Bảo đảm quyền của đồng bào dân tộc thiểu số là một trong những trụ cột của chính sách dân tộc ở Việt Nam, đồng thời là biểu hiện cụ thể của việc hiện thực hóa quyền con người trong điều kiện một quốc gia đa dân tộc, đa văn hóa. Trên cơ sở hệ thống hóa và luận giải những nội dung cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người và quyền dân tộc, bài viết phân tích thực tiễn bảo đảm quyền của đồng bào dân tộc thiểu số tại tỉnh Cao Bằng. Từ đó, đề xuất các định hướng phát huy giá trị và vận dụng tư tưởng của Người nhằm nâng cao hiệu quả thực thi quyền của đồng bào các dân tộc thiểu số tỉnh Cao Bằng trong bối cảnh phát triển mới.

Ảnh minh họa. Nguồn: baocaobang.vn

Đặt vấn đề

Việt Nam là quốc gia thống nhất trong đa dạng với 54 dân tộc anh em cùng chung sống, trong đó các dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ đáng kể, phân bố chủ yếu ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa và địa bàn biên giới, những không gian có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về quốc phòng, an ninh, sinh thái và bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc. Trong cấu trúc phát triển chung của đất nước, đây vừa là địa bàn chiến lược, vừa là khu vực còn nhiều khó khăn, thách thức, đòi hỏi sự quan tâm đặc biệt trong hoạch định và tổ chức thực thi chính sách, nhất là trong bảo đảm quyền con người và quyền công dân.

Cao Bằng là một tỉnh miền núi biên giới phía Bắc, là điển hình tiêu biểu cho những đặc trưng đó, với trên 95% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số, chủ yếu gồm các dân tộc Tày, Nùng, Dao, Mông,... (Báo Cao Bằng điện tử, 2023). Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội, song do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, kết cấu hạ tầng còn hạn chế, chất lượng nguồn nhân lực chưa cao và sự phát triển chưa đồng đều giữa các vùng, việc bảo đảm đầy đủ, toàn diện các quyền cơ bản của người dân, đặc biệt là quyền phát triển, quyền tiếp cận dịch vụ công và quyền văn hóa, vẫn đang đặt ra những yêu cầu cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.

Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và quyền con người, với tư cách là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi đường lối, chính sách của Đảng, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Không chỉ cung cấp cơ sở lý luận vững chắc cho việc hoàn thiện thể chế và chính sách dân tộc, tư tưởng của Người còn định hướng phương thức tổ chức thực thi theo hướng lấy con người làm trung tâm, bảo đảm phát triển bao trùm, bền vững, qua đó góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tăng cường niềm tin của đồng bào các dân tộc thiểu số đối với Đảng và Nhà nước.

1. Những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo đảm quyền của đồng bào dân tộc thiểu số

Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo đảm quyền của đồng bào dân tộc thiểu số là một chỉnh thể lý luận thống nhất, gắn bó hữu cơ với hệ thống quan điểm của Người về quyền con người, về vấn đề dân tộc và về xây dựng Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Hệ thống quan điểm này được hình thành trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời kế thừa truyền thống nhân nghĩa, đoàn kết của dân tộc Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc các giá trị tiến bộ của văn hóa nhân loại. Trong đó, các luận điểm về bảo đảm quyền cho đồng bào dân tộc thiểu số không chỉ mang ý nghĩa định hướng chiến lược mà còn có giá trị chỉ dẫn thực tiễn sâu sắc đối với quá trình hoạch định và thực thi chính sách dân tộc ở Việt Nam hiện nay.

Trước hết, nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết và tương trợ giữa các dân tộc được Hồ Chí Minh xác lập như nền tảng chính trị và đạo lý của việc bảo đảm quyền. Người khẳng định rõ ràng rằng các dân tộc trong cộng đồng quốc gia Việt Nam đều có địa vị bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, tại Điều thứ 7, Chương 2 Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do Người làm trưởng ban biên soạn đã khẳng định: “Tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tuỳ theo tài năng và đức hạnh của mình” (Quốc hội, 1946). Trong Thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam năm 1946, Người khẳng định: "Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau” (Hồ Chí Minh toàn tập, 2002, t.4, tr.217); trong phát biểu tại Hội nghị phụ nữ miền núi ngày 19/3/1946, Người nói: “Từ ngày cách mạng thành công, kháng chiến thắng lợi, Đảng và Chính phủ đã làm cho gái, trai bình quyền, các dân tộc bình đẳng về chính trị, các dân tộc đều bình đẳng, dân chủ, đoàn kết” (Hồ Chí Minh toàn tập, 1995, t.11, tr.242). Quan điểm này cho thấy bình đẳng không chỉ dừng lại ở sự ghi nhận về mặt pháp lý mà còn là sự bình đẳng thực chất trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội. Trên cơ sở đó, đoàn kết và tương trợ được xem là cơ chế vận hành của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo ra sức mạnh tổng hợp để bảo đảm và hiện thực hóa các quyền. Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định rằng đoàn kết là một chính sách lâu dài, đồng thời là mục tiêu và động lực của sự phát triển.

Thứ hai, bảo đảm quyền phát triển toàn diện cho đồng bào dân tộc thiểu số là nội dung xuyên suốt trong tư tưởng của Người. Hồ Chí Minh luôn đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển, coi độc lập dân tộc phải gắn liền với tự do và hạnh phúc của nhân dân. Người từng khẳng định rằng “…nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì...” (Hồ Chí Minh toàn tập, 2011, t10, tr.593). Đối với đồng bào dân tộc thiểu số, quyền phát triển được hiểu theo nghĩa toàn diện, bao gồm phát triển kinh tế, nâng cao dân trí, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần. Trong nhiều bài nói và bài viết, Người khẳng định Đảng và Nhà nước phải có chính sách ưu tiên, hỗ trợ thiết thực để nâng cao đời sống của đồng bào vùng cao: “Anh em thiểu số chúng ta sẽ được: 1-Dân tộc bình đẳng: Chính phủ sẽ bãi bỏ hết những điều hủ tệ cũ, bao nhiêu bất bình đẳng trước sẽ sửa chữa đi. 2-Chính phủ sẽ gắng sức giúp cho các dân tộc thiểu số về mọi mặt: a) Về kinh tế, sẽ mở mang nông nghiệp cho các dân tộc được hưởng. b) Về văn hóa, Chính phủ sẽ chú ý trình độ học thức cho dân tộc. Các dân tộc được tự do bày tỏ nguyện vọng và phải cố gắng để cùng giành cho bằng được độc lập hoàn toàn, tự do và thái bình” (Hồ Chí Minh toàn tập, 2011 t.4, tr.130-131), đồng thời nhấn mạnh: “Chính sách của Đảng ta là làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi. Ngày nay chính sách đó đã bước đầu thực hiện” (Hồ Chí Minh toàn tập, 2011 t.14, tr.229). Đây không chỉ là một định hướng phát triển mà còn là một tiêu chí quan trọng để đánh giá mức độ bảo đảm quyền trên thực tế.

Thứ ba, tôn trọng và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc là một nội dung đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền của đồng bào dân tộc thiểu số. Người nhận thức sâu sắc rằng mỗi dân tộc đều có những giá trị văn hóa riêng, góp phần tạo nên sự phong phú và đa dạng của nền văn hóa Việt Nam. Do đó, việc bảo đảm quyền văn hóa không chỉ dừng lại ở việc bảo tồn các giá trị truyền thống mà còn phải tạo điều kiện để các giá trị đó được phát triển trong đời sống đương đại. Hồ Chí Minh từng căn dặn cán bộ khi công tác ở miền núi phải tôn trọng phong tục tập quán, học tiếng nói của đồng bào, bởi theo Người, hiểu dân thì mới làm tốt công tác dân vận: “Cán bộ đi làm việc chỗ nào, phải học tiếng ở đấy. Thí dụ: Các chú đi tuyên truyền ở nơi đồng bào Mèo, mà phải có một người phiên dịch thì không ăn thua. Bởi vì người phiên dịch ấy chưa chắc đã phiên dịch hết ý của chú, có khi phiên dịch lại sai đi nữa là khác. Cứ làm như thế cũng không gây được tình cảm thân thiết giữa cán bộ với quần chúng” (Hồ Chí Minh toàn tập, 2011, t.14, tr.168). Quan điểm này hàm chứa một cách tiếp cận tiến bộ, coi văn hóa không chỉ là đối tượng bảo vệ mà còn là nguồn lực nội sinh của phát triển.

Thứ tư, phát huy vai trò chủ thể của đồng bào dân tộc thiểu số trong quản lý và phát triển là một nguyên tắc có ý nghĩa phương pháp luận sâu sắc. Hồ Chí Minh luôn đề cao vai trò của nhân dân trong mọi quá trình cách mạng: “Gốc có vững cây mới bền,/ Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” (Hồ Chí Minh toàn tập, t. 5, tr.502), thể hiện tập trung qua phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Trong điều kiện vùng dân tộc thiểu số, nguyên tắc này càng có ý nghĩa quan trọng, bởi chỉ khi người dân thực sự tham gia vào quá trình hoạch định và thực thi chính sách thì các quyền mới được bảo đảm một cách thực chất và bền vững. Người nhấn mạnh rằng cán bộ phải gần dân, hiểu dân, tôn trọng dân và có trách nhiệm với dân, đồng thời phải chống tư tưởng bao biện làm thay hoặc áp đặt chủ quan. Điều đó cho thấy bảo đảm quyền không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà còn là quá trình tương tác hai chiều giữa Nhà nước và người dân, trong đó người dân giữ vai trò trung tâm.

Có thể khẳng định rằng, các luận điểm nêu trên cho thấy tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo đảm quyền của đồng bào dân tộc thiểu số là một hệ thống hoàn chỉnh, kết hợp chặt chẽ giữa tính nguyên tắc và giá trị chỉ dẫn thực tiễn sâu sắc. Những quan điểm này không chỉ đặt nền tảng cho việc hoạch định chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam mà còn tiếp tục giữ vai trò định hướng quan trọng trong bối cảnh hiện nay, khi yêu cầu bảo đảm quyền con người gắn với phát triển bền vững và bao trùm ngày càng trở nên cấp thiết.

2. Thực tiễn bảo đảm quyền của đồng bào dân tộc thiểu số ở Cao Bằng thời gian qua

Trong những năm gần đây, việc tổ chức thực hiện chính sách dân tộc tại tỉnh Cao Bằng đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, qua đó từng bước hiện thực hóa các quyền cơ bản của đồng bào dân tộc thiểu số trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa. Những kết quả này không chỉ phản ánh nỗ lực của hệ thống chính trị địa phương mà còn cho thấy hiệu quả của việc cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước trong điều kiện một tỉnh miền núi biên giới còn nhiều khó khăn.

Trên phương diện quyền kinh tế và sinh kế, các chương trình mục tiêu quốc gia, đặc biệt là Chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, đã tạo ra những chuyển biến rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh năm 2024 giảm 4,67%; toàn tỉnh giảm 6.065 hộ nghèo, đưa tỷ lệ hộ nghèo từ 24,71% xuống còn 20,04% vào cuối năm 2024. Tiến độ và chất lượng triển khai Chương trình hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát trên địa bàn tỉnh được đẩy mạnh, trong năm 2024 đã hỗ trợ 6.062 sửa chữa, xây mới nhà ở cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo, đạt tỷ lệ 85,06% chỉ tiêu giao (Cổng Thông tin điện tử tỉnh Cao Bằng, 2025). Kết cấu hạ tầng thiết yếu như giao thông nông thôn, điện lưới quốc gia, công trình thủy lợi và nước sinh hoạt từng bước được đầu tư đồng bộ, góp phần cải thiện điều kiện sản xuất và đời sống của người dân, tỉnh đã hỗ trợ sinh kế, chuyển đổi nghề cho 681 hộ; hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán cho 12.970 hộ; hoàn thành và bàn giao đưa vào sử dụng 53 công trình nước sinh hoạt tập trung; triển khai thực hiện 986 dự án/kế hoạch hỗ trợ phát triển sản xuất... từ đó, diện mạo vùng đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng khởi sắc, đời sống tinh thần được cải thiện rõ rệt (Cổng Thông tin điện tử tỉnh Cao Bằng, 2025). Nhiều mô hình sinh kế phù hợp với điều kiện địa phương đã được triển khai như phát triển cây dược liệu, chăn nuôi gia súc theo hướng hàng hóa, du lịch cộng đồng gắn với bản sắc văn hóa. Những kết quả này cho thấy quyền được phát triển và quyền tiếp cận các nguồn lực kinh tế của đồng bào dân tộc thiểu số từng bước được bảo đảm trên thực tế.

Trên phương diện quyền tiếp cận giáo dục và y tế, hệ thống dịch vụ công cơ bản đã được mở rộng đáng kể. Theo số liệu của tỉnh Cao Bằng, tỷ lệ học sinh học mẫu giáo 5 tuổi được đến trường đạt trên 98%; trong độ tuổi Tiểu học đạt trên 97%; độ tuổi học Trung học cơ sở đạt trên 95%; 50% lao động trong độ tuổi được đào tạo nghề phù hợp với nhu cầu, điều kiện của người dân tộc thiểu số và đặc thù vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (Cổng Thông tin điện tử tỉnh Cao Bằng, 2025). Chính sách hỗ trợ học sinh bán trú, nội trú, chính sách cử tuyển và miễn giảm học phí đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao dân trí và tạo nguồn nhân lực tại chỗ, học sinh các dân tộc thiểu số được học tập tiếng mẹ đẻ của mình trong chương trình giáo dục theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, bên cạnh đó, tỉnh cũng tổ chức các hoạt động nhằm khuyến khích, bảo tồn phát huy tiếng nói, chữ viết của đồng bào như Cuộc thi “Bảo tồn tiếng dân tộc Tày, Nùng cho học sinh Trung học cơ sở, Trung học phổ thông trong vùng Công viên địa chất Non nước Cao Bằng" do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh tổ chức tháng 3 năm 2025. Trong lĩnh vực y tế, mạng lưới cơ sở khám chữa bệnh được phủ rộng đến cấp xã, 100% trạm y tế được xây dựng kiên cố (Cổng Thông tin điện tử tỉnh Cao Bằng, 2025), trong đó phần lớn đạt chuẩn quốc gia về y tế cơ sở. Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế thuộc nhóm cao của cả nước; công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu, phòng chống dịch bệnh và nâng cao thể trạng người dân từng bước được cải thiện, qua đó góp phần bảo đảm quyền được chăm sóc sức khỏe của đồng bào dân tộc thiểu số. Trong lĩnh vực dịch vụ công, công tác chuyển đổi số được tỉnh tập trung đẩy mạnh trên cả 03 trụ cột: chính quyền số, kinh tế số, xã hội số, bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tiễn của tỉnh, giúp người dân được tiếp cận và hỗ trợ một cách hiệu quả. Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tỉnh đang cung cấp 1.603 dịch vụ công trực tuyến toàn trình và dịch vụ công trực tuyến một phần, tỷ lệ nộp hồ sơ trực tuyến đạt 75,01%; tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến có giao dịch thanh toán trực tuyến đạt 53,39%; tỷ lệ số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính đạt 83,30%. Kinh tế số, xã hội số có sự phát triển, chuyển dịch. Tổng số doanh nghiệp nộp thuế điện tử đạt 99,26%. Tỷ lệ người dân từ 15 tuổi trở lên có tài khoản giao dịch tại ngân hàng hoặc các tổ chức được phép khác đạt 80%; tỷ lệ dân số có hồ sơ sức khỏe điện tử đạt 98% (Cổng Thông tin điện tử tỉnh Cao Bằng, 2025).

Trên phương diện quyền văn hóa, tỉnh Cao Bằng đã có nhiều nỗ lực trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc, theo số liệu năm 2023, toàn tỉnh có 2.000 di sản văn hóa phi vật thể, trong đó có 6 di sản được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, gồm: Nghi lễ Then của người Tày, Lễ hội Nàng Hai xã Tiên Thành (Quảng Hòa), nghề rèn truyền thống của người Nùng An xã Phúc Sen (Quảng Hòa), Lễ hội Tranh đầu pháo thị trấn Quảng Uyên (Quảng Hòa), Nghệ thuật trang trí hoa văn trên trang phục của người Dao Đỏ (Nguyên Bình), Lượn Cọi dân tộc Tày (Bảo Lâm). Đặc biệt, di sản thực hành Then Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam (trong đó có Nghi lễ Then Tày tỉnh Cao Bằng) được UNESCO đưa vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại (Báo Cao Bằng điện tử, 2023) tạo cơ hội quan trọng để quảng bá và phát huy giá trị văn hóa trong bối cảnh hội nhập. Tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 1216/KH-UBND ngày 19/5/2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh triển khai thực hiện Đề án “Bảo tồn, phát huy giá trị dân ca, dân vũ, dân nhạc các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch giai đoạn 2022-2030 trên địa bàn tỉnh Cao Bằng; Kế hoạch số 2820/KH-UBND ngày 13/10/2023 của Ủy ban nhân dân tỉnh về triển khai thực hiện Đề án “Bảo tồn, phát huy giá trị văn học dân gian của các dân tộc thiểu số đến năm 2030” trên địa bàn tỉnh Cao Bằng, trên cơ sở đó, nhiều lễ hội truyền thống, làn điệu dân ca, nghề thủ công được phục dựng và gắn với phát triển du lịch, đặc biệt tại các địa bàn như Trùng Khánh, Hòa An, Quảng Hòa. Tỉnh đã tổ chức thành công nhiều sự kiện văn hóa, du lịch lớn quy mô khu vực và quốc tế, nổi bật là Hội nghị quốc tế lần thứ 8 của Mạng lưới Công viên địa chất toàn cầu UNESCO khu vực châu Á - Thái Bình Dương; Lễ vận hành chính thức Khu cảnh quan thác Bản Giốc (Việt Nam) - Đức Thiên (Trung Quốc)... góp phần ghi dấu và lan tỏa những hình ảnh đẹp về non nước Cao Bằng, con người và văn hóa, lịch sử Cao Bằng đến với bạn bè trong nước và quốc tế (Cổng Thông tin điện tử tỉnh Cao Bằng, 2025). Số lượng khách du lịch đến Cao Bằng tăng trưởng khá, tổng lượt khách du lịch đến Cao Bằng năm 2025 đạt 2,45 triệu lượt, tăng 40,4% so với cùng kỳ, đạt 97,9% kế hoạch; tổng thu du lịch đạt 2.430 tỷ đồng, tăng 76,2% so với cùng kỳ, đạt 121,5 % kế hoạch; công suất sử dụng phòng đạt 42% (Báo Cao Bằng điện tử, 2025), góp phần tạo sinh kế và nâng cao thu nhập cho người dân. Điều này cho thấy quyền hưởng thụ và sáng tạo văn hóa của đồng bào không chỉ được bảo đảm mà còn được chuyển hóa thành nguồn lực phát triển.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn bảo đảm quyền của đồng bào dân tộc thiểu số tại Cao Bằng vẫn còn bộc lộ một số hạn chế: Khoảng cách phát triển giữa các vùng, đặc biệt giữa khu vực trung tâm và các xã vùng sâu vùng xa, vẫn còn đáng kể. Tỷ lệ hộ nghèo ở một số địa phương như Bảo Lạc, Bảo Lâm vẫn ở mức cao so với mặt bằng chung của tỉnh. Chất lượng tiếp cận dịch vụ công tuy đã được cải thiện nhưng chưa đồng đều, nhất là trong lĩnh vực giáo dục chất lượng cao và dịch vụ y tế chuyên sâu. Một số chính sách còn mang tính bình quân, chưa thật sự phù hợp với đặc thù đa dạng về điều kiện tự nhiên, văn hóa và trình độ phát triển của từng nhóm dân tộc. Đáng chú ý, vai trò chủ thể của người dân trong một số chương trình phát triển chưa được phát huy đầy đủ, vẫn còn biểu hiện phụ thuộc vào hỗ trợ từ Nhà nước, làm giảm tính bền vững của kết quả đạt được.

Những hạn chế nêu trên đặt ra yêu cầu cần tiếp tục đổi mới cách tiếp cận trong bảo đảm quyền của đồng bào dân tộc thiểu số theo hướng phát triển bao trùm, lấy người dân làm trung tâm và chủ thể của quá trình phát triển. Điều này đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và phát huy nội lực của cộng đồng, qua đó bảo đảm các quyền không chỉ được ghi nhận trên phương diện chính sách mà còn được hiện thực hóa một cách thực chất và bền vững trong đời sống xã hội.

3. Phát huy giá trị và tăng cường vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong bảo đảm quyền của đồng bào dân tộc thiểu số ở Cao Bằng thời gian tới

Trên cơ sở những luận điểm cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng, đoàn kết, phát triển toàn diện và phát huy vai trò chủ thể của nhân dân, việc nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền của đồng bào dân tộc thiểu số ở Cao Bằng trong thời gian tới cần được triển khai theo một hệ thống giải pháp đồng bộ, có tính khả thi cao và gắn chặt với điều kiện thực tiễn của địa phương. Các giải pháp không chỉ nhằm khắc phục những hạn chế đã được nhận diện mà còn hướng tới xây dựng nền tảng phát triển bền vững, bảo đảm các quyền được hiện thực hóa một cách toàn diện.

Một là, cần quán triệt và thể chế hóa nguyên tắc bình đẳng thực chất gắn với phát triển bao trùm trong phân bổ và sử dụng nguồn lực. Trên cơ sở các chỉ số nghèo đa chiều và mức độ thiếu hụt dịch vụ cơ bản, tỉnh cần tiếp tục ưu tiên nguồn lực cho các địa bàn đặc biệt khó khăn, nhất là các địa phương vùng cao còn tỷ lệ hộ nghèo lớn. Việc phân bổ ngân sách cần đi đôi với tăng cường cơ chế giám sát, đánh giá hiệu quả đầu tư công, bảo đảm tính minh bạch và hướng tới thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, các nhóm dân cư. Đây là điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa bình đẳng không chỉ về mặt pháp lý mà còn trong thực tiễn tiếp cận cơ hội phát triển.

Hai là, cần cụ thể hóa quan điểm lấy người dân làm trung tâm và chủ thể của quá trình phát triển thông qua việc mở rộng các thiết chế dân chủ ở cơ sở. Trong quá trình xây dựng và triển khai các chương trình phát triển, đặc biệt là các chương trình mục tiêu quốc gia, phải bảo đảm sự tham gia thực chất của đồng bào dân tộc thiểu số từ khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện đến giám sát và đánh giá. Việc phát huy vai trò của các tổ chức cộng đồng, hợp tác xã, tổ nhóm sản xuất và người có uy tín trong thôn bản sẽ góp phần nâng cao hiệu quả thực thi chính sách, đồng thời củng cố niềm tin và trách nhiệm xã hội của người dân.

Ba là, gắn bảo đảm quyền với bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cần được xác định là một hướng đi chiến lược. Cao Bằng có nhiều lợi thế về di sản văn hóa và cảnh quan thiên nhiên, do đó cần đẩy mạnh phát triển các mô hình kinh tế dựa trên tri thức bản địa như du lịch cộng đồng, sản xuất sản phẩm truyền thống, xây dựng thương hiệu văn hóa địa phương. Cùng với đó, cần tăng cường đào tạo kỹ năng quản lý, kinh doanh và chuyển đổi số cho người dân, đặc biệt là thanh niên và phụ nữ dân tộc thiểu số, nhằm chuyển hóa nguồn lực văn hóa thành động lực phát triển kinh tế bền vững.

Bốn là, nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước giữ vai trò then chốt trong bảo đảm quyền. Cần tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có năng lực chuyên môn, am hiểu phong tục tập quán và có khả năng vận động quần chúng, trong đó chú trọng phát triển cán bộ là người dân tộc thiểu số. Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính theo hướng đơn giản hóa thủ tục, tăng cường ứng dụng công nghệ số trong cung cấp dịch vụ công, nhất là trong các lĩnh vực thiết yếu như giáo dục, y tế và an sinh xã hội. Việc phát triển hạ tầng số và nâng cao năng lực tiếp cận công nghệ cho người dân vùng sâu vùng xa sẽ góp phần thu hẹp khoảng cách trong tiếp cận dịch vụ công.

Năm là, tăng cường giáo dục pháp luật về quyền con người cho các tầng lớp nhân dân cần được coi là giải pháp nền tảng nhằm bảo đảm quyền được thực thi một cách bền vững. Nội dung giáo dục pháp luật cần tập trung vào các quyền gắn với đời sống hằng ngày của đồng bào như quyền tiếp cận đất đai, giáo dục, y tế, an sinh xã hội và bình đẳng giới, đồng thời được truyền tải bằng hình thức phù hợp với đặc điểm văn hóa và trình độ nhận thức của từng nhóm dân cư. Cần phát huy vai trò của đội ngũ tuyên truyền viên pháp luật tại cơ sở, đặc biệt là người có uy tín trong cộng đồng, kết hợp với việc sử dụng các phương tiện truyền thông bằng tiếng dân tộc và ứng dụng công nghệ số để mở rộng phạm vi tiếp cận. Việc nâng cao nhận thức pháp luật không chỉ giúp người dân chủ động bảo vệ quyền lợi chính đáng mà còn tạo điều kiện để họ tham gia hiệu quả hơn vào quá trình quản lý xã hội.

Sáu là, củng cố nền tảng tư tưởng và tăng cường đồng thuận xã hội cần được triển khai đồng bộ với các giải pháp phát triển kinh tế xã hội. Việc chủ động đấu tranh với các luận điệu sai trái, xuyên tạc chính sách dân tộc phải gắn với nâng cao chất lượng thông tin truyền thông và lan tỏa các giá trị tích cực từ thực tiễn phát triển. Phát huy vai trò của hệ thống chính trị cơ sở, của già làng, trưởng bản và người có uy tín trong việc định hướng dư luận, củng cố niềm tin của đồng bào đối với Đảng và Nhà nước là yếu tố có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đồng thời, cần đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh như một nội dung xuyên suốt trong công tác tư tưởng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số; gắn việc học tập với thực tiễn đời sống và nhiệm vụ phát triển địa phương. Việc kịp thời phát hiện, biểu dương và nhân rộng các tấm gương điển hình trong học tập và làm theo lời Bác sẽ góp phần tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực, củng cố niềm tin xã hội, từ đó tăng cường sự đồng thuận và phát huy nội lực trong cộng đồng các dân tộc.

Các giải pháp nêu trên góp phần vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của Cao Bằng, bảo đảm sự thống nhất giữa mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội với yêu cầu bảo đảm quyền con người. Khi các nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng văn hóa và phát huy vai trò chủ thể của người dân được triển khai một cách đồng bộ và hiệu quả, việc bảo đảm quyền của đồng bào dân tộc thiểu số sẽ đạt được những chuyển biến rõ nét, góp phần xây dựng tỉnh Cao Bằng phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.

Kết luận

Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo đảm quyền của đồng bào dân tộc thiểu số là hệ thống quan điểm có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, vừa mang tính nguyên tắc vừa định hướng hành động. Thực tiễn tại Cao Bằng cho thấy việc vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người đã góp phần cải thiện đời sống, từng bước bảo đảm các quyền cơ bản của đồng bào trên nhiều lĩnh vực. Trong bối cảnh phát triển mới, yêu cầu đặt ra là phải tiếp cận vấn đề theo hướng toàn diện và hiện đại hơn, không chỉ dừng ở hoàn thiện chính sách mà còn đổi mới tư duy quản lý, nâng cao năng lực thực thi và phát huy vai trò chủ thể của người dân. Đây là điều kiện then chốt để chuyển hóa các chủ trương thành kết quả thực chất. Chỉ khi bảo đảm sự gắn kết giữa chính sách, thực thi và sự tham gia của người dân, mục tiêu phát triển bao trùm và bền vững mới trở thành hiện thực, đúng với tinh thần nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh./.

ThS. Trần Toàn Trung

Viện Quyền con người, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

ThS. Nguyễn Thị Tuyết Dịu

Vụ Quản lý đào tạo, bồi dưỡng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Hoàng Minh Tuấn

Sinh viên lớp Xây dựng Đảng K42A1, Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Tài liệu tham khảo:

Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. (1946). Hiến pháp năm 1946.

Hồ Chí Minh. (2022). Toàn tập. Hà Nội: Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

Hồ Chí Minh. (1995). Toàn tập. Hà Nội: Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

Hồ Chí Minh. (2011). Toàn tập. Hà Nội: Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

Cổng Thông tin điện tử tỉnh Cao Bằng. (2025). UBND tỉnh: Họp báo và gặp mặt báo chí thông tin về kết quả phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Cao Bằng năm 2024. Truy cập tại https://caobang.gov.vn/van-hoaxa-hoi/ubnd-tinh-hop-bao-va-gap-mat-bao-chi-thong-tin-ve-ket-qua-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-tinh-cao-ban-1004710 ngày 15/3/2026.

Cổng Thông tin điện tử tỉnh Cao Bằng. (2025). Hiệu quả từ Chương trình mục tiêu quốc gia ở Cao Bằng. Kỳ 2: Giảm nghèo bền vững – từ ý chí người dân và nguồn lực Nhà nước. Truy cập tại https://caobang.gov.vn/dua-nghi-quyet-dai-hoi-dang-vao-cuoc-song/hieu-qua-tu-chuong-trinh-muc-tieu-quoc-gia-o-cao-bang-ky-2-giam-ngheo-ben-vung-tu-y-chi-nguoi-da-1032969 ngày 15/3/2026.

Báo Cao Bằng điện tử. (2023). Bảo tồn giá trị văn hóa gắn với phát triển du lịch. Truy cập tại https://baocaobang.vn/Bao-ton-gia-tri-van-hoa-gan-voi-phat-trien-du-lich-45530.html ngày 10/3/2026.

Báo Cao Bằng điện tử. (2023). Tổng lượt khách du lịch đến Cao Bằng tăng 40,4%. Truy cập tại https://baocaobang.vn/tong-luot-khach-du-lich-den-cao-bang-tang-40-4-3183007.html ngày 10/3/2026.