TS. Đinh Thị Hương Giang
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Bài viết được đăng trên Tạp chí Pháp luật về quyền con người số 53 (4/2026)
Tóm tắt: Bảo vệ quyền con người trong hoạt động xét xử phụ thuộc chặt chẽ vào tính liêm chính của nền tư pháp. Mặc dù Việt Nam đã hình thành cơ chế giám sát hoạt động xét xử ở nhiều cấp độ, song vẫn còn những hạn chế về tính độc lập, minh bạch và hiệu quả thực thi. Bài viết phân tích thực trạng cơ chế giám sát bảo đảm liêm chính trong hoạt động xét xử, đồng thời đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền con người trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay.
Từ khóa: Quyền con người; liêm chính tư pháp; giám sát hoạt động xét xử; cải cách tư pháp; Nhà nước pháp quyền.
Abstract: The protection of human rights in judicial activities is closely linked to judicial integrity. Although Vietnam has established multi-level mechanisms to supervise adjudicatory activities, limitations remain regarding independence, transparency, and the effectiveness of enforcement. The article analyzes the current supervisory mechanisms for ensuring integrity in judicial proceedings and proposes solutions to strengthen judicial integrity, thereby enhancing the protection of human rights in the context of building a socialist rule-of-law state in Vietnam.
Keywords: Human rights; judicial integrity; supervision of adjudicatory activities; judicial reform; rule-of-law state.

Ảnh minh họa. Nguồn: congly.vn
1. Đặt vấn đề
Trong Nhà nước pháp quyền hiện đại, bảo vệ quyền con người không chỉ dừng lại ở việc ghi nhận các quyền trong Hiến pháp và pháp luật, mà còn đòi hỏi phải thiết lập và vận hành hiệu quả các cơ chế bảo đảm để các quyền đó được thực thi. Trong số các thiết chế bảo vệ quyền con người, Tòa án giữ vai trò đặc biệt quan trọng, bởi đây là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, trực tiếp xét xử và đưa ra các phán quyết có ảnh hưởng sâu sắc đến quyền, lợi ích hợp pháp, thậm chí là tự do và phẩm giá của cá nhân. Hoạt động xét xử chỉ thực sự trở thành công cụ bảo vệ quyền con người khi được tiến hành một cách độc lập, khách quan, vô tư và liêm chính. Ngược lại, khi hoạt động xét xử thiếu liêm chính, quyền con người không những không được bảo vệ mà còn có nguy cơ bị xâm phạm nghiêm trọng thông qua các hiện tượng như xét xử thiên vị, can thiệp trái pháp luật, tham nhũng tư pháp hoặc thiếu trách nhiệm giải trình.
Trong bối cảnh đó, cơ chế giám sát bảo đảm liêm chính trong hoạt động xét xử có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Giám sát không chỉ là công cụ quản lý nội bộ của ngành Tòa án, mà còn là cơ chế kiểm soát quyền lực tư pháp, góp phần phòng ngừa việc lạm dụng quyền lực xét xử và bảo vệ quyền con người trước nguy cơ bị xâm phạm bởi quyền lực công.
Liêm chính tư pháp (judicial integrity) được hiểu là sự tuân thủ nghiêm ngặt các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, tính khách quan, vô tư, độc lập và trong sạch trong hoạt động xét xử, điều tra, truy tố và thi hành án. Đây là điều kiện tiên quyết để bảo vệ công lý, tạo dựng niềm tin xã hội vào hệ thống pháp luật. Liêm chính tư pháp bao hàm các giá trị cốt lõi như độc lập, khách quan, vô tư, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động xét xử. Từ góc độ quyền con người, liêm chính tư pháp không chỉ là chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của thẩm phán, mà còn là điều kiện thể chế để bảo đảm quyền được xét xử công bằng và ngăn ngừa sự xâm phạm quyền con người trong hoạt động tư pháp.
Liêm chính trong hoạt động xét xử đòi hỏi từng cá nhân (thẩm phán, thẩm tra viên, thư ký tòa án...) phải chống lại sự can thiệp trái pháp luật, tránh xung đột lợi ích, không tham nhũng, không thiên vị. Liêm chính tư pháp được coi là trụ cột để bảo vệ công lý, bảo đảm quyền con người và củng cố niềm tin của nhân dân vào nhà nước pháp quyền.
Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, việc đảm bảo liêm chính trong hoạt động xét xử đóng vai trò then chốt. Liêm chính không chỉ phản ánh phẩm chất của đội ngũ cán bộ tư pháp mà còn thể hiện uy tín của hệ thống tư pháp trong việc bảo vệ công lý, quyền con người và quyền công dân. Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ 6 BCH Trung ương khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới xác định: “Xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân; Hoàn thiện chính sách, pháp luật liên quan đến tư pháp, bảo đảm tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Hoàn thiện cơ chế phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý mọi hành vi can thiệp trái pháp luật vào hoạt động tư pháp; bảo đảm tính độc lập của tòa án theo thẩm quyền xét xử, thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” (Ban Chấp hành Trung ương, 2022). Hiến pháp năm 2013 (Điều 103) khẳng định: “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”.
Hoạt động xét xử thiếu liêm chính không chỉ làm sai lệch kết quả giải quyết vụ án, mà còn làm suy yếu toàn bộ cơ chế bảo vệ quyền con người, khi cá nhân không còn điểm tựa pháp lý đáng tin cậy để yêu cầu Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tuy nhiên, trên thực tế, nguy cơ vi phạm liêm chính trong tư pháp vẫn tồn tại, thể hiện ở tình trạng tham nhũng vặt, lợi ích nhóm, hoặc can thiệp trái pháp luật vào quá trình xét xử.
Để khắc phục tình trạng này, cần có cơ chế giám sát hiệu quả nhằm bảo đảm sự tuân thủ các chuẩn mực liêm chính tư pháp, đồng thời thúc đẩy tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan tiến hành tố tụng.
2. Giám sát bảo đảm liêm chính trong hoạt động xét xử và tác động đến quyền con người
a) Thực trạng giám sát liêm chính tư pháp ở Việt Nam
Thứ nhất, về công khai, minh bạch trong hoạt động tư pháp
Công tác công khai bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án trên Cổng thông tin điện tử được các Tòa án trong toàn quốc thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả nhằm nâng cao năng lực, trách nhiệm của Thẩm phán cũng như tạo điều kiện để nhân dân tham gia giám sát hoạt động xét xử của Tòa án. Tính đến hết năm 2025, đã công bố được gần 1,8 triệu bản án, quyết định với tổng số hơn 222 triệu lượt truy cập (Tòa án nhân dân tối cao, 2025). Qua đó đề cao trách nhiệm của Thẩm phán, nâng cao chất lượng xét xử, tạo cơ chế giám sát của Nhân dân đối với hoạt động của Tòa án.
Hệ thống quản lý hoạt động tố tụng cho phép số hóa và theo dõi toàn bộ quy trình giải quyết vụ án, từ tiếp nhận đơn, thụ lý, phân công giải quyết đến xét xử, thi hành án và ủy thác tư pháp. Việc ứng dụng công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo hỗ trợ các hoạt động hành chính tư pháp như tiếp nhận, xử lý đơn, soạn thảo văn bản, tống đạt, phát hành văn bản và công khai bản án, góp phần nâng cao tính minh bạch và hiệu quả hoạt động xét xử. Bên cạnh đó, hệ thống quản lý công việc và chỉ đạo điều hành giúp thống nhất quản lý hồ sơ, văn bản và giám sát tiến độ giải quyết công việc trên nền tảng số.
Việc số hóa toàn bộ hồ sơ vụ án không chỉ nâng cao hiệu quả quản lý, tiết kiệm nguồn lực mà còn tạo cơ sở dữ liệu quan trọng phục vụ chuyển đổi số quốc gia, qua đó góp phần tăng cường minh bạch và phòng ngừa tiêu cực trong hoạt động tư pháp.
Thứ hai, về hoạt động giám sát nội bộ đối với Thẩm phán
Công tác thanh tra, kiểm tra chuyên môn, nghiệp vụ được tiến hành thường xuyên với hình thức, nội dung đa dạng đã kịp thời chấn chỉnh những hạn chế, khuyết điểm của các Tòa án.
Năm 2021, Tòa án nhân dân tối cao đã kiểm tra 1.745 bản án hình sự sơ thẩm, phúc thẩm có hiệu lực pháp luật cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo không giam giữ, phạt tiền, áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt; kiểm tra, nghiên cứu các bản án, quyết định của Thẩm phán bị Tòa án cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm hủy, sửa. Trong năm 2021, các Tòa án có 38 trường hợp đã bị xử lý kỷ luật do có hành vi vi phạm (trong đó, khiển trách 19 trường hợp, cảnh cáo 05 trường hợp, buộc thôi việc 03 trường hợp, xóa tư cách chức vụ đã đảm nhiệm 01 trường hợp, 02 trường hợp đang bị điều tra, truy tố và 08 trường hợp xử lý kỷ luật Đảng, chưa kỷ luật về chính quyền) (Tòa án nhân dân tối cao, 2021).
Năm 2022, việc thẩm tra hồ sơ đề nghị bổ nhiệm Thẩm phán, hồ sơ miễn nhiệm, hồ sơ đề nghị bổ nhiệm chức vụ được thực hiện thận trọng, kịp thời, đúng quy định. Tòa án nhân dân tối cao đã kiểm tra, nghiên cứu 545 hồ sơ đề nghị bổ nhiệm Thẩm phán, 05 hồ sơ đề nghị miễn nhiệm Thẩm phán của các Tòa án nhân dân để thẩm tra theo quy định; kiểm tra các bản án, quyết định của Thẩm phán bị hủy, sửa nghiêm trọng; kiểm tra 625 bản án hình sự có kết quả xét xử cho bị cáo hưởng án treo, cảnh cáo, cải tạo không giam giữ, phạt tiền là hình phạt chính; thẩm tra và trình Hội đồng tuyển chọn, giám sát Thẩm phán quốc gia cho ý kiến để Chánh án Tòa án nhân dân tối cao trình Chủ tịch nước bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm Thẩm phán đối với 427 trường hợp. Các Tòa án nhân dân tỉnh cũng tăng cường kiểm tra công tác chuyên môn đối với Tòa án nhân dân cấp huyện theo kế hoạch để kịp thời phát hiện, khắc phục, rút kinh nghiệm những sai sót chuyên môn, nghiệp vụ trong quá trình giải quyết, xét xử các loại vụ việc. Năm 2022 có 36 công chức Tòa án nhân dân đã bị xử lý kỷ luật, xử lý hình sự, trong đó: 33 trường hợp bị xử lý kỷ luật về hành chính (khiển trách 22 trường hợp, cảnh cáo 05 trường hợp, buộc thôi việc 06 trường hợp); 03 trường hợp bị khởi tố, đang trong thời gian chưa xem xét xử lý kỷ luật (Tòa án nhân dân tối cao, 2022).
Năm 2023, Tòa án nhân dân tối cao đã kiểm tra, nghiên cứu, thẩm tra đối với 836 hồ sơ đề nghị bổ nhiệm Thẩm phán, 06 hồ sơ đề nghị miễn nhiệm Thẩm phán, 01 hồ sơ cách chức Thẩm phán; nghiên cứu nhiều bản án, quyết định của Thẩm phán bị hủy, sửa và 915 bản án hình sự có kết quả xét xử cho bị cáo hưởng án treo, cảnh cáo, cải tạo không giam giữ, phạt tiền là hình phạt chính; nghiên cứu, thẩm tra hồ sơ đối với 28 Thẩm phán bị xem xét, xử lý trách nhiệm theo Quy định xử lý trách nhiệm người giữ chức danh tư pháp trong Tòa án nhân dân. Việc thẩm tra hồ sơ đề nghị bổ nhiệm Thẩm phán, hồ sơ miễn nhiệm, hồ sơ đề nghị bổ nhiệm chức vụ được thực hiện thận trọng, kịp thời, đúng quy định. Các Tòa án nhân dân cấp tỉnh cũng tăng cường kiểm tra công tác chuyên môn đối với Tòa án nhân dân cấp huyện theo kế hoạch để kịp thời phát hiện, khắc phục, rút kinh nghiệm những sai sót chuyên môn, nghiệp vụ. Trong năm 2023, có 46 công chức Tòa án nhân dân bị xử lý kỷ luật (khiển trách 32 trường hợp, cảnh cáo 08 trường hợp, buộc thôi việc 04 trường hợp, cho thôi giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý 02 trường hợp); 05 trường hợp bị khởi tố hình sự (Tòa án nhân dân tối cao, 2023).
Năm 2024, Tòa án nhân dân tối cao đã kiểm tra, nghiên cứu, thẩm tra đối với 877 hồ sơ đề nghị bổ nhiệm Thẩm phán; nghiên cứu nhiều bản án, quyết định của Thẩm phán bị hủy, sửa và 246 bản án hình sự có kết quả xét xử cho bị cáo hưởng án treo, cảnh cáo, cải tạo không giam giữ, phạt tiền là hình phạt chính; nghiên cứu, thẩm tra hồ sơ đối với 16 Thẩm phán bị xem xét, xử lý trách nhiệm theo Quy định xử lý trách nhiệm người giữ chức danh tư pháp trong Tòa án nhân dân. Việc thẩm tra hồ sơ đề nghị bổ nhiệm Thẩm phán, hồ sơ miễn nhiệm, hồ sơ đề nghị bổ nhiệm chức vụ được thực hiện thận trọng, kịp thời, đúng quy định. Các Tòa án nhân dân cấp tỉnh cũng tăng cường kiểm tra công tác chuyên môn đối với Tòa án nhân dân cấp huyện theo kế hoạch để kịp thời phát hiện, khắc phục, rút kinh nghiệm những sai sót chuyên môn, nghiệp vụ. Trong năm 2024, có 47 trường hợp bị kỷ luật hành chính (khiển trách 34 trường hợp, cảnh cáo 06 trường hợp, cách chức 01 trường hợp, buộc thôi việc 06 trường hợp ); 05 trường hợp bị kỷ luật Đảng hình thức khiển trách, đang xem xét xử lý kỷ luật hành chính; 05 trường hợp bị xử lý hình sự (đang trong giai đoạn điều tra) (Tòa án nhân dân tối cao, 2024).
Năm 2025, Tòa án nhân dân tối cao đã tổ chức 06 đoàn thanh tra; các Tòa án nhân dân các tỉnh đã thực hiện 80 đoàn thanh tra công vụ, 116 đoàn kiểm tra nghiệp vụ. Thông qua công tác thanh tra, kiểm tra đã chỉ ra những thiếu sót, vi phạm trong lãnh đạo, chỉ đạo của người đứng đầu và thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của công chức, Thẩm phán; các Tòa án đã nghiêm túc kiểm điểm, rút kinh nghiệm. Hoạt động giám sát đối với Thẩm phán được tăng cường, thường xuyên theo dõi và xử lý kịp thời các thông tin về Thẩm phán bị phản ánh trên phương tiện thông tin đại chúng. Năm 2025, đã xử lý 32 trường hợp bị kỷ luật hành chính (khiển trách 19 trường hợp, cảnh cáo 07 trường hợp, buộc thôi việc 06 trường hợp) và xử lý hình sự 18 trường hợp (Tòa án nhân dân tối cao, 2025).
Tuy nhiên vẫn phải thấy rằng giám sát nội bộ trong các cơ quan Tòa án còn thiếu tính độc lập và khách quan. Các cơ quan thanh tra trong Tòa án vừa chịu sự quản lý hành chính, vừa thực hiện giám sát, nên đôi khi khó tránh khỏi tình trạng nể nang, né tránh hoặc bao che.
Thứ ba, về trách nhiệm giải trình của lãnh đạo Tòa án nhân dân
Thông qua các phiên chất vấn tại Quốc hội và HĐND, Chánh án TAND tối cao phải trực tiếp trả lời chất vấn trước công luận, công khai kế hoạch khắc phục tồn tại. Khi lãnh đạo TAND phải công khai báo cáo và trả lời chất vấn, các sai phạm hay yếu kém trong hệ thống dễ dàng được phát hiện và khắc phục. Trách nhiệm giải trình giúp hạn chế tình trạng can thiệp trái pháp luật, lợi ích nhóm hoặc bao che trong xét xử. Người dân thấy rõ cơ quan tư pháp không đứng ngoài sự kiểm soát, mà luôn phải giải thích, chứng minh tính liêm chính và hiệu quả của hoạt động.
Cơ chế này buộc người đứng đầu phải chịu trách nhiệm cá nhân, từ đó góp phần ngăn ngừa tình trạng đùn đẩy trách nhiệm hay bao che sai phạm. Tuy nhiên, Quốc hội và HĐND chủ yếu giám sát qua báo cáo do cơ quan tư pháp cung cấp, thiếu công cụ để kiểm chứng độc lập. Các phiên chất vấn và giám sát chuyên đề tuy có tác động dư luận mạnh, nhưng việc theo dõi thực hiện kiến nghị sau giám sát chưa chặt chẽ. Nhiều kiến nghị giám sát chưa được thực hiện triệt để, dẫn đến tình trạng “nhắc nhiều lần nhưng khắc phục chậm”. Trách nhiệm giải trình đôi khi chỉ dừng lại ở mức báo cáo, giải thích, chứ chưa gắn với chế tài cụ thể đối với cá nhân lãnh đạo khi để xảy ra sai phạm nghiêm trọng.
Thứ tư, về vai trò giám sát của xã hội
Báo chí đã trở thành một kênh giám sát mạnh mẽ, góp phần phát hiện nhiều vụ việc tiêu cực trong ngành tư pháp. Nhiều bài báo điều tra tạo sức ép để cơ quan chức năng xử lý sai phạm. Tổ chức xã hội nghề nghiệp như Đoàn Luật sư, Hội Luật gia cũng tích cực phản biện chính sách, kiến nghị sửa đổi quy định nhằm nâng cao liêm chính tư pháp.
Người dân và báo chí tham gia giám sát, nhưng khả năng tiếp cận thông tin tư pháp còn hạn chế. Cơ chế bảo vệ người tố cáo, phản ánh tiêu cực tư pháp chưa thật hiệu quả, khiến không ít trường hợp e ngại, không dám lên tiếng. Tiếng nói của luật sư, đoàn luật sư, tổ chức xã hội nghề nghiệp chưa có sức nặng pháp lý trong quá trình giám sát, chủ yếu mang tính khuyến nghị.
Thứ năm, về nhận thức và văn hóa liêm chính trong ngành tư pháp
Công tác giáo dục chính trị, đạo đức nghề nghiệp cho thẩm phán, thẩm tra viên được chú trọng. Bộ quy tắc ứng xử và chuẩn mực đạo đức thẩm phán đã được ban hành, góp phần xây dựng văn hóa liêm chính trong hệ thống. Bộ quy tắc này dựa trên Nguyên tắc Bangalore về đạo đức tư pháp (2002), được coi là chuẩn mực quốc tế về liêm chính và ứng xử của thẩm phán. Bộ quy tắc nhấn mạnh các giá trị cốt lõi: (1) Độc lập: Thẩm phán phải giữ vững sự độc lập khi xét xử, không bị chi phối bởi áp lực bên ngoài. (2) Liêm chính: Kiên quyết chống lại mọi hành vi tham nhũng, hối lộ, lợi ích nhóm. (3) Vô tư, khách quan: Giải quyết vụ việc công bằng, không thiên vị. (4) Đúng mực trong ứng xử: Giữ thái độ chuẩn mực với đương sự, luật sư, đồng nghiệp và công chúng. (5) Năng lực và sự tận tụy: Luôn nâng cao chuyên môn, tận tâm với nhiệm vụ xét xử. (6) Minh bạch: Hạn chế tối đa xung đột lợi ích, công khai những vấn đề có liên quan.
Bộ quy tắc tạo khung chuẩn mực để thẩm phán soi chiếu và tự điều chỉnh hành vi. Tăng cường niềm tin của người dân vào tính công minh của Tòa án. Bên cạnh đó, không chỉ cơ quan quản lý mà cả xã hội có thể dựa vào bộ quy tắc này để đánh giá tính liêm chính và đạo đức của thẩm phán. Khi thẩm phán hành xử theo chuẩn mực đạo đức thống nhất, hình thành nên một “văn hóa tư pháp” trong sạch, minh bạch và đáng tin cậy.
b) Giải pháp hoàn thiện cơ chế giám sát liêm chính trong hoạt động xét xử ở Việt Nam
Một là, hoàn thiện khung pháp lý về giám sát liêm chính tư pháp
Ban hành Luật Giám sát tư pháp quy định rõ cơ chế, thẩm quyền và trách nhiệm của các chủ thể giám sát. Hiện nay, giám sát hoạt động tư pháp được quy định rải rác trong Hiến pháp, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND, Luật Phòng, chống tham nhũng... nhưng chưa có một văn bản pháp lý thống nhất. Trong thời gian tới, nghiên cứu xây dựng và ban hành Luật Giám sát tư pháp để quy định cụ thể: Chủ thể giám sát, phạm vi và thẩm quyền; Quy trình giám sát, từ phát hiện, điều tra đến xử lý vi phạm; Trách nhiệm giải trình và chế tài đối với lãnh đạo cơ quan tư pháp khi để xảy ra sai phạm. Luật này sẽ tạo nền tảng pháp lý minh bạch, đồng bộ, giúp việc giám sát tư pháp có hiệu lực cao hơn.
Bổ sung quy định bắt buộc công khai bản án, quyết định trên cổng thông tin điện tử (trừ trường hợp đặc biệt liên quan an ninh quốc gia, bí mật đời tư). Xây dựng cơ chế báo cáo định kỳ và đột xuất về liêm chính tư pháp, công khai cho xã hội. Quy định rõ trách nhiệm giải trình của thẩm phán, thẩm tra viên và lãnh đạo Tòa án nhân dân trong trường hợp án oan, sai, vi phạm nghiêm trọng tố tụng.
Nâng tầm pháp lý của Bộ quy tắc đạo đức và ứng xử thẩm phán, đưa một số quy định cơ bản vào luật để có tính ràng buộc pháp lý, thay vì chỉ dừng ở khuyến nghị đạo đức.
Hoàn thiện Luật Tố cáo, bổ sung điều khoản riêng về bảo vệ người tố cáo tiêu cực trong tư pháp (như thẩm phán nhận hối lộ, án bỏ lọt tội phạm).
Tạo hành lang pháp lý cho luật sư, tổ chức xã hội nghề nghiệp, báo chí tham gia giám sát, đồng thời xác lập giá trị pháp lý rõ ràng cho các kiến nghị từ giám sát xã hội.
Rà soát, sửa đổi Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND để: Bổ sung cơ chế theo dõi thực hiện kiến nghị sau giám sát; Gắn trách nhiệm giải trình của cơ quan tư pháp với kết quả giám sát (ví dụ: nếu tái diễn vi phạm thì lãnh đạo phải chịu trách nhiệm kỷ luật hoặc miễn nhiệm); Tăng chế tài xử lý đối với hành vi không thực hiện hoặc trì hoãn thực hiện kết luận giám sát của cơ quan dân cử.
Việc hoàn thiện khung pháp lý về giám sát tư pháp không chỉ nâng cao kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động xét xử, mà còn góp phần bảo đảm thực chất quyền được xét xử công bằng của cá nhân.
Hai là, tăng cường giám sát nội bộ
Nâng cao năng lực và tính độc lập của Thanh tra Tòa án nhân dân. Ứng dụng công nghệ số để kiểm soát quy trình giải quyết vụ án, giảm can thiệp ngoài tố tụng.
Củng cố tổ chức Thanh tra Tòa án theo hướng chuyên nghiệp, độc lập hơn, tránh tình trạng “vừa đá bóng vừa thổi còi”. Xây dựng cơ chế báo cáo trực tiếp từ cơ quan thanh tra nội bộ lên lãnh đạo cấp cao (Chánh án TAND tối cao) để hạn chế can thiệp. Phân định rõ trách nhiệm giữa thanh tra hành chính (quản lý công vụ) và thanh tra nghiệp vụ (hoạt động tố tụng), tránh chồng chéo hoặc bỏ sót.
Ban hành quy trình giám sát nội bộ thống nhất từ khâu tiếp nhận thông tin, điều tra xác minh, đến kết luận và kiến nghị xử lý. Tăng chế tài đối với cán bộ vi phạm quy tắc liêm chính, nhất là các hành vi can thiệp trái pháp luật, nhận hối lộ, thiên vị trong xét xử. Gắn kết quả giám sát nội bộ với công tác nhân sự: bổ nhiệm, tái bổ nhiệm, khen thưởng hay kỷ luật phải dựa nhiều vào hồ sơ giám sát.
Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu điện tử theo dõi toàn bộ quy trình giải quyết án, giúp phát hiện bất thường (án tồn đọng quá hạn, tỷ lệ hủy sửa bất thường...). Ứng dụng AI và phân tích dữ liệu lớn để giám sát hành vi thẩm phán, kiểm sát viên (ví dụ: thống kê tần suất xử án treo, miễn trách nhiệm hình sự để kịp thời kiểm soát). Tăng cường camera giám sát trong phòng hỏi cung, phòng xử án để bảo đảm minh bạch.
Thiết lập hệ thống cảnh báo nội bộ khi phát hiện dấu hiệu bất thường trong hoạt động tư pháp (ví dụ: số lượng án bị hủy, sửa tăng đột biến; khiếu nại nhiều về một thẩm phán cụ thể). Phát triển đường dây nóng và hộp thư tố giác nội bộ, bảo mật danh tính người phản ánh để khuyến khích cán bộ tố cáo sai phạm.
Ba là, phát huy vai trò giám sát xã hội
Giám sát xã hội là kênh quan trọng để bổ sung cho giám sát nội bộ và giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước, nhằm bảo đảm liêm chính tư pháp. Trong thời gian tới, cần tiếp tục phát triển cổng thông tin điện tử thống nhất về lịch xét xử, tiến độ giải quyết vụ án, kết quả thi hành án... để báo chí, luật sư và người dân dễ dàng theo dõi.
Tăng cường quyền tiếp cận thông tin tư pháp cho báo chí, luật sư và người dân. Bảo vệ an toàn cho người tố cáo, nhân chứng trong các vụ việc tiêu cực tư pháp.
Xác lập cơ chế pháp lý bảo vệ quyền tác nghiệp của nhà báo khi đưa tin về hoạt động tư pháp. Khuyến khích báo chí điều tra, phản ánh tiêu cực tư pháp và trao quyền tiếp cận rộng rãi hơn tới hồ sơ, thông tin vụ án sau khi bản án có hiệu lực. Thiết lập kênh thông tin chính thức để TAND đối thoại, cung cấp thông tin kịp thời cho báo chí, hạn chế tin sai lệch.
Xây dựng cơ chế phản ánh, kiến nghị trực tuyến để người dân có thể gửi ý kiến về tiêu cực trong hoạt động tư pháp. Bảo vệ an toàn cho người tố cáo và nhân chứng, tránh tình trạng bị trù dập, trả thù. Nghiên cứu thí điểm mô hình Hội đồng tư pháp cộng đồng hoặc cơ chế tham vấn xã hội trong một số lĩnh vực (ví dụ: lựa chọn hội thẩm nhân dân, đánh giá mức độ hài lòng với hoạt động tư pháp).
Bốn là, đảm bảo trách nhiệm giải trình
Bổ sung quy định cụ thể trong Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân về trách nhiệm giải trình của người đứng đầu khi để xảy ra án oan, sai hoặc vi phạm nghiêm trọng. Luật hóa cơ chế giải trình định kỳ và đột xuất: yêu cầu lãnh đạo TAND phải giải trình trước Quốc hội, HĐND và công chúng khi có vụ việc gây bức xúc.
Yêu cầu báo cáo thường niên về liêm chính tư pháp do TAND tối cao công bố công khai, nêu rõ số vụ án oan, sai, án bị hủy sửa, án tồn đọng, án tham nhũng. Công khai tỷ lệ án bị kháng nghị, hủy sửa trên cổng thông tin điện tử của ngành tư pháp, để xã hội giám sát và so sánh minh bạch. Bổ sung cơ chế báo cáo giải trình trực tuyến, cho phép người dân truy cập và theo dõi.
Gắn trách nhiệm giải trình với chế tài rõ ràng (miễn nhiệm, kỷ luật, hạ bậc lương, không tái bổ nhiệm) nếu giải trình không thuyết phục hoặc không khắc phục được sai phạm. Quy định rõ trách nhiệm cá nhân của thẩm phán, thẩm tra viên khi để xảy ra sai phạm (không chỉ tập thể chịu trách nhiệm chung). Mỗi cán bộ tư pháp phải có hồ sơ liêm chính cá nhân ghi nhận quá trình công tác, số vụ việc bị khiếu nại, tố cáo, án bị hủy sửa. Hồ sơ này được dùng làm căn cứ bổ nhiệm, tái bổ nhiệm. Áp dụng nguyên tắc: cán bộ vi phạm phải trực tiếp giải trình, không chỉ lãnh đạo giải trình thay. Tổ chức đối thoại công khai giữa cơ quan tư pháp và công dân trong một số vụ án điển hình.
Trách nhiệm giải trình cá nhân của thẩm phán và lãnh đạo Tòa án là cơ chế quan trọng nhằm ngăn ngừa việc sử dụng quyền lực xét xử một cách tùy tiện, qua đó bảo vệ quyền con người trước nguy cơ bị xâm phạm bởi quyền lực tư pháp.
Năm là, xây dựng văn hóa liêm chính
Xây dựng văn hóa liêm chính là giải pháp mang tính nền tảng, lâu dài để bảo đảm liêm chính tư pháp. Nếu giám sát và chế tài là “ngoại lực”, thì văn hóa liêm chính chính là “nội lực” tự điều chỉnh hành vi của cán bộ tư pháp. Xây dựng văn hóa liêm chính trong tư pháp không chỉ dừng lại ở ban hành quy tắc hay giám sát từ bên ngoài, mà quan trọng hơn là hình thành chuẩn mực ứng xử tự thân trong từng cán bộ, từ lãnh đạo đến nhân viên. Khi văn hóa liêm chính trở thành giá trị cốt lõi, nó sẽ tự động hóa hành vi, giảm thiểu vi phạm, và tạo dựng niềm tin bền vững vào công lý.
Trong thời gian tới, Tòa án nhân dân tối cao cần tiếp tục tổ chức các khóa bồi dưỡng định kỳ về liêm chính và phòng, chống tham nhũng trong tư pháp, cập nhật tình huống thực tiễn để nâng cao khả năng ứng xử. Xây dựng cơ chế sát hạch đạo đức nghề nghiệp song song với sát hạch chuyên môn trong bổ nhiệm, tái bổ nhiệm thẩm phán và thẩm tra viên, thư ký tòa án.
Tiếp tục cụ thể hóa Bộ quy tắc ứng xử và chuẩn mực đạo đức thẩm phán, biến nó thành công cụ ràng buộc trong đánh giá công tác. Phổ biến rộng rãi quy tắc này không chỉ trong nội bộ ngành, mà còn tới công chúng để xã hội cùng giám sát. Xây dựng các tình huống điển hình về hành vi chuẩn mực và phi chuẩn mực, để cán bộ có cơ sở tự soi chiếu.
Xây dựng môi trường làm việc minh bạch, gương mẫu từ lãnh đạo. Lãnh đạo cơ quan tư pháp phải làm gương trong minh bạch tài sản, trách nhiệm giải trình, ứng xử chuẩn mực. Thực hiện cơ chế “nêu gương”: lãnh đạo đi đầu trong việc tuân thủ liêm chính, từ đó tạo sức lan tỏa trong toàn ngành. Khuyến khích văn hóa phản biện nội bộ, để cán bộ trẻ có thể góp ý, phát hiện sai phạm mà không lo sợ bị trù dập.
Tạo động lực để cán bộ tư pháp “dám nói không” với tiêu cực, bằng cách gắn liêm chính với cơ hội thăng tiến. Phát động các phong trào thi đua về liêm chính tư pháp, lấy tiêu chí “không có cán bộ vi phạm đạo đức” làm chuẩn mực. Lồng ghép việc phòng, chống tham nhũng vào quy trình làm việc thường ngày, không coi đó là nhiệm vụ riêng lẻ. Tổ chức diễn đàn, hội thảo về “văn hóa liêm chính” trong ngành tư pháp để trao đổi, học hỏi kinh nghiệm quốc tế.
3. Kết luận
Bảo vệ quyền con người thông qua hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân chỉ có thể đạt được khi liêm chính tư pháp được bảo đảm một cách thực chất và bền vững. Liêm chính không chỉ là chuẩn mực đạo đức mà còn là cơ chế thể chế hóa việc bảo vệ quyền con người trong Nhà nước pháp quyền. Việc hoàn thiện đồng bộ khung pháp lý, cơ chế giám sát, trách nhiệm giải trình và văn hóa liêm chính sẽ góp phần nâng cao chất lượng xét xử, củng cố niềm tin xã hội vào công lý và bảo đảm quyền con người ở Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới./.
---
Tài liệu tham khảo
Ban Chấp hành Trung ương. (2022). Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ 6 BCH Trung ương khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Tòa án nhân dân tối cao. (2021). Báo cáo Tòa án nhân dân tối cao tổng kết công tác năm 2021 và phương hướng nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2022 của các Tòa án.
Tòa án nhân dân tối cao. (2022). Báo cáo Tòa án nhân dân tối cao tổng kết công tác năm 2022 và phương hướng nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2023 của các Tòa án.
Tòa án nhân dân tối cao. (2023). Báo cáo Tòa án nhân dân tối cao tổng kết công tác năm 2023 và phương hướng nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2024 của các Tòa án.
Tòa án nhân dân tối cao. (2024). Báo cáo Tòa án nhân dân tối cao tổng kết công tác năm 2024 và phương hướng nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2025 của các Tòa án.
Tòa án nhân dân tối cao. (2025). Báo cáo của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về công tác của các Tòa án trong năm 2025 và nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV.