Ảnh minh họa. Nguồn: chinhphu.vn.

Tóm tắt: Dân chủ là mục tiêu quan trọng hàng đầu của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam. Ngay sau khi giành được chính quyền, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta bắt tay vào xây dựng chế độ dân chủ, mở rộng quyền con người, quyền công dân. Đặc biệt, Quốc hội đã ban hành Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở, nên quyền con người, quyền công dân ngày càng được bảo đảm góp phần vào công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Từ khoá: Dân chủ; dân chủ ở cơ sở; quyền con người; quyền công dân; pháp luật về thực hiện dân chủ.

Abtract: Democracy is a top priority for the Party, the State, and the people throughout the entire Vietnamese revolutionary process. Immediately after seizing power, the Party, the State, and the people began building a democratic regime, expanding human rights and civil rights. In particular, the National Assembly enacted the Law on Implementing Democracy at the Grassroots Level, thus ensuring human rights and civil rights, contributing to the construction of a socialist rule of law state in Vietnam.

Keywords: Democracy; grassroots democracy; human rights; civil rights; law on implementing democracy.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, dưới ánh sáng dẫn đường của học thuyết Mác-Lênin, chính quyền cách mạng và Nhân dân Việt Nam đã xoá bỏ chế độ vua quan phong kiến từng tồn tại lâu dài trong lịch sử đất nước để lập ra nền dân chủ mang tên Việt Nam Dân chủ cộng hòa, nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Dưới góc độ nhận thức lý luận về nhà nước và pháp luật, nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa là dấu mốc lịch sử đầu tiên ghi nhận, khẳng định khát vọng, quyết tâm thiết lập nền dân chủ nhân dân trên lãnh thổ Việt Nam. Điều đó ngày càng được minh chứng trên tất cả các mặt hoạt động của bộ máy nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa trước đây và nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày nay.

Các Hiến pháp của Việt Nam - từ Hiến pháp năm 1946 đến nay, tuy diễn đạt khác nhau, nhưng đều thống nhất: tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về Nhân dân (Quốc hội, 1946, Điều 1; 1959, Điều 4; 1980, Điều 6; 1992, Điều 2; 2013, khoản 2, Điều 2). Nhà nước Việt Nam là của Nhân dân Việt Nam chứ không phải của bất kỳ một thế lực nào khác, do Nhân dân Việt Nam thiết lập nên và hoạt động vì quyền, lợi ích của Nhân dân Việt Nam.

Hơn 80 năm qua, kể từ ngày chính quyền về tay Nhân dân, trên cơ sở quy định trong các bản Hiến pháp, hệ thống thể chế pháp lý Việt Nam từng bước hoàn thiện chế định dân chủ. Quyền làm chủ của người dân ngày càng được mở rộng, cụ thể hơn; trình tự, thủ tục thực hiện các quyền, lợi ích của người dân cũng ngày càng được quy định rõ hơn.

Đặc biệt, sau khi Chỉ thị 30-CT/TW ngày 18/2/1998 của Bộ Chính trị (khóa VIII) về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở ra đời, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã nỗ lực ban hành các văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) thể chế hóa những quan điểm, chủ trương của Đảng về dân chủ và dân chủ hóa trong đời sống xã hội, cũng như trong hoạt động của Nhà nước, từng bước hình thành một hệ thống quy định pháp luật về thực hiện dân chủ. Trước hết là Nghị quyết 55/NQ-UBTVQH10 ngày 30/8/1998 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) khóa X về việc Ban hành Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan. Sau đó, ngày 8/9/1998, Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động cơ quan, mà thực chất là thực hiện dân chủ (THDC) trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương đến cấp huyện được ban hành kèm theo Nghị định 71/1998/NĐ-CP của Chính phủ; ngày 11/11/1998 Thủ tướng ban hành Chỉ thị 38/1998/CT-TTg về triển khai Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động cơ quan; ngày 4/12/1998, Ban Tổ chức-Cán bộ Chính phủ và Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam đã ban hành Thông tư liên tịch số 09/1998/TTLT-TCCP-LĐLĐ hướng dẫn về tổ chức và nội dung hội nghị cán bộ trong cơ quan; ngày 5/12/1998 Ban Tổ chức-Cán bộ Chính phủ ban hành quyết định số 11/1998/QĐ-TCCP-CCVC kèm theo Quy chế đánh giá công chức hàng năm. Có thể nói, Chỉ thị 30-CT/TW của Bộ Chính trị là cơ sở chính trị cho sự ra đời và là động lực thúc đẩy các văn bản quy phạm pháp luật chuyên biệt về THDC trong hoạt động của các loại hình cơ sở phát triển.

Sau hơn 3 năm thực hiện Chỉ thị 30-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa VIII), ngày 28/3/2002 Ban Bí thư (khóa IX) ban hành Chỉ thị 10-CT/TW về tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở (Chỉ thị 10-CT/TW của Ban Bí thư khóa IX). Từ đó, các văn bản QPPL của các cơ quan nhà nước tiếp tục thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng về THDC trong hoạt động của cơ quan nhà nước, như: Luật Giao dịch điện tử; Luật Khiếu nại; Luật tố cáo; Luật Phòng chống tham nhũng; Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Luật Đầu tư công; Luật Cán bộ, công chức; Luật Viên chức,... Tiếp đến, ngày 9/1/2015 Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định số 04/2015/NĐ-CP về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập (gọi tắt là Nghị định số 4/2015/NĐ-CP của Chính phủ) thay thế Nghị định số 71/1998/NĐ-CP của Chính phủ về ban hành Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động cơ quan.

Quán triệt các quan điểm của Đảng về phát huy dân chủ XHCN, kế thừa những giá trị tiến bộ trong các quy định về dân chủ trước đó, Hiến pháp năm 2013 thể hiện nhận thức sâu sắc, đầy đủ hơn về dân chủ và thực hiện dân chủ, từ đó đã bổ sung những nội dung mới liên quan đến quyền cơ bản của công dân, quy định cụ thể hơn quyền con người. Chẳng hạn, Hiến pháp đã bổ sung: quyền được bảo đảm an sinh xã hội (Điều 34); quyền được hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa (Điều 41); có quyền xác định dân tộc, dùng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp (Điều 42); được sống trong môi trường trong lành (Điều 43); tiếp cận thông tin (Điều 25)... Vừa mở rộng quyền công dân, vừa quy định cơ chế để Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình, Hiến pháp ghi nhận, quy định Nhân dân không chỉ sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân như trước đây, mà còn quy định cụ thể Nhân dân thực hiện quyền đó bằng cả dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện thông qua các cơ quan khác của Nhà nước (Điều 6). Hiến pháp năm 2013 cũng đã quy định quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế bằng luật, trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng (Điều 14),...

Cùng với việc kế thừa, bổ sung nội dung quyền con người, quyền công dân, Hiến pháp năm 2013 cũng đề cao trách nhiệm của Nhà nước đối với các quyền này. Hiến pháp quy định: Nhà nước công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân (Điều 3); có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp (Điều 2) để bảo đảm quyền lực Nhà nước (quyền lực Nhân dân) không bị tha hóa,...

Sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã xây dựng, ban hành các văn bản QPPL thể chế hóa các quy định của Hiến pháp, trong đó việc ban hành các quy định pháp luật về THDC trong hoạt động của cơ quan nhà nước, như: Luật Tiếp công dân; Luật Tổ chức chính phủ; Luật Tổ chức chính quyền địa phương... Đặc biệt, ngày 10/11/2022, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật số: 10/2022/QH15 quy định về Thực hiện dân chủ ở cơ sở (sau đậy gọi là Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở) có hiệu lực từ ngày 01/7/2023. Đây là đạo luật chuyên biệt đầu tiên quy định về vấn đề THDC ở cơ sở, đánh dấu một bước tiến lớn, quan trọng trong hoàn thiện hệ thống thể chế pháp lý về THDC ở cơ sở ở Việt Nam. Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở gồm 06 Chương, 91 Điều, trong đó tập trung quy định về các nội dung cơ bản: 

Một là, những quy định chung: Luật quy định về các vấn đề chung, như: phạm vi điều chỉnh của Luật, giải thích từ ngữ, nguyên tắc, phạm vi THDC ở cơ sở, quyền và nghĩa vụ của công dân trong THDC ở cơ sở, quyền thụ hưởng của Nhân dân, các biện pháp bảo đảm, các hành vi bị nghiêm cấm và việc xử lý vi phạm pháp luật về THDC ở cơ sở. Bên cạnh việc kế thừa các quy định của pháp luật hiện hành về THDC ở cơ sở, Luật quy định cụ thể, rõ hơn về phạm vi điều chỉnh, cách thức THDC ở cơ sở, quyền và nghĩa vụ của công dân trong THDC ở cơ sở, trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân trong việc bảo đảm THDC ở cơ sở, khái niệm “cơ sở”,…

Hai là, quy định vềề  thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn được Luật trình bày trong 04 mục với các nội dung cơ bản:

Thứ nhất, công khai thông tin ở xã, phường, thị trấn (từ Điều 11 đến Điều 14), bao gồm các quy định về: (1) Những nội dung chính quyền địa phương cấp xã phải công khai; (2) Hình thức và thời điểm công khai thông tin; (3) Trách nhiệm của Ủy ban Nhân dân cấp xã, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp xã trong tổ chức thực hiện công khai thông tin.

Thứ hai, về các vấn đề Nhân dân bàn và quyết định, Luật đã quy định 5 nhóm nội dung cơ bản: (1) Những nội dung Nhân dân bàn và quyết định; (2) việc đề xuất những nội dung để Nhân dân bàn và quyết định (trong đó quy định về: thẩm quyền đề xuất các nội dung có phạm vi thực hiện trên địa bàn cấp xã; các nội dung có phạm vi thực hiện trên địa bàn thôn, tổ dân phố; và quy định về vấn đề sáng kiến công dân); (3) hình thức Nhân dân bàn và quyết định; (4) quyết định của cộng đồng dân cư; (5) trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã, Mặt trận Tổ quốc cấp xã, Trưởng thôn, Tổ trưởng Tổ dân phố và Nhân dân trong việc tổ chức bàn, quyết định, thực hiện quyết định của cộng đồng dân cư.

- Đối với những nội dung Nhân dân bàn và quyết định, gồm 06 nội dung: Thứ nhất, chủ trương và mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình công cộng trong phạm vi địa bàn cấp xã, ở thôn, tổ dân phố do Nhân dân đóng góp toàn bộ hoặc một phần kinh phí, tài sản, công sức. Thứ hai, việc thu, chi, quản lý các khoản đóng góp của Nhân dân tại cộng đồng dân cư (ngoài các khoản đã được pháp luật quy định); việc thu, chi, quản lý các khoản kinh phí, tài sản do cộng đồng dân cư được giao quản lý hoặc được tiếp nhận từ các nguồn thu, tài trợ, ủng hộ hợp pháp khác. Thứ ba, nội dung hương ước, quy ước của cộng đồng dân cư. Thứ tư, bầu, cho thôi làm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố. Thứ năm, bầu, cho thôi làm thành viên Ban Thanh tra Nhân dân, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng. Thứ sáu, các công việc tự quản khác trong nội bộ cộng đồng dân cư không trái với quy định của pháp luật, phù hợp với thuần phong, mỹ tục và đạo đức xã hội. Hơn thế, Luật còn quy định về việc đề xuất nội dung để Nhân dân bàn và quyết định.

- Về hình thức Nhân dân bàn và quyết định, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở quy định, tùy theo nội dung được đề xuất, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố tổ chức để Nhân dân ở thôn, tổ dân phố bàn và quyết định bằng một trong các hình thức: (1) Tổ chức cuộc họp của cộng đồng dân cư; (2) Phát phiếu lấy ý kiến của từng hộ gia đình; (3) Biểu quyết trực tuyến phù hợp với mức độ ứng dụng công nghệ thông tin và được cộng đồng dân cư thống nhất lựa chọn.

- Về quyết định của cộng đồng dân cư, đây là một nội dung mới quy định về giá trị của những nội dung mà Nhân dân đã bàn và quyết định. Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở quy định cụ thể về hình thức, nội dung, hiệu lực, việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ quyết định của cộng đồng dân cư.

Ngoài ra, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở cũng đã quy định trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố trong tổ chức để Nhân dân bàn, quyết định và thực hiện quyết định của cộng đồng dân cư và trách nhiệm của Nhân dân trong tham gia bàn, quyết định các nội dung, công việc ở cơ sở.

Thứ ba, vấn đề Nhân dân tham gia ý kiến, gồm: (1) Những nội dung Nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định; (2) hình thức Nhân dân tham gia ý kiến; (3) việc tổ chức đối thoại, lấy ý kiến công dân (là đối tượng thi hành) trong trường hợp Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành quyết định hành chính có nội dung xác lập nghĩa vụ hoặc làm chấm dứt, hạn chế quyền, lợi ích của họ; (4) trách nhiệm của các chủ thể có liên quan trong tổ chức để Nhân dân tham gia ý kiến.

Thứ tư, việc Nhân dân kiểm tra, giám sát, Luật đã quy định: (1) Nội dung, hình thức kiểm tra, giám sát; (2) các nội dung cơ bản về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân cấp xã; (3) các nội dung cơ bản về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và hoạt động của Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng. So với các quy định trước kia, đây là những quy định hoàn toàn mới, trong đó quy định cụ thể về: nội dung kiểm tra, giám sát; hình thức kiểm tra, giám sát; việc xử lý đối với kết quả kiểm tra, giám sát của Nhân dân và trách nhiệm bảo đảm để Nhân dân kiểm tra, giám sát của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan bảo đảm tính hiệu quả, khả thi của các quy định.

- Về Thanh tra Nhân dân, Luật đã kế thừa các quy định pháp luật trước đây, quy định rõ các vấn đề: tổ chức, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn, hoạt động của Ban Thanh tra Nhân dân và trách nhiệm trong việc bảo đảm hoạt động của Ban Thanh tra Nhân dân ở xã, phường, thị trấn.

- Về Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng, Luật đã quy định cụ thể về tổ chức, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn, hoạt động của Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng và trách nhiệm trong việc bảo đảm hoạt động của Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng.

Ba là, quy định về thực hiện dân chủ trong cơ quan, đơn vị: Về vấn đề này, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở đã quy định 4 nhóm nội dung cơ bản.

Thứ nhất, việc công khai thông tin ở cơ quan, đơn vị, Luật đã quy định về: (1) Những nội dung người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải công khai; (2) hình thức và thời điểm công khai thông tin ở cơ quan, đơn vị; (3) trách nhiệm tổ chức thực hiện việc công khai thông tin ở cơ quan, đơn vị.

So với quy định của pháp luật trước đây, Luật đã quy định cụ thể, chi tiết hơn đối với 12 nội dung người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải công khai; bổ sung thêm các hình thức công khai thông tin mới, phù hợp với điều kiện thực tiễn tại cơ quan, đơn vị và quy định rõ trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, người đứng đầu trong công khai thông tin tại cơ quan, đơn vị.

Thứ hai, vấn đề cán bộ, công chức, viên chức, người lao động bàn và quyết định. Về vấn đề này, Luật đã quy định: (1) những nội dung cán bộ, công chức, viên chức, người lao động bàn và quyết định; (2) hình thức cán bộ, công chức, viên chức, người lao động bàn và quyết định; (3) việc tổ chức hội nghị cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, như thời gian, thành phần, nội dung, trình tự, thủ tục của hội nghị…; (4) trách nhiệm tổ chức để cán bộ, công chức, viên chức, người lao động bàn, quyết định và thực hiện quyết định của tập thể cán bộ, công chức, viên chức, người lao động.

So với pháp luật trước kia, đây là một nội dung mới quy định sự tham gia sâu, rộng hơn của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động vào công việc của cơ quan, đơn vị. Theo đó, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động được bàn và quyết định 4 nhóm việc, gồm: (1) Bầu, cho thôi làm thành viên Ban Thanh tra nhân dân ở cơ quan, đơn vị; (2) thu, chi, quản lý, sử dụng các khoản đóng góp của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong cơ quan, đơn vị ngoài các khoản đóng góp đã được quy định; (3) nội dung nghị quyết hội nghị cán bộ, công chức, viên chức, người lao động; (4) các công việc tự quản khác trong cơ quan, đơn vị không trái với quy định của pháp luật, phù hợp với đạo đức xã hội. Các nội dung này được bàn và quyết định tại hội nghị cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trên những cơ sở nhất định, như đề xuất của Ban Chấp hành Công đoàn cơ quan, đơn vị, người đứng đầu cơ quan, đơn vị hoặc khi có ít nhất một phần ba (1/3) tổng số cán bộ, công chức, viên chức, người lao động của cơ quan, đơn vị cùng đề nghị… Trường hợp hội nghị đã được triệu tập đến lần thứ hai nhưng vẫn không có đủ số người tham dự theo quy định của Luật, thì người đứng đầu cơ quan, đơn vị sau khi thống nhất với Ban Chấp hành Công đoàn cơ quan, đơn vị quyết định tổ chức gửi phiếu lấy ý kiến của toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong cơ quan, đơn vị. Bên cạnh đó, Luật cũng quy định thời gian, thành phần, nội dung, trình tự tổ chức hội nghị cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và trách nhiệm trong tổ chức để cán bộ, công chức, viên chức, người lao động bàn, quyết định và thực hiện quyết định của tập thể cán bộ, công chức, viên chức, người lao động.

Thứ ba, vấn đề cán bộ, công chức, viên chức, người lao động tham gia ý kiến. Về vấn đề này, Luật đã quy định: (1) những nội dung cán bộ, công chức, viên chức, người lao động tham gia ý kiến trước khi người đứng đầu cơ quan, đơn vị quyết định; (2) hình thức cán bộ, công chức, viên chức, người lao động tham gia ý kiến; (3) trách nhiệm tổ chức để cán bộ, công chức, viên chức, người lao động tham gia ý kiến.

Thứ tư, vấn đề cán bộ, công chức, viên chức, người lao động kiểm tra, giám sát. Vấn đề này, Luật đã quy định: (1) nội dung và hình thức cán bộ, công chức, viên chức, người lao động kiểm tra, giám sát; (2) quy định những nội dung cơ bản về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân ở cơ quan, đơn vị.

Bốn là, về thực hiện dân chủ ở tổ chức có sử dụng lao động: Luật có 2 nhóm quy định cơ bản.

Thứ nhất, về thực hiện dân chủ trong doanh nghiệp nhà nước: Luật đã quy định khá cụ thể, chi tiết về việc THDC trong loại hình cơ sở này. Theo đó, Luật quy định: (1) việc công khai thông tin trong doanh nghiệp nhà nước, trong đó quy định cụ thể nội dung, hình thức, thời điểm công khai thông tin và trách nhiệm tổ chức thực hiện việc công khai thông tin tại doanh nghiệp nhà nước; (2) việc người lao động trong doanh nghiệp nhà nước bàn và quyết định, trong đó quy định cụ thể nội dung, hình thức người lao động bàn và quyết định, tổ chức hội nghị người lao động và trách nhiệm trong việc tổ chức để người lao động bàn, quyết định và thực hiện quyết định của tập thể người lao động; (3) việc người lao động trong doanh nghiệp nhà nước tham gia ý kiến, trong đó quy định cụ thể nội dung, hình thức người lao động tham gia ý kiến, tổ chức đối thoại tại nơi làm việc và trách nhiệm trong việc tổ chức để người lao động tham gia ý kiến; (4) việc người lao động trong doanh nghiệp nhà nước kiểm tra, giám sát, trong đó quy định cụ thể nội dung, hình thức người lao động kiểm tra, giám sát, tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn, hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân trong doanh nghiệp nhà nước và trách nhiệm trong việc bảo đảm để người lao động thực hiện kiểm tra, giám sát.

Thứ hai, về THDC trong doanh nghiệp, tổ chức khác có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động thuộc khu vực ngoài Nhà nước.

Bên cạnh các quy định cụ thể, chi tiết về việc THDC trong doanh nghiệp nhà nước, Luật cũng quy định về việc thực hiện dân chủ ở doanh nghiệp, tổ chức khác có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động thuộc khu vực ngoài Nhà nước theo hướng khái quát và viện dẫn áp dụng pháp luật. Theo đó, đối với doanh nghiệp, tổ chức khác có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động thuộc khu vực ngoài Nhà nước thực hiện theo các quy định chung của Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở, đồng thời thực hiện các quy định pháp luật lao động về THDC tại nơi làm việc và quy định khác của pháp luật có liên quan. Mặt khác, để khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức thuộc loại này, Luật thực hiện dân chủ ở cơ sở quy định tùy theo đặc điểm, tính chất tổ chức, hoạt động và điều kiện thực tế, tổ chức, doanh nghiệp được quyền lựa chọn áp dụng các quy định về THDC tại doanh nghiệp nhà nước theo quy định của Luật này và thông báo đến tổ chức Công đoàn tại doanh nghiệp, tổ chức cũng như công khai nội dung áp dụng để người lao động được biết.

Năm là, vấn đề trách nhiệm tổ chức thực hiện dân chủ ở cơ sở, Luật đã quy định tương đối cụ thể: (1) Trách nhiệm của Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ trong thực hiện chức năng quản lý nhà nước, bảo đảm thực hiện và tổ chức thực hiện Luật; (2) trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp xã trong tổ chức thực hiện dân chủ ở cơ sở trên phạm vi địa phương; (3) trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức Công đoàn và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc tham gia, hỗ trợ và làm nòng cốt để Nhân dân THDC ở cơ sở.

Sau khi Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở được ban hành, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng đã ban hành các văn bản QPPL để hướng dẫn, quy định chi tiết thi hành các quy định trong Luật này. Chẳng hạn, ngày 14/8/2023 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 59/2023/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở; tiếp đến ngày 16/8/2023 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 61/2023/NĐ-CP quy định về xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của cộng đồng dân cư,… Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2025), cùng các văn bản QPPL do các cơ quan nhà nước khác ban hành theo thẩm quyền đã quy định khá chi tiết, đầy đủ các yêu cầu của THDC.

Có thể khẳng định rằng, pháp luật và việc thực hiện pháp luật về THDC ở cơ sở có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Đó là công cụ, là cơ sở pháp lý để các cơ quan, đơn vị, tổ chức và cá nhân THDC ở cơ sở, qua đó góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng xã hội XHCN ở Việt Nam, đó là xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn một số vấn đề thuộc về THDC ở cơ sở chưa được pháp luật quy định rõ. Chẳng hạn, pháp luật hiện nay chưa quy định về xử phạt hành chính, xử lý kỷ luật đối với các hành vi vi phạm pháp luật THDC ở cơ sở; chưa có các quy định về THDC trong nội bộ các cơ quan của Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, các cơ quan của HĐND các cấp phù hợp với tính chất đặc thù trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan này,… Điều đó phần nào đang gây khó khăn, cản trở việc THDC trong các loại hình cơ sở ở Việt Nam, làm cho quá trình THDC ở cơ sở chưa được thực hiện một cách đồng bộ, đầy đủ trên tất cả các loại hình cơ sở,…

Chính vì vậy, để quán triệt quan điểm “đẩy mạnh thực hiện dân chủ trong xã hội, nhất là dân chủ ở cơ sở” (Đảng Cộng sản, 2026, T.1, tr.87) được nhấn mạnh tại Đại hội lần thứ XIV của Đảng, trong thời gian tới các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải nhanh chóng ban hành các văn bản QPPL về THDC theo quy định của Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (sửa đổi, bổ sung năm 2025), đồng thời tổ chức thực hiện kịp thời, nghiêm túc, đầy đủ quy định pháp luật về THDC ở cơ sở góp phần hoàn thiện quy định về THDC ở các loại hình cơ sở, bảo vệ chế độ chính trị dân chủ của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trước mọi hoạt động chống phá của các thế lực phản động, thù địch, phòng ngừa hiện tượng “tự diễn biến, tự chuyển hóa” mà Đảng đã từng cảnh báo.

TS. Tô Văn Châu

Viện Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Tài liệu tham khảo:

Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật. Hà Nội.

Quốc hội. (1946,1959,1980,1992,2013). Hiến pháp.

- Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, T.1, Hà Nội.