục của môi trường học tập số.

3. Một số khuyến nghị chính sách nâng cao khả năng thích ứng với môi trường học tập số của người cao tuổi ở Việt Nam trong bối cảnh già hóa dân số

Như đã đề cập, Việt Nam được dự báo sẽ có xấp xỉ 18 triệu người cao tuổi vào năm 2030. Trong bối cảnh các cơ hội học tập và dịch vụ thiết yếu ngày càng gắn với công nghệ số, quy mô dân số cao tuổi gia tăng đòi hỏi chính sách quan tâm nhiều hơn đến khả năng học và sử dụng công nghệ của nhóm này. Từ những hạn chế về khả năng thích ứng với môi trương học tập số của người cao tuổi cho thấy các biện pháp hỗ trợ với nhóm xã hội này cần tác động đồng thời vào cơ hội học tập, cách thức học và điều kiện vận dụng sau khi học.

Thứ nhất, gắn học tập số của người cao tuổi với chính sách học tập suốt đời và công tác người cao tuổi. Đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2021-2030” và Chương trình hành động quốc gia về người cao tuổi giai đoạn 2021-2030 tạo cơ sở để các địa phương lồng ghép hoạt động học tập số vào những chương trình đang triển khai, thay vì hình thành các đợt tập huấn riêng lẻ, thiếu liên kết. Khi cụ thể hóa các chương trình này, mục tiêu học tập cần xuất phát từ việc người cao tuổi muốn tự thực hiện điều gì: tìm thông tin đáng tin cậy, sử dụng một dịch vụ công, liên lạc với người thân hay bảo vệ tài khoản cá nhân. Cách xác định mục tiêu theo nhiệm vụ thực tế giúp việc học có ý nghĩa đối với người tham gia, đồng thời tạo căn cứ để xem xét kỹ năng có được duy trì và vận dụng hay không. Số lớp học và số lượt tập huấn vẫn cần được ghi nhận, nhưng không thể thay thế kết quả về khả năng sử dụng độc lập.

Thứ hai, thiết kế nội dung và phương pháp học theo sự khác biệt giữa những người học cao tuổi. Hạn chế về sức khỏe, học vấn hay kinh nghiệm công nghệ không giống nhau, nên một chương trình chung với cùng tốc độ và cách hướng dẫn khó phù hợp với tất cả. Trước khi tổ chức lớp học, cần xác định người tham gia đã quen thiết bị đến mức nào và họ cần giải quyết việc gì trong đời sống. Người mới bắt đầu có thể cần học cách mở ứng dụng, đọc thông báo và tìm nơi trợ giúp; người đã sử dụng điện thoại thường xuyên có thể cần rèn luyện kỹ năng kiểm chứng thông tin hoặc thực hiện giao dịch an toàn. Bài học nên đi từ một tình huống cụ thể, được chia thành các bước ngắn, có thời gian để người học tự thao tác và lặp lại trên chính thiết bị họ thường sử dụng. Khả năng nhận diện đường dẫn đáng ngờ, bảo vệ mật khẩu, mã xác thực và dữ liệu cá nhân cần được thực hành cùng với kỹ năng sử dụng dịch vụ, bởi người học chỉ có thể vận dụng kiến thức một cách tự chủ khi biết xử lý cả những rủi ro có thể phát sinh.

Thứ ba, duy trì mạng lưới hỗ trợ sau học và cải thiện khả năng sử dụng của các dịch vụ thiết yếu. Khoảng cách giữa “làm được trong lớp” và “tự làm được tại nhà” thường bộc lộ khi người học quên một bước, gặp thông báo mới hoặc ứng dụng thay đổi giao diện. Vì vậy, các điểm học tập cộng đồng, Hội Người cao tuổi, gia đình và lực lượng hỗ trợ công nghệ tại địa phương cần được kết nối để người cao tuổi biết có thể hỏi ai và hỏi ở đâu. Hỗ trợ nên hướng tới việc giải thích, hướng dẫn người học tự thực hiện, tránh làm thay lâu dài những thao tác họ có khả năng học được. Đồng thời, cơ quan cung cấp dịch vụ công, y tế và các nền tảng thiết yếu cần xem xét mức độ dễ đọc, dễ hiểu của giao diện, số bước thực hiện và cách giải thích lỗi. Trong thời gian người sử dụng chưa thể tự hoàn thành quy trình số, điểm hỗ trợ trực tiếp hoặc kênh điện thoại vẫn cần thiết để họ tiếp cận được dịch vụ.

Thứ tư, ưu tiên người cao tuổi gặp nhiều rào cản và đánh giá kết quả theo mức độ thích ứng thực tế. Người sống một mình, có thu nhập thấp, hạn chế về thị giác hoặc vận động, ít kinh nghiệm công nghệ hay ở nơi khó tiếp cận lớp học có thể cần những hình thức hỗ trợ khác nhau. Có người cần thiết bị và kết nối; có người cần tài liệu dễ đọc, hướng dẫn theo nhóm nhỏ hoặc trợ giúp tại nơi cư trú. Việc xác định đối tượng ưu tiên vì thế cần dựa trên rào cản cụ thể, thay vì giả định mọi người cao tuổi đều có cùng nhu cầu. Sau hoạt động học tập, kết quả nên được xem xét qua khả năng người học tự thực hiện nhiệm vụ đã chọn, xử lý khó khăn thông thường, duy trì kỹ năng sau một thời gian và nhận biết tình huống thiếu an toàn. Những thông tin ấy cũng giúp điều chỉnh nội dung, phương pháp và cách tổ chức hỗ trợ tại địa phương.

Nâng cao khả năng thích ứng với môi trường học tập số, xét đến cùng, đòi hỏi một quá trình hỗ trợ liên tục giữa người học, hoạt động giáo dục và dịch vụ số. Khi việc học gắn với nhu cầu thực tế và người cao tuổi có điều kiện thực hành, tìm trợ giúp, họ có thêm khả năng tiếp tục học tập, giữ quyền tự chủ và tham gia đời sống xã hội trong bối cảnh già hóa dân số.

Kết luận

Khả năng thích ứng với môi trường học tập số của người cao tuổi không hình thành chỉ từ việc tiếp cận thiết bị hay tham gia một khóa hướng dẫn. Đó là quá trình tiếp nhận, duy trì và vận dụng kiến thức, đồng thời điều chỉnh cách học, cách sử dụng công nghệ và tự bảo vệ trước rủi ro. Những hạn chế trong quá trình này phản ánh sự khác biệt giữa người học và mức độ phù hợp của công nghệ, phương pháp giảng dạy, mạng lưới hỗ trợ. Vì vậy, chính sách cần tạo điều kiện để người cao tuổi được học theo nhu cầu, thực hành thường xuyên và nhận trợ giúp khi cần, với kết quả được đánh giá bằng khả năng sử dụng độc lập, an toàn trong đời sống. Trong bối cảnh Việt Nam già hóa dân số, một môi trường học tập số thực sự bao trùm phải giúp người cao tuổi tiếp tục học, giữ quyền tự chủ và có cơ hội đóng góp cho xã hội.

---

Tài liệu tham khảo

Nguyen Thi Xuan Hoa et al., “Elderly People’s Adaptation to the Evolving Digital Society: A Case Study in Vietnam”, Social Sciences, vol. 11, no. 8, 2022, article 324, MDPI, Switzerland, DOI: 10.3390/socsci11080324.

Riina Vuorikari, Stefano Kluzer and Yves Punie, DigComp 2.2: The Digital Competence Framework for Citizens – With New Examples of Knowledge, Skills and Attitudes, Publications Office of the European Union, Luxembourg, 2022, DOI: 10.2760/115376, JRC128415.

Tổng cục Thống kê, Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2024, công bố ngày 6/1/2025.

UNESCO. (n.da) Digital Learning, https://www.unesco.org/en/query-list/d/digital-learning , truy cập ngày 10/6/2026.

UNESCO. (n.db) Institute for Lifelong Learning, The Benefits of Lifelong Learning for Older Adults, https://www.uil.unesco.org/en/thematic-studies-benefits-lifelong-learning-older-adults, truy cập ngày 25/9/2026.

UNESCO. (2025). Institute for Lifelong Learning, Shanghai Open University and Institute for the Future of Education, Bridging the Grey Digital Divide: Enhancing ICT Learning for Older Adults: Research Report, 2025, UNESDOC ID: 0000396040, https://www.uil.unesco.org/en/articles/bridging-grey-digital-divide-enhancing-ict-learning-older-adults, truy cập ngày 25/9/2026.

World Health Organization (WHO). (2020). Healthy ageing and functional ability, 26/10/2020, https://www.who.int/news-room/questions-and-answers/item/healthy-ageing-and-functional-abilit, truy cập ngày 10/6/2026.

World Health Organization (WHO). (2024).  Regional Office for Europe, Promoting healthy ageing in a digital world, https://www.who.int/europe/news-room/events/item/2024/09/17/default-calendar/promoting-healthy-ageing-in-a-digital-world, truy cập ngày 10/6/2026.