Người chuyển giới là một phần của xã hội và các quyền con người của họ cần được tôn trọng trong đó có quyền chuyển đổi giới tính. Pháp luật chưa công nhận quyền chuyển đổi giới tính góp phần làm tăng kỳ thị và phân biệt đối xử đối với họ, dẫn đến những hậu quả tiêu cực về sức khỏe và tâm lý. Việc chuyển đổi giới tính được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự năm 2015, quy định này chỉ mang tính lý thuyết, chưa được áp dụng được trên thực tế.

Ảnh minh họa. Nguồn: lsvn.vn
1. Đặt vấn đề
Hiện nay, pháp luật Việt Nam chỉ thừa nhận hai giới tính là nam giới và nữ giới, do đó những người thuộc cộng đồng người đồng tính, chuyển giới… đã thiếu vắng hành lang pháp lý về ghi nhận và bảo vệ quyền đối với xu hướng giới tính của họ. Xu thế hội nhập và phát triển đang là trào lưu và đòi hỏi các quốc gia, dân tộc trong sự phát triển của thời đại về tính nhân văn và bảo đảm quyền con người, pháp luật nhiều quốc gia đã ghi nhận quyền chuyển đổi giới tính, thừa nhận sự thay đổi giới tính, thừa nhận quyền nhân thân phù hợp với giới tính mới (về hộ tịch, dân sự, hôn nhân gia đình…), bảo đảm sự tương thích giữa quy định pháp luật quốc gia và quốc tế.
Liên quan đến quyền của người chuyển giới, Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc (Human Rights Committee) khuyến nghị các quốc gia “thừa nhận quyền của người chuyển giới được thay đổi giới tính của họ bằng cách cho phép cung cấp cho họ giấy chứng sinh mới”. Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên hợp quốc (Office of High Commissioner for Human Rights - OHCHR) cũng khuyến nghị các quốc gia cần “hỗ trợ thực thi quyền được thừa nhận về mặt pháp lý giới tính mà họ muốn của người chuyển giới và cung cấp những giấy tờ nhân thân chứng tỏ giới tính và tên gọi mà họ mong muốn”.
2. Nội dung
a) Khái quát về người chuyển giới và quyền của người chuyển giới
Vấn đề về người chuyển giới hay chuyển đổi giới tính đang là chủ đề nóng trong xã hội hiện nay, là đề tài trong nghiên cứu khoa học, báo giới, xã hội và thế giới nói chung luôn thu hút sự quan tâm rộng rãi. Có hai dạng người chuyển giới: một là, người chuyển giới nữ sang nam; hai là, người chuyển giới nam sang nữ. Do đó, có thể gọi là người chuyển giới đồng tính (nếu người chuyển giới từ nữ sang nam và chỉ yêu nam hoặc ngược lại) hoặc người chuyển giới song tính (nếu người chuyển giới từ nữ sang nam và có thể yêu cả hai nam và nữ) hoặc người chuyển giới dị tính (nếu người chuyển giới từ nam sang nữ và chỉ yêu nam hoặc ngược lại).
Có thể hiểu khái quát, nếu một người sinh ra và tự nhận mình mang giới tính giống với giới tính sinh học khi được sinh ra, có tình cảm, cảm xúc với người cùng giới tính với mình thì người đó là người đồng tính. Nếu người này có tình cảm với người khác giới tính với mình thì đó là người dị tính. Tuy nhiên nếu người nói trên tự nhận mình mang giới tính khác với giới tính sinh học khi được sinh ra thì đó là người chuyển giới. Do đó, nhu cầu mong muốn của một người có giới tính khác với giới tính khi sinh là điều bình thường. Bởi vì bản dạng giới nằm trong bốn bộ phận của tính dục (Giới tính sinh học - nhiễm sắc thể giới tính X và Y, ngoại hình, nội tiết tố; bản sắc giới - sự tự ý thức về bản thân mình thuộc giới nào; vai trò xã hội của giới - các hành vi, thái độ cư xử, thái độ ứng xử theo kiểu của nam hay của nữ; xu hướng tính dục - sở thích hay ham muốn quan hệ tình dục với một giới nào đó).
Có một số đặc điểm nhận dạng về người chuyển giới, bởi lẽ rằng khi dựa vào nhận thức này mới có cách nhìn nhận đầy đủ về người chuyển giới, các đặc điểm đó như sau:
Một là, một người khi sinh ra có giới tính sinh học hoàn chỉnh nghĩa là biết rõ được là nam hay nữ nhưng họ lại mang trong lòng nỗi phiền muộn về giới tính của họ, tức là họ lo lắng, khó chịu bởi giữa giới tính tự nhận và giới tính khi sinh có sự khác nhau;
Hai là, một người có nhận thức ngược lại với giới tính sinh học và không nhất thiết phải phẫu thuật chuyển giới thì cũng được gọi là người chuyển giới;
Ba là, việc cải trang cũng được xem là người chuyển giới, cải trang ở đây không phải việc phục vụ cho vai diễn, cho văn hóa nghệ thuật, mà họ cải trang vì lẽ rằng họ có nhận thức ngược lại với giới tính khi sinh nên họ cải trang mà không cần phẫu thuật chuyển giới (có thể gọi là ăn mặc chuyển giới).
Như vậy, người chuyển giới là người mong muốn có giới tính khác với giới tính sinh học khi sinh, có thể là phẫu thuật, liệu pháp hormone…không nhất thiết người chuyển giới phải trải qua phẫu thuật.
Quyền chuyển đổi giới tính
Hiện nay, Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 37) đã thừa nhận việc chuyển đổi giới tính là một trong những quyền cơ bản của công dân theo đúng tinh thần của Hiến pháp năm 2013. Song song với việc thừa nhận quyền chuyển đổi giới tính, Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng có những quy định để bảo đảm các quyền nhân thân cho người chuyển đổi giới tính. Những người đã chuyển đổi giới tính có quyền và nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch như họ, tên, giới tính… và những quyền nhân thân khác phù hợp với giới tính mới như kết hôn, nhận nuôi con nuôi…
Mặc dù pháp luật đã có hướng mở cho việc chuyển đổi giới tính, tuy nhiên, đây không phải là một quyền dân sự vô hạn như các quyền về danh dự, nhân phẩm, uy tín, tính mạng, sức khoẻ, thân thể, hình ảnh và các quyền nhân thân khác. Khi công dân thực hiện chuyển đổi giới tính đều phải tuân thủ chặt chẽ các quy định của pháp luật. Dự thảo Luật chuyển đổi giới tính được thông qua sẽ giúp người chuyển giới vượt qua được nhiều rào cản trong cuộc sống, đặc biệt các vấn đề liên quan tới pháp lý, thủ tục hành chính. Sự công nhận của pháp luật sẽ dẫn đến nhiều thay đổi tích cực trong các lĩnh vực khác như y tế, giáo dục, việc làm. Tại Việt Nam đã ghi nhận không ít các trường hợp liên quan đến thái độ kỳ thị trong lĩnh vực y tế, giáo dục, việc làm với người chuyển giới. Chỉ khi có hành lang pháp lý cụ thể, người chuyển giới mới có cơ hội được xã hội công nhận một cách bình đẳng hơn và được hưởng những quyền cơ bản của con người. Khi những rào cản pháp lý được tháo dỡ, những rào cản tâm lý cũng như định kiến cũng sẽ dần dần được cởi bỏ.
b) Bảo đảm quyền của người chuyển giới trong pháp luật một số quốc gia trên thế giới
* Pháp luật Hoa Kỳ
Ở Hoa Kỳ, không có quy định riêng về chuyển giới hay chuyển đổi giới tính. Pháp luật cũng không quy định cụ thể về đối tượng, độ tuổi, tâm lý, mà vấn đề này được điều chỉnh trong nhiều văn bản khác nhau ở cấp liên bang và tiểu bang. Nội dung điều chỉnh của pháp luật chủ yếu tập trung vào các vấn đề sau:
Thứ nhất, về công nhận quyền của người chuyển giới
Pháp luật Hoa Kỳ đã có những tiến bộ trong nhiều thập kỷ về đấu tranh đòi quyền bình đẳng cho người chuyển giới. Công nhận quyền của người chuyển giới được bảo đảm còn phụ thuộc vào pháp luật của từng bang khác nhau mà không có luật riêng cho cả liên bang. Người chuyển giới có quyền khiếu nại khi có sự phân biệt đối xử trong các lĩnh vực lao động, nhà ở, trường học (Bộ Giáo dục và Bộ Tư pháp Hoa kỳ ban hành công văn tới các trường mà chính phủ liên bang cấp kinh phí, khuyến nghị sử dụng tên và danh xưng phù hợp của học sinh, cho phép học sinh sử dụng nhà vệ sinh và phòng thay đồ phù hợp với bản dạng giới) và y tế (người chuyển giới gặp khó khăn về dịch vụ y tế để chuyển giới và bị phân biệt đối xử bởi người hành nghề y; Luật bảo hiểm y tế cho phép điều trị hormone và phẫu thuật chuyển đổi giới tính được bảo hiểm y tế công chi trả).
Thứ hai, quy định pháp luật về điều kiện thay đổi giới tính trên giấy tờ tùy thân
Quy định về hộ tịch thuộc thẩm quyền của các bang, nhưng chính chuyền liên bang đã ban hành Luật mẫu về hộ tịch năm 1977 (Model State Vital Statistics Act) quy định vấn đề cải chính giới tính (gender correction), quy định rằng người nào sinh ra ở Hoa Kỳ muốn thay đổi giới tính trên giấy khai sinh phải chứng minh rằng “giới tính của người đó đã được thay đổi thông qua phẫu thuật”. Sau đó, có 29 tiểu bang có luật quy định phẫu thuật là bắt buộc để được công nhận giới tính. Một số tiểu bang không có luật quy định nhưng có quy định điều kiện phẫu thuật trong văn bản dưới luật (bang Connecticut, Maine, Montana, North Dakota). Có bang luật quy định “điều trị y tế” (Virginia), có bang không quy định hoặc có quy định cấm việc cải chính giới tính.1
Trong những năm gần đây, một số bang ở Hoa Kỳ như Washington, Vermont và California đã sửa đổi các quy định pháp luật về công nhận giới tính mới của người chuyển giới phù hợp với xu hướng hiện đại trên thế giới, theo đó phẫu thuật không còn là điều kiện bắt buộc.2
- Bang Washington, quy định về quyền được công nhận giới tính sau khi chuyển giới được ban hành từ năm 2008. Theo đó, người đăng ký thay đổi giới tính phải nộp đơn yêu cầu và giấy xác nhận của bác sĩ điều trị hoặc bác sĩ chỉnh hình thể hiện đã trải qua điều trị phù hợp.
- Bang Vermont, năm 2011 quy định pháp luật về công nhận giới tính mới của người chuyển giới khi có yêu cầu cải chính giới tính trên giấy tờ hộ tịch. Theo đó, cá nhân đã trải qua phẫu thuật, điều trị hoóc-môn hoặc liệu pháp điều trị khác (điều trị về mặt tâm lý) thích hợp với người đó nhằm mục đích chuyển giới (gender transition).
- Bang California, năm 2011 Nghị viện của bang đã ban hành quy định về cải chính hộ tịch cho người chuyển giới, quy định “đã trải qua điều trị lâm sàng thích hợp nhằm mục đích chuyển giới”, đã bỏ quy định “điều trị bằng phẫu thuật”.
- Đối với pháp luật liên bang Hoa Kỳ, từ năm 2010 việc công nhận giới tính mới của người chuyển giới được thực hiện theo quy mới “người yêu cầu đã trải qua điều trị lâm sàng thích hợp nhằm mục đích chuyển giới và không bắt buộc phải phẫu thuật”. Đối với cải chính giới tính trên hộ chiếu, giấy khai sinh (do cơ quan lãnh sự Hoa Kỳ cấp cho công dân Hoa Kỳ ở nước ngoài) Bộ Ngoại giao không yêu cầu bằng chứng về phẫu thuật chuyển đổi giới tính.
Như vậy, quy định pháp luật về quyền được công nhận giới tính mới của người chuyển giới ở Hoa Kỳ, đa số các tiểu bang đều cho phép thay đổi họ tên, giới tính trên giấy khai sinh, giấy phép lái xe và thẻ căn cước. Nhưng, mỗi bang quy định khác nhau về điều kiện, thủ tục như có bang yêu cầu lệnh của Tòa án, có bang yêu cầu xác nhận của bác sĩ phẫu thuật.
Đa số tiểu bang bỏ quy định phẫu thuật để thay đổi giới tính trên giấy phép lái xe, đến năm 2015 chỉ còn sáu bang (Alabama, Kentucky, Missouri, Oklahoma, Pennsylvania, Virginia). Nhiều bang và thủ đô Washington D.C. còn cho phép sử dụng tờ khai giới tính để cá nhân tự kê khai giới tính chuyển đổi của mình, kèm theo xác nhận chuyên môn y tế về giới tính mới. Tờ khai và bản xác nhận là bằng chứng đầy đủ về giới tính.
Thứ ba, quy định pháp luật về thủ tục thay đổi giới tính trên giấy tờ tùy thân
Ở Hoa Kỳ, theo Luật mẫu về hộ tịch phải có lệnh của tòa án thì cơ quan hộ tịch mới thực hiện cải chính giới tính, tùy từng tiểu bang mà có thủ tục khác nhau cụ thể như: 22 bang quy định giống Luật mẫu, 19 bang quy định bản cam đoan hoặc bản khai của bác sĩ, 3 bang quy định lệnh của tòa hoặc bản khai, các bang khác không quy định rõ. Bang Vermont, California chỉ cần xác nhận bác sĩ hoặc cơ sở y tế. Ngoài ra, từ năm 2013 Cơ quan An sinh xã hội Hoa Kỳ đã ban hành quy định mới cho phép người dân thay đổi thông tin về giới tính trong hồ sơ an sinh xã hội của họ bằng việc nộp một văn bản do cơ quan nhà nước cấp thể hiện sự thay đổi giới tính, một lệnh của tòa án yêu cầu công nhận pháp lý đối với sự thay đổi giới tính, hoặc một bản xác nhận của bác sĩ rằng người đó đã được “điều trị lâm sàng thích hợp để chuyển giới”.
Như vậy, người chuyển giới ở Hoa Kỳ được pháp luật công nhận thay đổi giới tính trên giấy tờ tùy thân thông qua các thủ tục như: theo luật, cam đoan, xác nhận y tế, bản khai hoặc tuyên thệ.
* Pháp luật Nhật Bản
Tại Nhật Bản, đã thông qua Luật Đặc lệ năm 2003 về áp dụng giới tính của người được chẩn đoán rối loạn giới tính (hiệu lực từ năm 2004, sửa đổi năm 2008). Theo Luật này, cho phép thay đổi giới tính trên cơ sở một người được y học chẩn đoán rối loạn giới tính. Theo đó, để được Tòa án Gia đình đưa ra phán quyết thay đổi giới tính thì đòi hỏi những điều kiện3 (được cho là khắt khe), và sau khi Tòa án phán quyết thì mọi quan hệ pháp luật được công nhận với giới tính mới, được ghi nhận qua thông tin thay đổi trong hộ tịch, các điều kiện cụ thể như sau:
-
-
-
- Điều kiện về độ tuổi: người yêu cầu phải là “người thành niên” (theo quy định pháp luật Nhật Bản thì người thành niên là người từ 20 tuổi trở lên). Bởi lẽ, một khi đã chuyển đổi giới tính thì không thể quay lại giới tính cũ nên cần phải dựa trên ý chí đầy đủ về năng lực phán đoán của người đưa ra quyết định.4
- Điều kiện về tình trạng hôn nhân: người yêu cầu phải “không đang trong tình trạng hôn nhân”, quy định này phòng ngừa hôn nhân cùng giới, Nhật Bản không công nhận quan hệ đồng tính và hôn nhân cùng giới. Bởi lẽ, chứng bệnh phiền muộn giới tính được biết đến rộng rãi sau nghiên cứu năm 1996, trước thời điểm này xã hội tồn tại nhiều định kiến, phân biệt, nhiều người gồng mình để phù hợp giới tính sinh học, và không ít trường hợp đã kết hôn và sinh con.5
- Điều kiện về quan hệ gia đình: người yêu cầu phải “không có con chưa thành niên”. Lý do giải thích cho điều kiện này, xuất phát từ quan niệm mô hình gia đình truyền thống cha là đàn ông, mẹ là đàn bà; là vì cân nhắc đến quyền lợi đứa trẻ, chưa có nhận thức đầy đủ, đem lại bất an, rối loại tâm lý trẻ nhỏ, cho dù cha mẹ hạnh phúc điều đó không có nghĩa đương nhiên con cái sẽ được hạnh phúc, gia đình Nhật Bản hướng đến gia đình hạt nhân, quan hệ giữa cha mẹ và con chứ không hướng đến mô hình gia đình tứ đại đồng đường.6 Và án lệ của Tòa phúc thẩm Takamatsu tháng 10 năm 2010 đã đưa phán quyết rằng vì lý do có con chưa thành niên nên yêu cầu thay đổi giới tính của người được chẩn đoán rối loạn giới tính không được chấp nhận cho đến khi nào các con thành niên.7
- Điều kiện về phẫu thuật chuyển đổi giới tính: (i) tình trạng không có tuyến sinh dục hoặc mất chức năng tuyến sinh dục vĩnh viễn, điều kiện này dự liệu sự xáo trộn người sau thay đổi giới tính lại sinh con; (ii) có bề ngoài tạo hình cơ quan sinh dục giống với giới tính khác, điều kiện này dự liệu sự xáo trộn về xã hội. Như vậy, điều kiện có nghĩa rằng, bắt buộc phải thông qua phẫu thuật để chuyển đổi giới tính. Đến nay, vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về phẫu thuật hay không phẫu thuật khi chuyển đổi giới tính. Tuy nhiên, pháp luật Nhật Bản vẫn đề cao việc cân bằng lợi ích xã hội, nhằm muốn tránh sự hỗn loạn khi cần có sự phân biệt nam, nữ ở nơi công cộng…
-
-
Như vậy, quyền thay đổi giới tính hợp pháp thực hiện theo quy định của Luật Đặc lệ năm 2003. Theo đó, Nhật Bản phân biệt rõ hai vấn đề liên quan đến chẩn đoán và điều trị chứng rối loạn giới tính nhìn dưới góc độ y tế là giải pháp giúp những người bệnh thoát khỏi những dày vò tâm lý về ngoại hình, giúp người bệnh có thân thể phù hợp với giới tính theo mong muốn của họ.8
c) Giải pháp bảo đảm quyền của người chuyển giới theo pháp luật Việt Nam hiện nay
Một là, sửa đổi Điều 37 Bộ luật Dân sự năm 2015 theo hướng
- Thừa nhận chuyển đổi giới tính là một “quyền” như tất cả các quyền nhân thân khác của Mục “quyền nhân thân”, nhằm đảm bảo sự thống nhất các quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015, cũng như thừa nhận về mặt pháp lý một cách rõ ràng nhằm công nhận “chuyển đổi giới tính” là một “quyền”.
- Về thay đổi thông tin sau khi chuyển đổi giới tính, người chuyển đổi giới tính có quyền được thay đổi và ghi nhận lại giới tính mới một cách đồng bộ và thống nhất đối với tất cả những giấy tờ liên quan đến nhân thân mà cần có sự phân biệt về giới tính (không giới hạn ở vấn đề hộ tịch),9 mà còn được đăng ký thay đổi thông tin trên các giấy tờ khác có liên quan như hộ chiếu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, các loại giấy tờ về tài sản khác. Thiết nghĩ, tất cả các giấy tờ chứa thông tin về giới tính nên được cập nhật thay đổi, chứ không riêng về thay đổi vấn đề về hộ tịch, đảm bảo sự thống nhất và đồng bộ giữa các giấy tờ có thông tin giới tính với bản thân họ.
- Quy định về “đã chuyển đổi giới tính có quyền nhân thân phù hợp với giới tính mới”. Như vậy, quyền nhân thân có trước khi chuyển đổi giới tính thì giải quyết như thế nào để bảo đảm quyền lợi các bên thì chưa được đề cập. Quy định này cần sửa đổi theo hướng “việc chuyển đổi giới tính không làm chấm dứt quyền và nghĩa vụ, không làm thay đổi quyền nhân nhân của cá nhân được xác lập trước khi chuyển đổi giới tính”, nhằm bảo đảm các quyền nhân thân đã được xác lập khi tham gia quan hệ pháp luật trước khi chuyển đổi giới tính.
Hai là, sớm thông qua Dự án Luật chuyển đổi giới tính
3. Kết luận
Xuất phát từ những ghi nhận tiến bộ của pháp luật, những hạn chế, vướng mắc trong quy định của pháp luật, kết hợp tham khảo pháp luật các quốc gia trên thế giới, tác giả đề xuất giải pháp cụ thể đối với việc hoàn thiện pháp luật về công nhận quyền xác định lại giới tính và quyền chuyển đổi giới tính … Mỗi quốc gia có nền chính trị, văn hóa, hệ thống pháp luật riêng biệt để công nhận quyền đối với giới tính, nhưng cho dù là một văn bản luật hay một quy định nhỏ cũng thể hiện sự quan tâm của quốc gia đó về quyền con người, quyền công dân của quốc gia đó, sự thừa nhận giới tính pháp lý của người chuyển giới là bằng chứng về sự tiến bộ của các quốc gia về tôn trọng và bảo đảm quyền tự quyết về thân thể của người chuyển giới.
PGS.TS. Đoàn Thị Phương Diệp
Trường Đại học Kinh tế - Luật (ĐHQG Tp. Hồ Chí Minh)
NCS Nguyễn Thị Mỹ Linh
Trường Đại học Kinh tế - Luật (ĐHQG Tp. Hồ Chí Minh)
---
Tài liệu trích dẫn
- Lisa Mottet, Modernizing State Vital Statistics Statutes and Policies to Ensure Accurate Gender Markers on Birth Certificates: A Good Government Approach to Recognizing the Lives of Transgender People, 19 Mich. J. Gender & L.373, 2013, p.400-40
- Nguyễn Bích Thảo, Pháp luật về chuyển đổi giới ở Hoa Kỳ và gợi mở cho Việt Nam, Kỷ yếu hội thảo khoa học: Kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới về pháp luật chuyển đổi giới tính và bài học cho Việt Nam, NXB. Tri thức, Hà Nội, 2018, tr. 47.
- Khoản 1 Điều 3 Luật Đặc lệ 2003 (Nhật Bản).
- Shuhei Ninomiya, “Towards Family Law as a Pillar for Diversifying Lifestyles - Discussing Same-Sex Couples, Gender Chang”, Kagawa University Journal of Law, No. 1, 2/2013, p. 3
- Uekawa Ami, The Courage to Change Yourself of a Gender Dysphoric Person, Iwanamishinsho Publishing House, 2007, p. 130.
- Tsuruzawa, “Special Law on Gender Change - Discussion on Childlessness Condition”, Momoyamagakuin University Journal, No. 24, p. 15-1
- Nguyễn Thị Phương Châm, Pháp luật Nhật Bản liên quan đến thay đổi giới tính – Lý luận, thực tiễn và kinh nghiệm đối với Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới về pháp luật chuyển đổi giới tính và bài học cho Việt Nam, NXB. Tri thức, Hà Nội, 2018, tr.118.
- Nguyễn Thị Phương Châm, Ngô Thanh Hương, Nguyễn Quang Duy, “Pháp luật của Nhật Bản về thay đổi giới tính – Gợi mở phương hướng hài hòa với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015”, Tạp chí Luật học, số 4/2017, tr. 65.
- Đỗ Văn Đại, Ngô Thị Anh Vân, “Điều kiện và hệ quả của chuyển đổi giới tính trong pháp luật Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 11(315), 2016.